Đường Vũ Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đường Vũ Tông
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Tang Wuzong.jpg
Hoàng đế nhà Đường
Trị vì 20/2/840[1][2] - 22/4/846
Tiền nhiệm Đường Văn Tông
Kế nhiệm Đường Tuyên Tông
Thông tin chung
Tên húy Lý Triền
Lý Viêm
Niên hiệu Hội Xương: 27/1/841[1][3]-21/1/847[1][4]
Thụy hiệu Vũ Tông Chí Đạo Chiêu Túc hoàng đế
Miếu hiệu Vũ Tông
Triều đại Nhà Đường
Thân phụ Đường Mục Tông
Thân mẫu Vi hoàng hậu
Sinh 2/7/814[1][2]
Mất 22/4/846[1][2]
An táng Đoan lăng

Đường Vũ Tông (chữ Hán: 唐武宗, bính âm: Tang Wuzong, 2 tháng 7 năm 814 - 22 tháng 4 năm 846[1]), thụy hiệu đầy đủ là Chí Đạo Chiêu Túc hoàng đế (至道昭肅孝皇帝), tên thật là Lý Triền (李瀍) hay Lý Viêm (李炎, đổi ngay trước khi chết), là vị hoàng đế thứ 16 hay 18[5] của triều đại nhà Đường trong lịch sử Trung Quốc.

Đường Vũ Tông là con trai thứ năm của Đường Mục Tông Lý Hằng, sinh mẫu là Vi thị (sau truy phong Tuyên Ý hoàng hậu)[2], em trai của Đường Kính TôngĐường Văn Tông. Ông được các hoạn quan ủng hộ lên ngôi sau cái chết của người anh là Đường Văn Tông Lý Ngang và tại vị được 6 năm (840 - 846). Trong thời gian này, tình hình triều chính có vài điểm khởi sắc với việc Vũ Tông bổ nhiệm tể tướng tài là Lý Đức Dụ, còn về mặt quân sự, nhà Đường đã khống chế phần nào nạn phiên trấn và đẩy lui cuộc tấn công của Hồi Cốt (843), tuy nhiên Vũ Tông cũng không thể cứu vãn một triều đại đang trên đường suy tàn. Về kinh tế xã hội, Vũ Tông ra sức đàn áp tôn giáo, nhất là Đạo Phật, gây nên một vụ trấn áp lớn mà Phật giáo xưng là Pháp nạn Hội Xương (845). Ông qua đời vào tháng 4 năm 846 ở tuổi 32.

Trước khi lên ngôi[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Triền là con trai thứ năm của Đường Mục Tông Lý Hằng, hoàng đế thứ 14 của triều Đường. Ông chào đời vào ngày 12 tháng 6 ÂL năm Nguyên Hòa thứ sáu (tức 2 tháng 7 năm 814[1] dưới thời tổ phụ là Đường Hiến Tông Lý Thuần) tại Đông cung, vì khi đó Mục Tông còn đang là hoàng thái tử[2]. Mẹ ông là Vi thị, không rõ sinh và mất năm nào.

Năm 820, Đường Hiến Tông băng hà, Đường Mục Tông (820 - 824) lên ngôi. Năm 821, Mục Tông đồng loạt phong vương cho các con và một số người em, trong đó Lý Triền được sắc phong là Dĩnh vương>[6]. Sử sách ghi chép không nhiều về những hành trạng của Lý Triền dưới thời vua cha Mục Tông và thời huynh trưởng của ông là Đường Kính Tông (824 - 827) trị vì. Năm 827, anh trai thứ hai của Lý Triền là Đường Văn Tông Lý Ngang lên ngôi[7]. Vào những năm Khai Thành (836 - 840, niên hiệu thứ hai của Văn Tông), Lý Triền được ban tặng là Khai phủ nghi đồng tam ti, Kiểm giáo Lại bộ thượng thư. Sử sách mô tả về Dĩnh vương Triền như sau

Triền trầm tĩnh ít nói, vui buồn không biểu lộ ra sắc mặt.

Lý Triền cùng người em là Yên vương Lý Dung được Văn Tông đối xử tốt hơn các vị thân vương khác[3].

