Địch Thanh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Địch Thanh

Địch Thanh (tiếng Trung: 狄青, 1008 - 1057), tự Hán Thần (漢臣), là tướng nhà Tống trong lịch sử Trung Quốc.

Địch Thanh người Tây Hà, Phần Châu[1] thời Bắc Tống (nay thuộc huyện cấp thị Phần Dương, tỉnh Sơn Tây). Ông là người xuất thân bần hàn nhưng giỏi việc cưỡi ngựa bắn cung. Ông cũng được đưa vào bội phim truyền hình Bao Thanh Thiên do Đài Loan sản xuất năm 1993.

Thăng tiến[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Bảo Nguyên thứ nhất thời Tống Nhân Tông (1038) ông nhận chức Duyên Châu (延州) Chỉ huy sứ, vừa gan dạ lại có mưu kế nên trong thời gian Chiến tranh Tống-Hạ (1040-1042), mỗi khi ra trận ông đều đeo mặt nạ bằng đồng để xung phong nơi trận tiền, lập được nhiều chiến công.

Năm Khang Định thứ nhất, được Doãn Thù tiến cử, ông được Thiểm Tây Kinh lược sứ là Hàn Kỳ, Phạm Trọng Yêm đích thân khen thưởng. Phạm Trọng Yêm trao cho ông cuốn Tả thị Xuân Thu và nói rằng "将不知古今, 匹夫勇尔" (tướng bất tri cổ kim, thất phu dũng nhĩ, nghĩa là làm tướng mà không hiểu chuyện xưa nay thì cũng chỉ là người tầm thường có lòng dũng cảm mà thôi)[1]. Bị chọc tức bởi câu nói này, ông đã kiên trì đọc sách để tinh thông binh pháp thời Tần-Hán[1]. Do gan dạ, dũng cảm, lập nhiều chiến công nên ông thăng tiến nhanh trên con đường làm quan, từ Tần Châu Thứ sử, qua Huệ Châu Đoàn luyện sứ, Bộ quân Phó đô chỉ huy sứ tới Mã quân Phó đô chỉ huy sứ[1].

Tháng sáu năm Hoàng Hữu thứ tư (1052), ông được thăng tới Khu mật phó sứ[1]. Sau khi giành thắng lợi trong cuộc chiến với Nùng Trí Cao, ông được phong làm Khu mật sứ, người đứng đầu của Khu mật viện, một cơ quan ngang hàng với Trung thư Môn hạ, chuyên quản lý việc binh.

Chiến tranh với Đại Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1052, tại khu vực Quảng Tây, Nùng Trí Cao khởi binh, tự xưng là Nhân Huệ hoàng đế của Đại Nam quốc, đem quân công phá nhiều thành trì của nhà Tống tại khu vực Quảng Đông, Quảng Tây và đã lên kế hoạch tấn công lên Hồ Nam. Quân Tống liên tục thua trận và triều đình nhà Tống rơi vào khủng hoảng do không ai nghĩ ra được phương sách gì.

Mới nhậm chức được 3 tháng, Khu mật phó sứ Địch Thanh đã dâng biểu xin đem quân đi chinh phạt. Tống Nhân Tông cả mừng, phong ông làm Tuyên Huy Nam viện sứ, Tuyên phủ Kinh Hồ Nam Bắc lộ, Kinh chế Quảng Nam đạo tặc sự, tự thân thiết yến để tiễn đưa ông tại điện Thùy Củng.

Đầu năm 1053, Địch Thanh dẫn quân tới và hợp quân với Dư Tĩnh cùng Tôn Miện ở Tân Châu[2] rồi hội các tướng lại, chấn chỉnh quân lệnh, cấm không cho ra đánh nhau với Nùng Trí Cao. Quan kiềm hạt tỉnh Quảng Tây là Trần Thự trái tướng lệnh, đem quân ra đánh bị thua, Địch Thanh đem chém đi, rồi lệnh cho quân nghỉ 10 ngày. Quân do thám biết chuyện về báo cho Trí Cao biết. Trí Cao tưởng là quân nhà Tống sợ hãi không dám đánh và thế là lơ là mất cảnh giác, không thèm phòng bị. Đêm Thượng nguyên, Địch Thanh chia quân thành tiền, trung, hậu hỏa tốc xuất kích đến Côn Lôn quan (gần phủ Nam Ninh) đánh Nùng Trí Cao. Lúc đang đánh nhau, Địch Thanh lại đem kị binh đánh hai bên tả hữu áp lại, quân của Trí Cao tan vỡ, tướng dưới quyền là Hoàng Sư Mật và 57 người tử trận[3]. Quân Tống đuổi theo giết hơn 2.200 quân của Nùng Trí Cao làm ông này phải đốt thành bỏ chạy. Sau chiến thắng, ông được phong chức Khu mật sứ[1].

Bãi quan[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi nhận chức Khu mật sứ, chức vụ võ quan tối cao khi đó, cộng với chiến công lẫy lừng nên trong triều nhiều quan lại tỏ ra ghen ghét, nghi ngờ và đàn hặc ông, như Ngự sử Trung thừa Vương Cử Chánh, Hữu ti gián Giả Ảm, Ngự sử Hàn Chí, Thượng thư Âu Dương Tu, Đồng trung thư môn hạ Bình chương sự Văn Ngạn Bác v.v, cho rằng ông thao túng triều đình và có khả năng gây ra nguy hiểm cho nhà Tống, giống như điều Tống Thái Tổ đã từng làm với Hậu Chu Cung Đế.

Tháng 8 năm Gia Hữu thứ nhất (1056), sau gần 4 năm đảm nhận chức Khu mật sứ, ông bị bãi chức, điều tới Trần Châu[1], rời xa kinh đô. Trước khi ông rời khỏi kinh đô, Tống Nhân Tông còn ban thêm cho ông hàm Đồng trung thư môn hạ Bình chương sự (Tể tướng)[1], vì thế dân gian mới có câu "tòng sĩ binh đáo Nguyên soái, tòng bố y đáo Tể tướng" để nói về ông. Tuy vậy, triều đình vẫn tiếp tục cho người giám sát ông, với việc mỗi nửa tháng lại cho người tới, về mặt danh nghĩa là hỏi thăm sức khỏe, nhưng thực ra là để giám sát. Sau đó ông bị mắc bệnh "sợ hãi suốt ngày" nên chưa tới nửa năm đã phát bệnh mà chết, vào tháng 2 âm lịch năm 1057, hưởng dương 49 năm, thụy Võ Tương. Tống sử chép rằng ông bị ung thư phát ra mồm mà chết (明年二月,疽發髭,卒: minh niên nhị nguyệt, thư phát tì, tốt nghĩa là tháng 2 năm mới, ung thư phát ra đằng mồm mà chết.)[1].

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e ê Tống sử: Liệt truyện, quyển 290, Địch Thanh truyện
  2. ^ Nay là Liễu Châu, Quảng Tây
  3. ^ Việt sử Thông giám cương mục chép là hơn 100 người