Lý Thái Tổ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lý Thái Tổ
Vua Việt Nam (chi tiết...)
Tượng Lý Thái Tổ.jpg
Tượng Lý Thái Tổ tại Hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội, dựng năm 2004
Hoàng đế nhà Lý
Trị vì 10091028
Tiền nhiệm Nhà Tiền Lê
Kế nhiệm Lý Thái Tông
Thông tin chung
Thê thiếp Linh Hiển hoàng hậu
Tên thật Lý Công Uẩn
Niên hiệu Thuận Thiên (順天)
Thụy hiệu Thần Vũ Hoàng Đế (神武皇帝)
Miếu hiệu Thái Tổ
Triều đại Nhà Lý
Thân phụ Hiển Khánh vương
Thân mẫu Minh Đức hoàng thái hậu
Sinh 8 tháng 3, 974
Từ Sơn, Bắc Ninh
Mất 31 tháng 3, 1028 (54 tuổi)
An táng Thọ Lăng
Tôn giáo Phật giáo

Lý Thái Tổ (chữ Hán: 李太祖, 8 tháng 3, 97431 tháng 3, 1028), húy là Lý Công Uẩn (李公蘊), là vị Hoàng đế sáng lập nhà Lý trong lịch sử Việt Nam, trị vì từ năm 1009 đến khi qua đời năm 1028.

Dưới triều nhà Tiền Lê, ông làm quan đến chức Điện tiền chỉ huy sứ (殿前指揮使), là một chức quan võ chỉ huy quân đội bảo vệ kinh đô Hoa Lư (華閭) bấy giờ. Ông được lực lượng của Đào Cam Mộc (陶甘沐) và sư Vạn Hạnh (萬行) tôn làm vua sau khi vua Lê Long Đĩnh qua đời. Dưới triều ông, triều đình trung ương được củng cố, các thế lực phiến quân bị đánh dẹp, kinh đô được dời từ Hoa Lư về thành Đại La (大羅) vào tháng 7 năm Thuận Thiên thứ hai (1010), và thành này được đổi tên thành Thăng Long (昇龍).

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Sinh ngày 12 tháng 2 năm Giáp Tuất (甲戌), niên hiệu Thái Bình (太平) năm thứ 5 triều Đinh (丁) [1] (tức ngày 8 tháng 3 năm 974 Tây lịch), là người ở hương Diên Uẩn (延蘊), châu Cổ Pháp (古法), lộ Bắc Giang (北江) (nay ở làng Dương Lôi[2], phường Tân Hồng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh có đền thờ).[3] Mẹ ông họ Phạm (范). Khi lên ba tuổi, mẹ ông đem ông cho Lý Khánh Văn (李慶文), sư chùa Cổ Pháp (古法) làm con nuôi và đi tu từ đó. Đến bảy tuổi, ông được cha nuôi là Lý Khánh Văn gửi cho một người bạn - thiền sư nổi tiếng là Vạn Hạnh (萬行) dạy dỗ.

Lớn lên, với sự bảo hộ của sư Vạn Hạnh, ông vào kinh đô Hoa Lư (華閭) làm quan nhà Tiền Lê, thăng đến chức Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ (左親衛殿前指揮使). Theo Đại Việt sử ký toàn thư, ông là người khoan thứ nhân từ, có lượng đế vương. Các sử gia ghi chép không thống nhất về nguồn gốc và thân thế của ông[2][4][5]. Ông đã được sư Vạn Hạnh ở chùa Lục Tổ (六祖) khen như sau:

Đứa bé này không phải người thường, sau này lớn lên ắt có thể giải nguy gỡ rối, làm bậc minh chủ trong thiên hạ.

Sư Vạn Hạnh[1]

Thời Tiền Lê[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Công Uẩn lớn lên thời Lê Đại Hành, ông theo giúp hoàng tử Lê Long Việt.

Năm 1005, Lê Đại Hành mất, các con tranh giành ngôi vua. Năm 1006, Lê Long Việt giành được ngôi báu, trở thành vua Lê Trung Tông. Nhưng chỉ được 3 ngày Trung Tông bị em là Lê Long Đĩnh giết hại giành ngôi. Lúc đó các quan đều sợ hãi bỏ chạy, chỉ có Lý Công Uẩn đến ôm xác Trung Tông khóc.

Lê Long Đĩnh không những không trị tội mà khen Lý Công Uẩn là người trung nghĩa, tiếp tục trọng dụng ông vào chức cho làm Tứ sương quân phó chỉ huy sứ, rồi sau đó thăng đến chức Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ.