Làm hoàng thượng[sửa | sửa mã nguồn]

Bất ngờ được lên ngôi[sửa | sửa mã nguồn]

Ban đầu, Đường Văn Tông lập con trai của mình là Lỗ vương Lý Vĩnh làm hoàng thái tử, nhưng sau đó Lý Vĩnh qua đời vào năm 838 mà hậu cung không sinh nở tiếp nên vua không có người thừa tự. Người thiếp yêu của Văn Tông là Dương Hiền phi muốn lập Yên vương Lý Dung nhưng tể tướng Lý Giác phản đối. Cuối cùng Văn Tông quyết định lập con của Kính Tông là Trần vương Lý Thành Mĩ làm hoàng thái tử vào năm 839[8]. Đầu năm 840, Văn Tông bệnh trọng, mệnh Lưu Hoằng Dật, Tiết Quý Lăng triệu tể tướng Dương Tư Phục, Lý Giác vào cung để phó thác thái tử. Các hoạn quan Cừu Sĩ LươngNgưu Hoằng Chí vốn kiểm soát Văn Tông từ lâu, không đồng ý công nhận Thành Mĩ quyết định giả mạo chiếu chỉ, lập Lý Triền làm hoàng thái đệ mặc dù có sự phản đối của tể tướng Lý Giác. Sau đó, bọn Sĩ Lương đem binh vào Thập lục trạch (nơi ở của Lý Triền) và đón ông vào điện Thiếu Dương, bách quan yết kiến ở điện Tư Hiền. Ngày Kỉ Mão (8 tháng 2), Sĩ Lương giả chiếu chỉ nhân danh Văn Tông, nói thái tử nhỏ tuổi không đảm đương được trọng trách, nên cho về làm Trần vương. Dĩnh vương Triền cùng Văn Tông trước cùng học một thầy, tính hình khoan dung nhân hậu nên có thể lập làm hoàng thái đệ, quyết định việc trong triều. Ngày Tân Tị (10 tháng 2, 4 tháng 1 ÂL), Văn Tông băng ở điện Thái Hòa, có chiếu lấy Dương Tư Phục nhiếp trùng tể, tuyên di chiếu cho thái đệ tức hoàng đế vị trước cữu tiền. Ngày 11 tháng 2, theo đề nghị của Cừu Sĩ Lương, thái đệ hạ lệnh giết chết Dương Hiền phi, Yên vương Dung cùng Trần vương Thành Mĩ. Cừu Sĩ Lương vốn oán Văn Tông từng muốn diệt mình nên đã cho trục xuất hết nhạc công và nội thị gần gũi với Văn Tông.

Ngày Tân Mão (20 tháng 2), Thái đệ tức vị hoàng đế, xưng là Đường Vũ Tông. Giáp Ngọ (23 tháng 2), Vũ Tông truy phong thân mẫu của mình (đã mất) là Vi thị làm hoàng thái hậu, thụy Tuyên Ý, rồi sau đó hạ lệnh xá thiên hạ. Vũ Tông ở ngôi trong 6 năm (840 - 846)[3]. Các thái giám ủng hộ ông đều được phong tước vị, trong đó Cừu Sĩ Lương được phong Sở Quốc công, Ngưu Hoằng Chí là Hàn quốc công. Táng Văn Tông ở Chương lăng.

Đối ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay trước khi Vũ Tông lên ngôi, năm 839, tướng Hồi Cốt An Doãn HợpĐặc Lặc Sài Cách mưu phản rồi bị Khả hãn Chương Tín là Hồ Đặc Lặc giết chết. Tướng Quật La Vật cầm quân ở ngoài nhân tình hình rối loạn mà đem quân tấn công, Khả hãn cùng đường phải tự sát. Người Hồi Cốt tôn Áp Táp Đặc Lặc lên làm vua. Nhưng cũng kể từ đó, do dịch bệnh hoành hành, bão tuyết liên miên, các loài gia súc thường dùng của dân du mục như ngựa, lừa và bò bị chết rất nhiều, nên Hồi Cốt ngày càng suy yếu. Năm 840, biết Quật La Vật giết Khả hãn Chương Tín, tướng Hồi Cốt là Câu Lục Mạc Hạ liên kết với Khả hãn A Nhiệt của bộ lạc Kiệt Hiệt Tư đem quân đánh Quật La Vật và Áp Táp Đặc Lặc, giết được hai người này. Tình thế loạn lạc, một số bộ tộc thuộc Hồi Cốt cũng bắt đầu phân tán, có người trốn sang Cát La Lộc, có nhóm chạy sang Thổ Phiên và cũng có một bộ phận không nhỏ chạy sang phủ đô hộ An Tây của nhà Đường. Hoàng thân Hồi Cốt là Ốt Một Tư cùng tướng dưới quyền Xích Tâm, Bộc Cố, Na Hiệt Xuyết ... chạy đến vùng giáp biên giới nhà Đường là Thiên Đức[9] và xin nội thuộc triều đình.

