Charles de Gaulle

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm
Charles de Gaulle
Tổng thống Pháp
Nhiệm kỳ
18 tháng 1, 1959 – 28 tháng 4, 1969
Tiền nhiệm René Coty
Kế nhiệm Alain Poher (lâm thời)
kế nhiệm bởi Georges Pompidou
Đảng UDR
Sinh 13 tháng 11, 1874
Lille, Nord
Mất 19 tháng 11, 1970
Colombey-les-deux-Églises, Haute-Marne
Phu nhân Yvonne de Gaulle

Charles de Gaulle hay Charles André Joseph Marie de Gaulle () hay Tướng de Gaulle (22/11/1890 - 9/11/1970) là chính khách nổi tiếng của Pháp. Ông xuất thân là một quân nhân, được phong hàm Quân đội Pháp. Năm 1940, khi chính phủ Pháp đầu hàng Đức Quốc xã, ông đã vượt biên sang London, lãnh đạo tổ chức France Libre, thành lập chính phủ Pháp lưu vong, ra lời kêu gọi người Pháp tiếp tục kháng chiến chống quân xâm lược Đức trong Thế chiến thứ hai. Năm 1958, ông thành lập nền Đệ Ngũ Cộng hòa Pháp và giữ chức Tổng thống từ năm 1959 đến năm 1969.

Mục lục

[sửa] Tiểu sử

[sửa] Gia đình và thời niên thiếu

Sinh ra ở Lille ngày 22 tháng 11 năm 1890 trong một gia đình "Thiên chúa giáo", lớn lên ở Paris, Charles de Gaulle là con trai của ông Henri de Gaulle, giáo sư văn học và lịch sử, và bà Jeanne Maillot. de Gaulle có 3 người em trai và một cô em gái, hai người trong số họ sau này đã tham gia kháng chiến trong Thế chiến thứ hai:

Từ rất sớm, bố của Charles đã cho ông tiếp cận với các tác phẩm của Barrès, BergsonPéguy. Charles de Gaulle học một phần của chương trình tiểu học tại trường dòng của chủng viện Saint-Thomas-d'Aquin (ngày nay là Trường cấp ba Saint-Thomas-d'Aquin) ở Paris, phần còn lại ở Bỉ sau cuộc khủng hoảng chính trị ở Pháp năm 1905 về quyết định tách biệt Nhà thờ và Quốc gia.

Đỗ thứ 119 trên 221 trong kỳ thi tuyển vào Trường Quân sự Saint-Cyr năm 1908 sau khi học lớp dự bị tại ngôi trường danh tiếng Học viện Thiên chúa giáo tư thục Stanislas ở Paris, ông ra trường năm 1912 (khóa Fès, mà thủ khóa là thống chế Juin trong tương lai) và ra nhập bộ binh. Được điều về Trung đoàn bộ binh 33 đóng ở Arras, sĩ quan trẻ de Gaulle được đặt dưới sự chỉ huy của Đại tá Pétain.

[sửa] Thế chiến thứ nhất

Mang lon Trung úy ở đầu cuộc Đại chiến Thế giới lần thứ nhất, ông được thăng lên hàm Đại úy vào tháng 1 năm 1915. Bị thương ở ngay trận đánh đầu tiên tại Dinant ngày 15 tháng 8 năm 1914, ông được thuyên chuyển đến Trung đoàn bộ binh 33 ở mặt trận Champagne để chỉ huy đại đội 7. De Gaulle lại một lần nữa bị thương ngày mùng 10 tháng 03 năm 1915 ở bạn tay trái, trong trận Somme. Sĩ quan nhiều chuyện, nhưng sự thông minh cũng như lòng dũng cảm của ông trên mặt trận khiến chỉ huy của Trung đoàn bộ binh 33 đã cho ông làm trợ lý của mình.
Ngày mùng 2 tháng 3 1916, Trung đoàn của ông bị tập kịch và gần như bị nghiền nát hoàn toàn khi đang bảo vệ khu vực làng Douaumont, gần Verdun. Đại đội của ông bị nghiền nát và bao vây trong trận đánh. Theo thông tin chính thức, ông đã tổ chức một cuộc chọc phá vòng vây; trong trận đột kích, lưới đạn quân Đức quá dày khiến ông phải nhảy vào một hó đạn pháo để tránh, nhưng lính Đức nhảy vào theo và đâm bị thương ông ở đùi bên trái[1]. Bị bắt làm tù binh, ông được đem đi băng bó và chăm sóc. Nhưng một người lính của trung đoàn ông đã cung cấp một câu chuyện hoàn toàn khác : « Chúng tôi bị bao vây và dưới lệnh của Đại úy chỉ huy de Gaulle, chúng tôi buộc phải buông súng đầu hàng. »[2]