Theo "Ngọc phả các vua triều Lê" ở các di tích cố đô Hoa Lư - Ninh Bình, Lý Công Uẩn hàng năm theo thiền sư Lý Vạn Hạnh vào hầu vua Lê ở thành Hoa Lư, Công Uẩn được vua yêu, cho ở lại kinh thành học tập quân sự. Vua lại gả con gái cả là Lê Thị... sinh ra Lý Phật Mã và đặc phong cho Công Uẩn làm Điện tiền cận vệ ở thành Hoa Lư. Dần dần, Công Uẩn thăng lên chức Điện tiền chỉ huy sứ. Chức ấy chỉ dành cho hoàng tộc hoặc quốc thích mới được trao. Chính nhờ vậy mà về sau, Lý Công Uẩn đã đem ngôi vua về cho họ Lý.[6]

Lên ngôi[sửa | sửa mã nguồn]

Các bộ sử cổ của Việt Nam như như Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thưKhâm định Việt sử Thông giám cương mục thống nhất chép rằng tháng 10 năm 1009, vua nhà Tiền LêLong Đĩnh mất, các con còn nhỏ, quan Điền tiền chỉ huy sứ là Lý Công Uẩn được sự ủng hộ của Chi nội là Đào Cam Mộc (陶甘沐) cùng thiền sư Vạn Hạnh đã lên ngôi hoàng đế; các quan trong triều đều nhất trí suy tôn[7][8]; thái hậu nhà Tiền Lê (vợ Lê Đại Hành) gọi ông vào cung mời lên ngôi vua[9].

Riêng trong sách Đại Việt sử ký tiền biên, sử gia Ngô Thì Sĩ ghi lại lời nghi vấn về việc Lý Công Uẩn giết Lê Long Đĩnh để đoạt ngôi[10]:

Lý Thái Tổ rất căm phẫn trước tội ác giết anh cướp ngôi của Khai Minh Vương, nhân lúc Khai Minh Vương bệnh tật, sai người vào đầu độc giết đi rồi giấu kín việc đó, nên sử không được chép, nếu quả như vậy, cũng là đạo Trời hay báo, nên chép phụ vào để làm răn

Đại Việt sử ký tiền biên

Sách Đại Việt sử ký toàn thư cũng chép thái độ của Lý Công Uẩn sau khi nghe Vạn Hạnh khuyên giành lấy ngai vàng, nhưng không nói tới việc giết Lê Long Đĩnh:

Công Uẩn sợ câu nói ấy tiết lộ, bảo người anh em đem Vạn Hạnh giấu ở Tiêu Sơn. Song từ đấy cũng lấy thế tự phụ, mới nảy lòng ngấp nghé ngôi vua

Đại Việt Sử ký Toàn thư[11].

Tuy nhiên, các bộ sử, kể cả Đại Việt sử ký tiền biên, đều ghi nhận việc trăm quan của triều đình cũ suy tôn Lý Công Uẩn khi ông lên ngôi và sử sách không ghi nhận một cuộc nổi dậy nào của những người nhân danh trung thành với nhà Tiền Lê để chống lại nhà Lý sau khi triều đại này hình thành.

Việt sử lược, quyển trung, "Nguyễn kỷ" (阮紀), "Thái Tổ" (太祖) có ghi chép:[12]

"Trong làng vua có cây bông gạo bị sét đánh, để dấu vết thành bài văn, trong đó có những câu:

Nguyên văn Hán văn:
樹根杳杳
木表青青
禾刀木落
十八子成
震宮現日
兌宮隠星
六七日間
天下太平
Phiên âm Hán Việt:
Thụ căn yểu yểu
Mộc biểu thanh thanh
Hòa đao mộc lạc
Thập bát tử thành
Chấn cung hiện nhật
Đoài cung ẩn tinh
Lục thất niên gian
Thiên hạ thái bình
Nguyễn Gia Tường dịch thơ:
Gốc rễ thăm thẳm
Vỏ cây xanh xanh
Lúa dao cây rụng
Mười tám hạt thành
Phương đông nhật mọc
Phương tây sao tàn
Khoảng sáu bảy năm
Thiên hạ thái bình "

Theo phép chiết tự chữ Hán, mấy câu này ẩn ý nhà Lê sẽ mất (cây rụng) và nhà Lý (thập () + bát () + tử () thành chữ ()) sẽ nổi lên. Sư Vạn Hạnh bèn nói với Lý Công Uẩn rằng: "Gần đây tôi thấy bài sấm văn lạ, biết nhà Lê đương mất mà nhà Lý đương lên. Họ Lý lại không có ai khoan hòa, nhơn hậu và trung thứ như ông, nên rất được lòng dân. Nay tuổi của tôi đã hơn 70 rồi, chỉ sợ không kịp thấy sự thịnh trị mà lấy làm giận". Lý Công Uẩn sợ lời nói tiết lộ ra nên bảo Vạn Hạnh vào ẩn ở Ba Sơn".

Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép bài thơ trên với đôi chút khác biệt, giữa câu "Thập bát tử thành" 十八子成 và "Chấn cung xuất nhật" 震宮出日 có thêm hai câu:

Nguyên văn chữ Hán:
東阿入地
異木再生
Phiên âm Hán Việt:
Đông A nhập địa
Dị mộc tái sinh
Dịch nghĩa:
Đông A vào đất
Cây khác lại mọc lên

Hai câu này có lẽ là do người đời sau thêm vào. Trong đó chữ "trần" 陳 có nghĩa là họ Trần bị chiết tự sai thành "đông a" 東阿.

Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Chính biên, Quyển I nêu lời phê về sấm truyền họ Lý sẽ làm vua như sau:

Bờ cõi Bắc Nam tuy có khác, nhưng vận hội vẫn như nhau: nhà Lê thì có chuyện khoác áo long cổn, nhà Lý thì lời sấm truyền ghi trên thân cây, sao mà giống chuyện với bên Tống thế! Hay là người làm sử thấy thế, gò ép gán gẩm vào với nhau để cho thần dị câu chuyện, chứ trời kia có ý làm ra như thế đâu?

Khâm định Việt sử Thông giám cương mục[13].

Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế tháng 11, ngày Quý Sửu, năm Kỷ Dậu[14] (tức 21 tháng 11 năm 1009), đặt niên hiệu là Thuận Thiên (順天, nghĩa là "theo ý trời"). Ông phong cha là Hiển Khánh Vương, mẹ là Minh Đức Thái hậu, chú là Vũ Đạo Vương, anh ruột là Vũ Uy Vương, em ruột là Dực Thánh Vương. Ông lập sáu vương hậu, con trưởng ông là Lý Phật Mã được phong Khai Thiên Vương, lập làm Thái tử. Các con trai khác của ông cũng được phong vương. Đồng thời, con gái lớn của ông là An Quốc công chúa Lý Thiềm Hoa được gả cho Đào Cam Mộc, Đào Cam Mộc cũng được phong Nghĩa Tín Hầu (義信侯).[12] Một người con gái khác là Lĩnh Nam công chúa là Lý Bảo Hòa cho động chủ Giáp Thừa Quý.

Trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

Dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long[sửa | sửa mã nguồn]

Cố đô Hoa Lư, nơi núi non hiểm trở

Đối với Lý Công Uẩn, ý tưởng tái lập nơi đặt bộ máy điều hành đất nước ở vị trí trung tâm đồng bằng sông Hồng là trung tâm kinh tế, chính trị văn hóa của đất nước đương thời hẳn đã hình thành từ lâu, nhưng thời điểm mang tính quyết định việc dời đô từ Hoa Lư về Đại La (大羅) có xuất phát điểm là chuyến thăm quê vào mùa xuân năm 1010. Ngay sau khi lên ngôi, ông đã về thăm quê và hình thành rất nhanh quyết định dời đô.Lý Thái Tổ thấy đất Hoa Lư, cố đô của Đại Cồ Việt chật hẹp không có thể mở mang ra làm chỗ đô hội được, bèn định dời đô về thành Đại La (hay La Thành), ngày nay là Hà Nội. Quyết định rời bỏ hẳn một kinh đô từ vùng núi non hiểm trở ra vùng đồng bằng có thể cho thấy bản lĩnh và tầm nhìn của vị hoàng đế khai sáng ra triều Lý và thủ đô Hà Nội của Việt Nam. Trong Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu), Lý Thái Tổ khẳng định làm thế không phải theo ý riêng như các cựu triều ĐinhTiền Lê, mà để mưu việc lớn, thấy thuận tiện thì thay đổi[15]. Cũng trong Chiếu dời đô, ông còn viết Thăng Long là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.

Đại Việt sử ký toàn thư ghi nhận:[1]

Bề tôi đều nói: "Bệ hạ vì thiên hạ lập kế dài lâu, trên cho nghiệp đế được thịnh vượng lớn lao, dưới cho dân chúng được đông đúc giàu có, điều lợi như thế, ai dám không theo". Vua cả mừng.

Tháng 7 năm Thuận Thiên thứ nhất (1010) thì khởi sự dời đô. Khi ra đến La Thành, ông lấy cớ có điềm trông thấy rồng vàng bay lên trời nên đổi tên Đại La thành sang Thăng Long thành (昇龍城), và cải Hoa Lư làm Trường An phủCổ Pháp làm Thiên Đức phủ.

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng thờ vua Lý Thái Tổ ở chùa Kiến Sơ, Gia Lâm, Hà Nội

Lý Thái Tổ vì xuất thân từ chùa chiền, nên sau khi lên ngôi rất hậu đãi giới tăng lữ. Vào năm 1010, sau khi đã dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, việc đầu tiên ông làm liền xuất ra 2 vạn quan để làm chùa ở phủ Thiên Đức (tức Cổ Pháp).[16]

Cùng năm, sau khi củng cố xây dựng Hoàng thành, ông lại chùa ngự Hưng Thiên và tinh lâu Ngũ Phượng. Ngoài thành về phía nam dựng chùa Thắng Nghiêm.