Năm 841, mười ba bộ lạc Hồi Cốt cùng nhau tôn lập Ô Hi Đặc Lặc lên ngôi, tức là Khả hãn Ô Giới (841 - 846). Quân Hồi Cốt đã rất nhiều lấn tấn công vào biên giới với nhà Đường để lùng bắt bọn Ốt Một Tư, quấy nhiễu nhân dân. Năm 841, Vũ Tông cùng triều thần bàn định về việc Cốt Một Tư quy phục. Một số đại thần khuyên rằng không nên tiếp nhận Ốt Một Tư (vì là kẻ phản loạn trốn tránh). Theo lời khuyên của Lý Đức Dụ, Vũ Tông quyết định thu nhận tàn quân này, ban lương thực cho tàn quân Ốt Một Tư, phong tước vương, ban họ Lý cho ông ta. Trước đó, tộc Hiệt Kiết tìm thấy công chúa Thái Hòa được triều Đường gả sang Hồi Cốt khi trước, nên sai đưa về Trung Nguyên, giữa đường công chúa bị quân Hồi Cốt bắt được, đưa làm con tin. Tiếp theo Hồi Cốt liên tục cho quân xâm phạm biên cương, triều đình phải bố trí nhiều lực lượng để phòng bị. Hồi Cốt khả hãn yêu cầu nhà Đường giao Ốt Một Tư cho mình vì cho rằng Ốt Một Tư là kẻ phản bội nhưng Vũ Tông không chấp nhận.

Liên tiếp từ năm 842 đến 843, quân Đường và quân Hồi Cốt liên tiếp nổ ra những trận chiến, xen vào đó là các cuộc đàm phán bất thành. Đến năm 843, tướng Đường là Lưu Miện cho quân tấn công bất ngờ vào doanh trại của Khả hãn Ô Giới, Khả hãn sợ quá phải bỏ trốn cùng khoảng 100 kị binh. Quân Đường giải thoát được công chúa Thái Hòa và giết hơn 10.000 quân, hơn 20.000 người Hồi Cốt phải đầu hàng. Quân Đường giành thắng lợi lớn, Hồi Cốt buộc phải quy phục. Về sau Hồi Cốt ngày càng suy yếu, mặc dù vẫn thỉnh thoảng tấn công vào biên cương nhà Đường nhưng không thể gây hại lớn như trước[10]. Về sau Vũ Tông cũng nghe lời Lý Đức Dụ và quyết định phong chức Khả hãn cho tù trưởng bộ lạc Hiệt Kiệt Tư để lôi kéo bộ lạc này về phe mình.

Đối nội[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi lên ngôi, biết Lý GiácDương Tư Phục vốn không ủng hộ mình, nên Vũ Tông cho cách chức tể tướng của họ, rồi cho triệu cựu tể tướng là Tiết độ sứ Hoài Nam Lý Đức Dụ về triều và lại phong làm Môn hạ thị lang, Đồng bình chương sự, giữ tướng vị, đồng thời Hình bộ thượng thư Thôi Củng cũng được phong chức Đồng bình chương sự, kiêm Diêm thiết chuyển vận sứ. Lý Đức Dụ vào cung tạ ơn, nhân đó trình bày lên Vũ Tông những ý kiến của mình về chính nhân và tà nhân, được Vũ Tông tiếp nhận. Đức Dụ từ đó nắm quyền lớn trong triều và rất được tin tưởng.