Sau một lần vượt ngục không thành, ông bị chuyển đến pháo đài Ingolstadt, ở Bavaria, một trại tù binh dành cho các sĩ quan cứng đầu. Tại đây ông gặp Georges Catroux, người sau này được phong tướng, nhà báo Rémy Roure, nhà xuất bản Berger-Levrault và thống chế Xô-viết tương lai Toukhatchevski. Vượt ngục năm lần nhưng đều thất bại. Ông được trao trả tự do sau khi chiến tranh kết thúc và về nhà vào tháng 12 năm 1918. Ông được nhận, vì những cống hiến trong cuộc Đại chiến thế giới thứ nhất Chữ thập kỵ sĩ Bắc đẩu bội tinh, vào ngày 23 tháng 07 năm 1919.

Về thời kỳ bị tù đày này, tướng Perré đã phát biểu năm 1966 : "Một trong những người bạn tôi bị giam cùng de Gaulle đã kể với tôi điều này. Quân Đức tôn trọng những sĩ quan Pháp đã dũng cảm chiến đấu bằng cách trả lại kiếm cho họ ở những dịp lễ quan trọng, chẳng hạn như khi đi lễ ở nhà thờ. Nhưng họ đã không trả cho Đại úy de Gaulle. Tưởng rằng bị quên do nhầm lẫn, de Gaulle đã phản đối một cách kịch liệt. Lính Đức ngạc nhiên, nhưng cũng đi điều tra lại về trường hợp đầu hàng của de Gaulle. Một khi đã có thông tin đầy đủ, quân Đức vẫn không trả lại kiếm cho Đại úy de Gaulle".[3]

[sửa] Thời gian giữa hai cuộc Thế chiến

Charles de Gaulle tiếp tục con đường binh nghiệp. Từ năm 1919 cho đến năm 1921, ông được gửi sang Ba Lan, quốc gia vừa mới dành quyền độc lập; nơi ông tham gia giúp đỡ thành lập và huyấn luyện quân đội nước này trong quốc chiến tranh thắng lợi trước Hồng quân Xô viết.

Khi trở về Pháp, Đại úy de Gaulle được phân giảng dạy tại l'École de Saint-Cyr (Học viện Saint-Cyr), trước khi được cử đi học tại École supérieure de guerre (Học viện Chiến tranh cao cấp) vào năm 1922.

[sửa] Ghi chú

  1. ^ Max Gallo, De Gaulle, quyển 1 : Tiếng gọi của định mệnh, III, 10
  2. ^ Chứng thực của Samson Delpech, đăng trên báo Sud-Ouest Dimanche ra ngày 16 tháng 04 1961 và ngày 29 tháng 03 1966.
  3. ^ Chứng thực của Tướng Perré ngày 11 tháng 1966, được đăng trên báo trí quốc tế. Mặc dù có lời kêu gọi phản đối của những người đấu tranh cho phong trào de Gaulle, điện Élysée đã không ra một tuyên bố nào phủ nhận thông tin trên.
Các Tổng thống Cộng hòa Pháp
1848 1852 1871 1873 1879 1887 1894 1895 1899
Louis-Napoléon
Bonaparte
Adolphe
Thiers
Patrice
de Mac-Mahon
Jules
Grévy
Sadi
Carnot
Jean
Casimir-Perier
Félix
Faure
1899 1906 1913 1920 1920 1924 1931 1932 1940 1947
Émile
Loubet
Armand
Fallières
Raymond
Poincaré
Paul
Deschanel
Alexandre
Millerand
Gaston
Doumergue
Paul
Doumer
Albert
Lebrun
1947 1954 1959 1969 1974 1981 1995 2007 ...
Vincent
Auriol
René
Coty
Charles
de Gaulle
Georges
Pompidou
Valéry
Giscard d'Estaing
François
Mitterrand
Jacques
Chirac
Nicolas
Sarkozy
  

Vua PhápTổng thống PhápĐệ nhị Cộng hòaĐệ tam Cộng hòaĐệ tứ Cộng hòaĐệ ngũ Cộng hòa


Công cụ cá nhân