Tháng 6 năm Thuận Thiên thứ 9 (Mậu Ngọ 1018),[12] Lý Thái Tổ sai quan là Nguyễn Đạo ThanhPhạm Hạc sang nhà Tống (Trung Quốc) thỉnh kinh Tam Tạng đem về để vào kho Đại Hưng.[17]

Về việc này, Lê Văn Hưu nhận xét:...Lý Thái Tổ lên ngôi mới được 2 năm, tông miếu chưa dựng, đàn xã tắc chưa lập mà trước đã dựng tám chùa ở phủ Thiên Đức, lại trùng tu chùa quán ở các lộ và độ cho làm tăng hơn nghìn người ở Kinh sư, thế thì tiêu phí của cải sức lực vào việc thổ mộc không biết chừng nào mà kể

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Lúc bấy giờ nhà Tống của Trung Quốc bận nhiều việc nên không sinh sự lôi thôi gì với Đại Việt. Bởi vậy khi Lý Thái Tổ lên ngôi, sai sứ sang cầu phong, hoàng đế nhà Tống cho làm Giao Chỉ quận vương, sau lại gia phong làm Nam Bình vương vào năm 1017 (thời Tống Chân Tông). Các vương quốc láng giềng như Chiêm ThànhChân Lạp đều sang triều cống, cho nên việc bang giao thời bấy giờ được yên trị. Năm Thuận Thiên thứ 11 (Canh Thân 1020), ông lệnh cho con đem quân đi đánh Chiêm Thành, và giành chiến thắng.[12]

Vua Thái Tổ lưu tâm về việc sửa sang trong nước: đổi phép cũ của nhà Tiền Lê; chia nước ra làm 24 lộ, gọi Hoan ChâuÁi Châu là trại. Năm 1013, lại định ra 6 hạng thuế là: thuế ruộng, đầm, ao; thuế đất trồng dâu và bãi phù sa; thuế sản vật ở núi; thuế mắm muối đi quan Ải quan; thuế sừng tê giác, ngà voi và hương ở trên mạn núi xuống; thuế tre gỗ hoa quả. Ông cho những bậc công chúa coi việc trưng thu các thứ thuế ấy.

Lý Thái Tổ còn thực hiện chính sách "thân dân". Dưới triều ông, có nhiều lần nhân dân được xá thuế, chẳng hạn như tô thuế được xá 3 năm vào năm 1016. Đến năm 1017, tô ruộng cũng được xá.

Đánh dẹp[sửa | sửa mã nguồn]

Ở trong nước cũng có đôi ba nơi nổi lên làm loạn, như ở Diễn Châu (thuộc Nghệ An) và ở mạn thượng du hay có sự phản nghịch, nhà vua phải thân chinh đi đánh dẹp mới yên được. Thời bấy giờ các hoàng tử đều phong tước vương và phải cầm quân ra chiến trường, bởi vậy ai cũng giỏi nghề dùng binh.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, tháng Hai năm Tân Hợi (1011), tức là năm Thuận Thiên thứ hai, vua Lý Thái Tổ mang sáu quân đi phạt quân Cử Long ở Ái Châu. Quân Cử Long thất bại, bộ lạc bị đốt và người cầm đầu bị bắt và giải về.

Tháng 10 năm Thuận Thiên thứ 4 (Quý Sửu 1013), vua Thái Tổ thân chinh đánh quân Man ở châu Vị Long, quân ông giành chiến thắng.

Có lần ông đem quân đi đánh Diễn Châu. Khi ông về tới Vũng Biện, theo Đại Việt sử ký toàn thư "trời đất tối sầm, gió sấm dữ dội". Thấy vậy, ông đốt hương và khấn trời:

"Tôi là người ít đức, lạm ở trên dân, nơm nớp lo sợ như sắp sa xuống vực sâu, không dám cậy binh uy mà đi đánh dẹp càn bậy. Chỉ vì người Diễn Châu không theo giáo hóa, ngu bạo làm càn, tàn ngược chúng dân, tội ác chồng chất, đến nay không thể dung tha không đánh. Còn như trong khi đánh nhau, hoặc giết oan kẻ trung hiếu, hoặc hại lầm kẻ hiền lương, đến nỗi hoàng thiên nổi giận phải tỏ cho biết lỗi lầm, dẫu gặp tổn hại cũng không dám oán trách. Đến như sáu quân thì tội lỗi có thể dung thứ, xin lòng trời soi xét".