Đầu năm 841 lập hoàng tử Tuấn làm Kỉ vương, đế Tết Nguyên đán thì lại xá thiên hạ, cải nguyên là Hội Xương năm thứ nhất[3]. Lại phong cho Trần Di Hành cùng đảm nhận chức Đồng bình chương sự. Cũng năm này, Đường Vũ Tông lại biếm Dương Tư Phục đến Hồ Nam, Lý Giác đến Quế Quản làm Quan sát sứ. Cừu Sĩ Lương vốn ghét đại thần Tri Xu mật Lưu Hoằng DậtTiết Quý Lăng trước được Văn Tông tín nhiệm, nên khuyên Vũ Tông hãy trừ hai người này đi. Vũ Tônng nghe theo, ban chết cho hai đại thần; đồng thời ông còn sai người đến Hồ Nam và Quế Quản để giết nốt Dương Tư Phục cùng Lý Giác. Các tể tướng Lý Đức Dụ, Thôi Củng, Thôi Đan, Trần Di Hành dâng sớ khuyên can, rồi Lý Đức Dụ lại đến gặp mặt Vũ Tông để trình bày, cuối cùng Vũ Tông tha chết cho hai người, nhưng giáng Lý Giác làm thứ sử Chiêu Châu, Tự Phục làm Thứ sử Triều châu[3].

Năm 842, xưng tôn hào Nhân Thánh Văn Vũ Chí Thần Đại Hiếu hoàng đế. Cũng năm đó, Vũ Tông bãi chức của tể tướng Trần Di Hành và phong cho Thượng thư Hữu thừa Lý Nhượng Di lên thay làm tể tướng. Lúc này Vũ Tông bề ngoài tỏ ra tôn trọng Cừu Sĩ Lương nhưng bên trong vẫn ngầm đề phòng. Sĩ Lương biết được nên lo sợ, sang năm 843 bèn xưng bệnh xin nghỉ, Vũ Tông chấp nhận cho trí sĩ, phong chức hiệu danh dự là Tả Vệ thượng tướng quân kiêm Nội thị giám, Tri tỉnh sự nhưng tước binh quyền. Về sau Vũ Tông phát hiện Cừu Sĩ Lương có tích trữ vũ khí trong nhà, bèn hạ lệnh tước quan chức, tịch thu gia sản. Cùng năm 843, đến Thôi Củng cũng bị bãi tướng, giáng làm Hữu bộc xạ. Vào lúc này, nhà Đường lại phải tiếp tục đối mặt với nạn phiên trấn cát cứ. Tiết độ sứ Chiêu Nghĩa[11]Lưu Tòng Gián vốn có hiềm khích với bọn Cừu Sĩ Lương, nên đã tìm cách củng cố thế lực để tránh bị hoạn quan hãm hại về sau. Cuối xuân năm 843, Tòng Gián sắp mất, di mệnh cho con nuôi là Lưu Chẩn (vốn là cháu gọi Tòng Gián là bác) lên làm Nha nội đô tri binh mã sứ nhưng không có ý cho làm người kế chức Tiết độ sứ. Khi Tòng Gián hoăng, Lưu Chẩn bí mật không phát tang. Vũ Tông chưa biết Tòng Gián đã chết, nên sai người đến hỏi thăm bệnh tình. Lưu Chẩn bức giám quân Thôi Sĩ Khang tâu lên triều đình rằng Tòng Gián có ý cho mình làm lưu hậu[3]. Vũ Tông không chịu nhưng cho Lưu Chẩn có thể vào triều để nhận quan chức nhưng Lưu Chẩn vẫn đóng ở đó, không nhận lệnh triều đình. Vũ Tông chuẩn bị chinh phạt Chiêu Nghĩa, nhưng lo sợ các Tiết độ sứ ở ba trấn Hà Bắc là Thành Đức[12], Ngụy Bác[13] và Lư Long[14] - vốn chỉ còn lệ thuộc triều đình trên danh nghĩa - sẽ hỗ trợ Lưu Chẩn, nên quyết định hứa cho các Tiết độ sứ này được quyền truyền chức cho con (mặc dù đây đã là thông lệ từ lâu) và hứa sau khi đánh dẹp xong sẽ cắt các đất ba châu ở phía đông núi Thái Hàng cho hai trấn Ngụy Bác và Thành Đức nếu họ giúp mình. Hai tiết độ sứ Hà Hoằng Kính (Ngụy Bác) và Vương Nguyên Quỳ (Thành Đức) đều đồng ý hợp tác với triều đình.