Sau khi ông khấn, gió sấm không còn dữ dội nữa và trở nên yên lặng.[1]

Năm Thuận Thiên thứ 5 (Giáp Dần 1014), được lệnh của Lý Thái Tổ, Dực Thánh Vương đánh dẹp quân Man. Theo Đại Việt Sử Lược, ở Lộ Kim Hoa, quân của Dự Thánh Vương đánh bại tướng Man là Đỗ Trương Huệ, chém vạn đầu giặc, bắt được quân sĩ và ngựa nhiều vô số. Ly Châu dâng con Kỳ Lân. Đổi phủ Ứng Thiên làm Nam Kinh. Chân Lạp sang cống. [12]

Năm Thuận Thiên thứ 13 (Nhâm Tuất 1022), ông ra lệnh cho Dực Thánh Vương đánh dẹp Đại Nguyên Lịch.

Năm Thuận Thiên thứ 15 (Giáp Tý 1024), Thái tử được lệnh ra quân đánh châu Phong Luân, còn Khai Quốc Vương thì đánh Châu Đô Kim. Thành Thăng Long được xây.

Năm Thuận Thiên thứ 18 (Mậu Thìn 1028), Thái tử lại được lệnh đánh châu Thất Nguyên, Đông Chinh Vương cũng đi đánh Châu Văn.[12]

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Đại Việt sử lược, năm Mậu Thìn 1028 (tức năm Thuận Thiên thứ 19), sức khỏe nhà vua không được tốt. Ông băng hà ở điện Long An[12] vào tháng 3, năm MậuMậu Tuất Thìn (tức ngày 31 tháng 3 năm 1028). Ông ở ngôi 19 năm, hưởng thọ 55 tuổi. Ông được táng ở Thọ Lăng, Thiên Đức phủ. Dâng miếu hiệuThái Tổ, thụy hiệuThần Vũ Hoàng đế (神武皇帝).

Khi còn tại vị, tôn hiệu của ông là Phụng Thiên Chí Lý Ứng Vận Tự Tại Thánh Minh Long Hiện Duệ Văn Anh Vũ Sùng Nhân Quảng Hiếu Thiên Hạ Thái Bình Khâm Minh Quảng Trạch Chương Minh Vạn Bang Hiển Ứng Phù Cảm Uy Chấn Phiên Man Duệ Mưu Thần Trợ Thánh Trị Tắc Thiên Đạo Chính Hoàng Đế.

Nối ngôi[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Lý Thái Tổ vừa qua đời, việc tế táng lại chưa hoàn tất, thì ba hoàng tử Võ Đức Vương, Dực Thánh Vương và Đông Chinh Vương cùng quân sĩ vây hãm thành, nhằm mục đích cướp ngôi Thái Tử.[17] Được sự giúp đỡ của Lê Phụng Hiểu,[18] Thái tử Lý Phật Mã lên nối ngôi, tức là vua Lý Thái Tông – vị vua thứ hai của nhà Lý.

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Vũ Uy vương (武威王)
  2. Dực Thánh vương (翊聖王). Có sách ghi là con trai.[19]
  • Hậu phi: Thái Tổ lập 9 hoàng hậu, trong đó có một số người được sử ghi danh hiệu[20]:
  1. Linh Hiển hoàng hậu (靈顯皇后, ? - ?), tên là Lê Phất Ngân (黎佛銀), có thuyết là con của Lê Hoàn, là mẹ của Thái tử Lý Phật Mã[21][22][23].
  2. Tá Quốc hoàng hậu (佐國皇后).
  3. Lập Nguyên hoàng hậu (立元皇后).
  4. Lập Giáo hoàng hậu (立教皇后).

Còn lại đều không rõ tên họ.

  • Hậu duệ: Ít nhất 8 hoàng tử, 13 công chúa.
  1. Thái Tông hoàng đế Lý Phật Mã [李佛瑪], còn có tên là Lý Đức Chính [李德政], Khai Thiên vương Hoàng thái tử (開天王 皇太子), phong năm 1009. Mẹ Linh Hiển hoàng hậu.
  2. Khai Quốc vương Lý Bồ [開國王 李菩], phong năm 1013, ở phủ Trường Yên.
  3. Đông Chinh vương Lý Lực [東征王 李力], phong năm 1018.
  4. Vũ Đức vương (武德王, ? - 1028). Khởi đầu loạn Tam vương, bị Lê Phụng Hiểu chém chết.
  5. Uy Minh vương Lý Nhật Quang [李日光], còn có tên Lý Hoảng [李晃]. Theo《Việt Điện U Linh tập》, mẹ là Linh Hiển hoàng hậu.
  6. An Quốc công chúa (安國公主), gả cho Đào Cam Mộc (陶甘沐).

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng Lý Thái Tổ và Lý Thái Tông ở đền Lý Bát Đế

Các sử gia phong kiến Việt Nam theo quan điểm Nho giáo có chê trách ông ở mặt quá sùng tín vào đạo Phật, chê trách cơ cấu tổ chức của triều đình ông không phù hợp với quan niệm của họ.

Sử gia Lê Văn Hưu phê bình trong Đại Việt sử ký:

Lý Thái Tổ lên ngôi mới được 2 năm, tông miếu chưa dựng, đàn xã tắc chưa lập mà trước đã dựng tám chùa ở phủ Thiên Đức, lại trùng tu chùa quán ở các lộ và độ cho làm tăng hơn nghìn người ở Kinh sư, thế thì tiêu phí của cải sức lực vào việc thổ mộc không biết chừng nào mà kể. Của không phải là trời mưa xuống, sức không phải là thần làm thay, há chẳng phải là vét máu mỡ của dân ư? Vét máu mỡ của dân có thể gọi là làm việc phúc chăng? Bậc vua sáng nghiệp, tự mình cần kiệm, còn lo cho con cháu xa xỉ lười biếng, thế mà Thái Tổ để phép lại như thế, chả trách đời sau xây tháp cao ngất trời, dựng cột chùa đá, điện thờ Phật, lộng lẫy hơn cung vua. Rồi người dưới bắt chước, có kẻ hủy thân thể, đổi lối mặc, bỏ sản nghiệp, trốn thân thích, dân chúng quá nửa làm sư sãi, trong nước chỗ nào cũng chùa chiền, nguồn gốc há chẳng phải từ đấy?

sách này không còn, dẫn lại theo Đại Việt sử ký toàn thư.[1]

Cũng trong Đại Việt sử ký, Lê Văn Hưu so sánh:

Có người hỏi: Lê Đại Hành với Lý Thái Tổ ai hơn? Thưa rằng: Kể về mặt trừ dẹp gian trong, đánh tan giặc ngoài, làm mạnh nước Việt ta, ra oai với người Tống thì Lý Thái Tổ không bằng Lê Đại Hành có công lao gian khổ hơn. Nhưng về mặt tỏ rõ ân uy, lòng người suy tôn, hưởng nước lâu dài, để phúc cho con cháu thì Lê Đại Hành không bằng Lý Thái Tổ lo tính lâu dài hơn. Thế thì Lý Thái Tổ hơn ư? Đáp: Hơn thì không biết, chỉ thấy đức của họ Lý dày hơn họ Lê, vì thế nên nói theo họ Lý.

sách này không còn, dẫn lại theo Đại Việt Sử ký Toàn thư,[11]

Sử thần Ngô Sĩ Liên soạn bộ Đại Việt sử ký toàn thư bình rằng:

Lý Thái Tổ dấy lên, trời mở điềm lành hiện ra ở vết cây sét đánh. Có đức tất có ngôi, bởi lòng người theo về, lại vừa sau lúc Ngọa Triều hoang dâm bạo ngược mà vua thì vốn có tiếng khoan nhân, trời thường tìm chủ cho dân, dân theo về người có đức, nếu bỏ vua thì còn biết theo ai! Xem việc vua nhận mệnh sâu sắc lặng lẽ, dời đô yên nước, lòng nhân thương dân, lòng thành cảm trời, cùng là đánh dẹp phản loạn, Nam Bắc thông hiếu, thiên hạ bình yên, truyền ngôi lâu đời, có thể thấy là có mưu lược của bậc đế vương. Duy có việc ham thích đạo Phật, đạo Lão là chỗ kém.

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư[1].

Khâm định Việt sử Thông giám cương mục chính biên quyển thứ 2 nhận định:

Nhà Lý được nước, cũng không phải chính nghĩa cho lắm, nhưng đương buổi Lê Ngoạ Triều, lòng người lìa tan, sinh dân vô chủ, không về với Công Uẩn còn biết theo ai?

Khâm định Việt sử Thông giám cương mục [13].

Vinh danh[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Thái Tổ và các vị vua nhà Hậu Lý được thờ ở đền Đô tỉnh Bắc Ninh. Hiện nay, có một ngôi đền thờ riêng ông được xây dựng từ vốn các công trình 1000 năm Thăng Long do Hà Nội kết hợp với Ninh BìnhĐền Vua Lý Thái Tổ đặt tại trung tâm khu di tích Cố đô Hoa Lư.

Nhiều địa phương lấy tên ông đặt cho một số đường phố: đường Lý Thái Tổ ở Bắc Ninh, phố Lý Thái Tổ ở Hà Nội, phố Lý Công Uẩn ở Hải Dương… Tại Hà Nội và Bắc Ninh đều có dựng tượng đài ông.

Tiến tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, Ban Chỉ đạo quốc gia kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội và nhiều đơn vị đã lên kế hoạch làm phim về Lý Công Uẩn với quy mô lớn như các bộ phim Chiếu dời đô, Đường tới thành Thăng Long, người con của rồng,...