Vũ Tông sau đó hạ chiếu truy tặng quan chức cho Lưu Tòng Gián và triệu Lưu Chẩn đến Lạc Dương. Chẩn không theo. Thế là triều đình quyết định thảo phạt Chiêu Nghĩa. Các tướng triều đình là Vương Tể, Tiết độ sứ Hà Dương Vương Mậu Nguyên, Tiết độ sứ Hà Đông[15] Lưu Miện, Tiết độ sứ Hà Trung Trần Di Hành, Tiết độ sứ Vũ Ninh Lý Ngạn Tá cùng Vương Nguyên QuỳHà Hoằng Kính, năm trấn hợp quân công thảo. Chiếu tước quan chức của Lưu Chẩn[10]. Quân các trấn Hà Bắc chia nhau đánh ở đông, còn quân triều đình tấn công hai quận phía tây, trong đó có trụ sở của trấn này là Lư châu. Sau Vương Mậu Nguyên hoăng, triều đình lấy Kính Hân lên thay, cùng với Thạch Hùng thay chức của Lý Ngạn Tá. Trong khi quân triều đình không thể nhanh chóng đánh bại quân của Lưu Chẩn thì trong nội bộ lại sinh ra biến loạn khi tướng ở Hà Đông là Dương Biện cũng nổi dậy chống lại triều đình ở Thái Nguyên. Nhưng may là triều đình nhanh chóng đánh dẹp được và bắt sống được Dương Biện. Tiếp đó quân Đường lại tấn công Chiêu Nghĩa. Trong năm 844, quân Chiêu Nghĩa liên tiếp bại trận, ba châu phía đông Hình, Từ, 洺 đầu hàng các trấn Hà Bắc và cuối cùng mùa thu năm đó, Lưu Chẩn bị tướng dưới quyền Quách Nghị giết chết. Quách Nghị đem thủ cấp của Lưu Chẩn nộp cho Vương Tể. Biến loạn chấm dứt[4].

Vào năm 843, Vũ Tông lại phong cho Thôi Huyễn lên giữ chức tể tướng, và tể tướng Lý Thân bị giáng chức, sung làm Tiết độ sứ Hoài Nam. Trong thời gian trị vì, Vũ Tông rất tin tưởng Lý Đức Dụ, phàm việc lớn gì cũng đều nghe theo ý kiến của ông ta. Lý Đức Dụ cũng hết lòng phò tá Vũ Tông trong việc chính trị và quân sự, bên ngoài dẹp yên Hồi Cốt, bên trong tiêu diệt quân Chiêu Nghĩa và khiến các trấn Hà Bắc phải thần phục, do đó triều chính có chút khởi sắc. Sau khi dẹp xong Lưu Chẩn, Lý Đức Dụ nhân cơ hội này lại tố cáo các đại thần thuộc Ngưu đảng là Ngưu Tăng NhụLý Tông Mẫn trước kia có liên kết với Lưu Tòng Gián, rốt cục Ngưu Tăng Nhụ đến Tuần Châu, Lý Tông Mẫn đày đến Phong châu. Ngưu Lý Đảng tranh bắt đầu từ thời Hiến Tông còn phải thêm mấy năm nữa mới dứt hẳn.

Đầu năm 845, theo tấu thỉnh của quần thần, Vũ Tông lại xưng tôn hiệu Nhân Thánh Văn Vũ Chương Thiên Thành Công Thần Đức Minh Đạo Đại Hiếu hoàng đế[4]. Không lâu sau tể tướng Thôi Huyễn bị bãi chức, thay vào đó là Lý Hồi. Trong cung, vào năm 845, Vũ Tông có ý muốn lập Vương Tài nhân đang được sủng ái làm hoàng hậu, nhưng Lý Đức Dụ cho rằng tài nhân xuất thân hèn kém lại không có con nên khôg thể lập. Vũ Tông bèn bỏ ý định này.