Năm 2004, một tượng đài Lý Thái Tổ được xây dựng tại trục đ­ường Đinh Tiên Hoàng thuộc khu vực vườn hoa Chí Linh, Hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội theo mẫu của nhà điêu khắc Vi Thị Hoa, bằng đồng (nặng 14 tấn, cao 3,3 m) thuộc dạng công trình chào mừng kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội. Tuy nhiên, theo một số ý kiến cho rằng "tượng vua nước Nam nhìn lại giống... Tần Thủy Hoàng", với trang phục giống của Tần Thủy Hoàng và "khi rời đô về Thăng Long Lý Thái Tổ mới 36 tuổi nhưng gương mặt vua Lý trong tượng như ngoài 60" [24]. Bà Vi Thi Hoa cho biết là không có tài liệu vật thể nào về khuôn mặt, trang phục của Lý Thái Tổ và "Chúng tôi sáng tác mang tính ước lệ"[24].

Tháng 8 năm 2011, chiếc tàu hộ tống mang tên lửa lớp Gepard 3.9 (Project 11661E) thứ hai của Hải quân nhân dân Việt Nam - HQ 012 - được đặt tên là Lý Thái Tổ.

Trong điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Hình tượng Lý Công Uẩn đã được thể hiện qua nhiều bộ phim truyền hình và điện ảnh nhân dịp Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội:

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d Đại Việt sử ký toàn thư, Bản Kỷ Toàn Thư, Quyển 2, Kỷ nhà Lý, Mục Thái Tổ Hoàng đế.
  2. ^ a ă Hiện các nhà sử học vẫn còn chưa có kết luận cuối cùng về làng nào trong số các làng thuộc hương Cổ Pháp là quê hương của Lý Công Uẩn. Nhà sử học Nguyễn Quang Ngọc có trích dẫn các nghiên cứu của nhà sử học Trần Quốc Vượng cho rằng quê cha của Lý Công Uẩn là làng Dương Lôi. Ngày nay ở đây vẫn còn đền thờ 8 vị vua nhà Lý. Làng có 8 giáp, mỗi giáp thờ 1 vị vua nhà Lý. Trần Quốc Vượng cũng xác định rằng mộ của Hiển Khánh Vương, cha của Lý Công Uẩn, nằm tại khu Rừng Miễu, làng Dương Lôi. Còn quê mẹ Lý Công Uẩn, cũng theo Nguyễn Quang Ngọc trích dẫn bia Lý gia linh thạch tại chùa Tiêu, là xã Hoa Lâm, Đông Ngàn, phủ Từ Sơn xưa (nay thuộc xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội). Khu Thọ Lăng (là nơi chôn cất các vua nhà Lý) xưa là nơi cả 3 làng Đình Bảng, Dương Lôi, và Đại Đình được giao chăm sóc, mới chỉ thuộc về địa phận của làng Đình Bảng khoảng 100 năm nay. (Nguyễn Quang Ngọc, Góp phần nhận diện lại quê hương Nhà Lý, tham luận tại hội thảo "Những phát hiện khảo cổ học mới ở Đông Anh (Hà Nội) và vấn đề quê hương nhà Lý", Hà Nội, 27 tháng 12 năm 2008.)
  3. ^ Châu là đơn vị hành chính thời Lý như cấp huyện hiện nay. Châu Cổ Pháp tương ứng với vùng Từ Sơn, Tiên Du bây giờ. Hương Diên Uẩn không rõ là nơi nào trong châu Cổ Pháp.
  4. ^ Đại Việt Sử ký Toàn thư, Bản kỷ, quyển II, Kỷ nhà Lý, Thái Tổ hoàng đế, trang 240 chép: "Thái Tổ hoàng đế, họ Lý, tên húy là Công Uẩn, người châu Cổ Pháp Bắc Giang, mẹ họ Phạm, đi chơi chùa Tiêu Sơn cùng với người thần giao hợp rồi có chửa, sinh vua ngày 12 tháng Hai năm Giáp Tuất (974), niên hiệu Thái Bình năm thứ 5 thời Đinh. Lớn lên làm quan nhà Lê, thăng đến chức Điện tiền chỉ huy sứ. Khi Ngọa Triều băng, tự lập làm vua... là người khoan thứ nhân từ, tinh tế hòa nhã có lượng đế vương. Song chưa làm sáng chính học, lại ưa thích dị đoan, bị lụy vì chuyện đó."
  5. ^ Đại Việt sử ký tiền biên, bản kỷ, quyển II, trang 192 chép rằng: "Theo bài Tiêu Sơn tự ký thì Thái hậu cảm thụ tinh con khỉ bạch mà sinh ra vua ở chùa này, sư Vạn Hạnh đưa về nuôi. Theo ngoại truyện thì: mẹ vua năm 20 tuổi, do nghèo túng lam lũ không có chồng, nương tựa vào vị sa môn già ở chùa Ứng Thiên cho làm việc nấu bếp, đêm đêm dậy đồ xôi. Một hôm bà ngủ quên, lửa tắt, sa môn vô tình chạm phải, giật mình tỉnh dậy thấy lòng xáo trộn rồi có thai, bị sa môn đuổi đi, bà vào chùa khác, đủ tháng thì sinh ra vua... Vua lúc bé thông minh, vẻ người tuấn tú khác thường, khi 7 tuổi Khánh Văn gửi nhờ sư Vạn Hạnh ở chùa Lục Tổ dạy cho học".
  6. ^ NGỌC PHẢ CÁC VUA TRIỀU LÊ, Trần Bá Chí, đăng trên Báo Hán Nôm của VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM - VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM, năm 2010
  7. ^ Đại Việt Sử ký Toàn thư Bản kỷ, quyển II, Kỷ nhà Lý, Thái Tổ hoàng đế
  8. ^ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Chính biên quyển 2
  9. ^ Ngô Thì Sĩ, sách đã dẫn, tr 225
  10. ^ Ngô Thì Sĩ, sách đã dẫn, tr 223
  11. ^ a ă Đại Việt Sử ký Toàn thư, Bản kỷ, Kỷ nhà Lê, Đại Hành hoàng đế
  12. ^ a ă â b c d đ Đại Việt sử lược: Quyển nhị: Vua Thái Tổ
  13. ^ a ă Khâm Định Việt sử Thông giám Cương mục, Chính biên, quyển II
  14. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Bản Kỷ Toàn Thư, Quyển 1, Kỷ nhà Lê, Mục Ngọa Triều Hoàng đế.
  15. ^ Chiếu dời đô có đoạn: Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời, theo nản dịch của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, in trong Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993.
  16. ^ ĐVSKTT Mùa thu, tháng 7, Thuận Thiên năm thứ 1 [1010], Xuống chiếu phát tiền kho 2 vạn quan, thuê thợ làm chùa ở phủ Thiên Đức, tất cả 8 sở, đều dựng bia ghi công"
  17. ^ a ă Việt Nam Sử Lược, Chương IV: Nhà Lý (1010 - 1225)
  18. ^ Theo Việt Nam Sử Lược, "Bấy giờ các quan là bọn Lý nhân Nghĩa xin Thái-tử cho đem quân ra thành quyết được thua một trận. Khi quân của Thái-tử và quân các vương đối trận, thì quan Võ-vệ tướng-quân là Lê phụng Hiểu rút gươm ra chỉ vào Võ-đức-vương mà bảo rằng: "Các người dòm-ngó ngôi cao, khinh-dể tự-quân, trên quên ơn Tiên-đế, dưới trái nghĩa tôi con, vậy Phụng Hiểu xin dâng nhát gươm này!" Nói xong chạy xông vào chém Võ-đức-vương ở trận tiền. Quân các vương trông thấy sợ-hãi bỏ chạy cả. Dực-thánh-vương và Đông-chinh-vương cũng phải chạy trốn."
  19. ^ [ĐVSKTT ghi: Soát lại việc Lý Công Uẩn phong tước ghi tại đây, ngờ toàn thư chép sót về người được phong là Dực Thánh Vương. Đại Việt sử lược (q.2, tờ 2b) ghi vua phong "cho anh làm Vũ Uy Vương, phong cho em làm Dực Thánh Vương". Cương mục (CB2, 8a) không thấy dẫn Đại Việt sử lược, nhưng dẫn Nam Thiên trung nghĩa lục (của Phạm Phi Kiến) nói Dực Thánh Vương là con thứ của Lý Thái Tổ. Phối hợp cả Toàn thư ghi tại đây là Đại Việt sử lược, ngờ Cương mục chú nhầm.]
  20. ^ Lý Thái Tổ có đến…9 bà Hoàng hậu, PV - Báo Phụ nữ, ngày 06/06/2011
  21. ^ Sử không xác định bà có phải chính là một trong 3 người có danh hiệu Tá Quốc, Lập Nguyên và Lập Giáo hay không
  22. ^ 4 đền, chùa cầu duyên linh thiêng nức tiếng gần xa - 3. Chùa Duyên Ninh, Kim Giang, Tờ báo Công ty cổ phần truyền thông Việt Nam, ngày 09-02-2011
  23. ^ Vua Lý Thái Tổ làm rể vua Lê Đại Hành, Lê Thái Dũng, Bảo tàng lịch sử Việt Nam, 13/09/2011
  24. ^ a ă Khó khởi công xây dựng tượng đài Lý Thái Tổ vào dịp 10/10

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]