Đàn áp tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Trong lịch sử các Hoàng đế triều đại nhà Đường, hầu hết các vị vua đều tôn sùng Phật giáo, kể cả Võ Tắc Thiên. Tuy nhiên Đường Vũ Tông lại ra sức đàn áp đạo Phật, và cả các tôn giáo ngoại nhập như Cảnh giáo (một phái của Kitô giáo), Hỏa giáo, Minh giáo..., nhưng chủ yếu là ghét Phật giáo nhất, nên ông luôn đàn áp và hành hạ đạo này. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc đàn áp Phật giáo của Vũ Tông, nhưng chủ yếu là các lí do sau

  • Tình hình kinh tế: Các chiến dịch chống Hồi Cốt và tiêu diệt phiên trấn đã làm quốc khố nhà Đường cạn kiệt. Phật giáo phát triển, vua chúa nào cũng sùng đạo Phật, là quốc giáo của Đường triều, nên đạo ấy được hưởng một chế độ đối đãi đặc biệt, được miễn thuế, lại được quyền chiếm ruộng đất, v.v... nên đã hại đến kinh tế đất nước không nhỏ.
  • Tình hình xã hội: Theo như nhận xét của Hàn Dũ, Phật giáo và các tôn giáo từ bên ngoài đã phá vỡ những nguyên tắc cơ bản của đạo làm người (Theo tư tưởng Nho giáo). Nó làm con bất kính với cha mẹ khi nhiều người vì tôn sùng đạo Phật mà bỏ cha mẹ, vợ con để vào chùa tu. Các nhà sư chỉ tụng kinh niệm Phật mà không tham gia sản xuất nhưng vẫn có cái ăn, tức là trở thành gánh nặng của xã hội. Nếu bắt các tăng ni hoàn tục thì đất nước sẽ có lại được một lực lượng lao động khá đông đảo[16].
  • Lý do cá nhân: Đường Vũ Tông vốn là người tôn sùng Đạo giáo và Nho giáo, các đạo mà ông xem là chính thống của Trung Quốc. Đạo giáo mê mẩn người ta bằng phép thuật trường sinh bất tử, trong khi đó theo quan niệm của Phật giáo thì khi người ta thành chính quả thì cũng là lúc rời bỏ trần thế, do đó Vũ Tông chú tâm rất nhiều đến Đạo giáo. Ông cho triệu đạo sĩ Triệu Quy Chân vào cung để luyện thuốc trường sinh cho mình, và Quy Chân cũng nhiều lần khuyên Vũ Tông phế bỏ đạo Phật[4].

Cuộc đàn áp tôn giáo đầu tiên diễn ra vào năm 842 nhưng chỉ với quy mô nhỏ và không nhằm tiêu diệt đạo Phật. Khi đó triều đình hạ lệnh rằng những tăng ni nào mà đã từng phạm tội thì không được ở trong chùa nữa mà phải hoàn tục. Những tăng ni, nhà sư phải dâng hết tài sản cho nhà nước, nếu còn không chịu thì xem như chưa dứt lòng trần và cũng phải trở về nhà và phải nộp thuế cho nhà nước như người bình thường[17]. Đường Vũ Tông đã ra lệnh đóng nhiều cửa chùa, chỉ định rằng mỗi nơi chỉ được xây 1 ngôi chùa duy nhất. Đây miễn cưỡng cũng có thể xem là một cuộc cải cách đạo Phật.

Tuy nhiên về sau Vũ Tông lại trở nên cuồng tín và căm ghét đạo Phật. Năm 844, cuộc đàn áp tôn giáo chuyển sang giai đoạn ác liệt nhất. Theo báo cáo của Từ bộ thì vào năm 844 ở Trung Quốc còn 4600 ngôi chùa, 40.000 ẩn thất; 260.500 tăng ni. Vũ Tông hạ lệnh phá hủy rất nhiều chùa chiền trong nước, các tăng ni không có thực tu bị bắt phải hoàn tục, tài sản trong nhà chùa bị như tượng Phật, lư hương, chung bàn bị tịch thu và phá ra để lấy đồng mà quy đổi ra tiền, đồ dùng hành đạo bị phá hủy. Lại ra lệnh cho Thượng Đô, Đông Đô mỗi nơi chỉ giữ lại 2 ngôi chùa, mỗi chùa chỉ giữ 20 người. Các phủ Tiết độ và quan sát sứ mỗi nơi chỉ giữ lại một chùa, phân những ngôi chùa còn lại ra các đẳng: nhất đẳng 20 người rồi lại giảm còn 10 người, nhị đẳng 10 người rồi giảm xuống 7 người, tam đẳng 5 người sau đó xóa bỏ. Chỉ trong năm 845, đã có 260.500 tăng ni bị bắt phải hoàn tục và nộp thuế trở lại như dân thường, 4600 ngôi chùa bị phá hủy; chiêu đề, lan nhược bị hủy lên đến hơn 40.000 nghìn[4]. Tất cả những giáo sĩ người người ngoài đến Trung Quốc truyền đạo phải trở về nước hết[18]. Các tôn giáo ngoại nhập hầu như là bị xóa sổ tất cả.

Sau khi Đường Vũ Tông mất, Đường Tuyên Tông lên ngôi, đã hủy bỏ các sắc lệnh này, không cấm đoán như vậy nữa, nhưng chỉ có đạo Phật được phục hồi, còn các tôn giáo khác không còn phát triển được nữa ở Trung Hoa.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Đường Vũ Tông do lạm dụng đơn dược để mong được trường sinh, nên tính tình trở nên khắc nghiệt và sức khỏe ngày càng suy nhược. Cuối năm 845 ông lâm bệnh nặng, nên nghĩ cách đổi tên để thay đổi vận số. Theo thuyết Ngũ hành, cấu tạo của chữ Triền (瀍) tương khắc với tên triều đại là Đường (唐), nên Vũ Tông đổi tên là Viêm (炎) vào tháng 3 ÂL. Tuy nhiên bệnh tình của ông vẫn ngày một nặng thêm. Từ ngày Ất Mão tháng 1 ÂL, Vũ Tông đã không thể lâm triều, do đó trong ngoài bất an.

Quang vương Lý Di là con trai thứ mười của Đường Hiến Tông, là người bị đánh giá là thiếu thông minh. Vũ Tông thấy tuổi của Lý Di không hơn mình bao nhiêu nên lại tỏ ra không biết lớn nhỏ, bất kính với hoàng thúc. Khi Vũ Tông lâm bệnh thì đã không thể nói được nữa. Bọn hoạn quan thấy vậy, bèn tìm cách lập người ngu lên ngôi để dễ thao túng. Ngày 19 tháng 4 (Tân Dậu tháng 2 ÂL), hoạn quan giả chiếu chỉ của Vũ Tông, viết

Hoàng tử nhỏ tuổi, chưa đủ hiền đức để trị quốc. Quang vương Di có thể lập làm Hoàng thái thúc, đổi tên là Thầm, đảm đương quân quốc chánh sự[4].

Thái thúc vào cung gặp bách quan thì như trở thành con người khác, tỏ ra thông minh nhân trí hơn người. Ngày 22 tháng 4 (Giáp Tí), Vũ Tông băng hà. Lấy Lý Đức Dụ nhiếp trùng tể. Ngày 25 tháng 4 (Đinh Mão), thái thúc tức vị, xưng là Đường Tuyên Tông. Tháng 8 ÂL năm đó, Vũ Tông được táng ở Đoan lăng. Trước lúc qua đời, ông từng hỏi Vương tài nhân rằng

Trẫm chết rồi thì ngươi định làm gì?

Tài nhân đáp

Nguyện theo Bệ hạ đến cửu tuyền.

Vũ Tông rất cảm động. Khi Vũ Tông băng, tài nhân liền thắt cổ chết theo. Tuyên Tông biết việc, rất cảm phục, truy tặng Quý phi, cũng cho an táng vào Đoan Lăng.

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Vũ Tông lên ngôi trong lúc tình hình chính trị - kinh tế đang trong sự khủng hoảng. Nạn hoạn quan chuyên quyền đang ở đỉnh cao. Chính người tiền nhiệm trước Vũ Tông là Đường Văn Tông (anh trai của Vũ Tông) cũng là do bọn hoạn quan đưa lên ngôi vị Hoàng đế, và sau đó là chúng đã hại chết Văn Tông bằng chén rượu độc. Ngoài ra, 2 người tiền nhiệm trước nữa là Đường Kính TôngĐường Mục Tông. Trong khi đó, tình hình ngoài biên cương, quân Hồi Cốt tấn công Trung Quốc từ phía Tây Bắc. Trong lúc tài chính đất nước suy thoái, quốc khố cạn kiệt, mà những bọn Tiết độ sứ cai trị ở các tỉnh thành lại tự lập "triều đình" riêng, không chịu nộp thuế cho triều đình nhà Đường. Khi lên ngôi, Vũ Tông trọng dụng 1 đại thần là Lý Đức Dụ vừa có tài, lại vừa có tinh thần chống hoạn quan. Vua dùng vị đại thần ấy trừ bọn hoạn quan, và Lý Đức Dụ cũng đã giúp vua Vũ Tông đánh bại quân đội Hồi Cốt đang hoàng hành vào năm 843.

Thời kỳ của Đường Vũ Tông cai trị là lúc nhà Đường có sự nổi bật, có chiều hướng phát triển lên trong thời kỳ suy tàn. Nhưng những cải cách của ông vẫn không thể làm sống lại nhà Đường, không thể làm thay đổi vận mệnh của triều đại, cải cách đó cũng chỉ như là "thứ ánh sáng lóe lên lúc trời đã sắp chiều tà".

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Trịnh hoàng hậu (鄭皇后).
  2. Đức phi Lưu thị (德妃刘氏).
  3. Thục phi Vương thị (淑妃王氏).
  4. Hiền phi Lưu thị (贤妃刘氏).
  5. Hiền phi Vương thị (贤妃王氏, ? - 846), người Hàm Đan, vào cung làm Tài nhân (才人), độc sủng mọi tình yêu của Vũ Tông. Sau khi Vũ Tông băng, Vương tài nhân tự sát, truy phong Hiền phi.
  6. Chiêu nghi Ngô thị (昭仪吴氏).
  7. Chiêu nghi Thẩm thị (昭仪沈氏).
  8. Tu nghi Đổng thị (修仪董氏).
  9. Tiệp dư Trương thị (婕妤张氏).
  10. Tiệp dư Triệu thị (婕妤赵氏).
  11. Dương phi (杨妃).
  12. Mạnh tài nhân (孟才人), kỳ nữ văn thơ song toàn, ca khúc Hàn Mãn Tử (何满子) cho Vũ Tông nghe khi lâm chung, đứt mạch mà chết. Tương truyền lúc đưa quan tài Vũ Tông đi, đột nhiên nặng như đá, 5 người đàn ông lực lưỡng nhất không nổi, nhưng đến khi đưa quan tài Mạnh tài nhân ra thì bỗng nhấc lên được ngay.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Triệu Kiếm Mẫn (2008), Kể chuyện Tùy Đường, NXB Đà Nẵng
  • Đặng Huy Phúc (2001), Các hoàng đế Trung Hoa, NXB Hà Nội
  • Nguyễn Khắc Thuần (2003), Các đời đế vương Trung Hoa, NXB Giáo dục
  • Cựu Đường thư
  • Tư trị thông giám
  • Reischauer, Edwin O. Ennin's Travels in Tang China. New York: Ronald Press, 1955.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ Academia Sinica, Chinese-Western Calendar Converter.
  2. ^ a ă â b c Đường thư, quyển 18, phần 1.
  3. ^ a ă â b c d Tư trị thông giám, quyển 246.
  4. ^ a ă â b c d Tư trị thông giám, quyển 248.
  5. ^ Trước đó hai vị vua Đường Trung TôngĐường Duệ Tông đều ở ngôi hai lần không liên tục, cùng với Đường Thương Đế bị các sử gia tranh cãi về việc có nên công nhận là hoàng đế hay không
  6. ^ Tư trị thông giám, quyển 241.
  7. ^ Đường thư, quyển 17.
  8. ^ Cựu Đường thư, quyển 175
  9. ^ Nội Mông, Trung Quốc hiện nay
  10. ^ a ă Tư trị thông giám, quyển 247.
  11. ^ Sơn Tây, Trung Quốc hiện nay
  12. ^ Trụ sở nay thuộc Thạch Gia Trang, Hà Bắc, Trung Quốc
  13. ^ Trụ sở nay thuộc Hàm Đan, Hà Bắc, Trung Quốc
  14. ^ Trụ sở thuộc Bắc Kinh hiện nay
  15. ^ Trụ sở thuộc Thái Nguyên, Sơn Tây, Trung Quốc hiện nay
  16. ^ Reischauer, sách đã dẫn, tr 221
  17. ^ Reischauer, sách đã dẫn, tr 237
  18. ^ Reischauer, sách đã dẫn, tr 256