Đế quốc Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đế quốc Việt Nam
越南帝国
(Việt Nam Đế Quốc)
Đế quốc bù nhìn từ Nhật Bản
Flag of Colonial Vietnam.svg
 
Early Nguyen Dynasty Flag.svg
1945 Flag of North Vietnam 1945-1955.svg
 
Flag of South Vietnam.svg
 
Flag of Colonial Vietnam.svg
Cờ Quốc huy
Quốc kỳ Quốc huy
Quốc ca
Đăng Đàn Cung
Vị trí của Việt Nam Đế Quốc
Vị trí của Đế quốc Việt Nam
Thủ đô Phú Xuân (Huế)
Ngôn ngữ Tiếng Việt (ngôn ngữ chính)
Tiếng Nhật (ngôn ngữ ngoại giao)
Chính thể Quân chủ lập hiến
Hoàng đế Bảo Đại
Thủ tướng Trần Trọng Kim
Thời đại lịch sử Thế chiến II
 - Thành lập 11/3
 - Giải thể 23/8
Loạt bài
Lịch sử Việt Nam
Bản đồ Việt Nam

Thời tiền sử

Hồng Bàng

An Dương Vương

Bắc thuộc lần I (207 TCN - 40)
   Nhà Triệu (207 - 111 TCN)
Hai Bà Trưng (40 - 43)
Bắc thuộc lần II (43 - 541)
   Khởi nghĩa Bà Triệu
Nhà Tiền LýTriệu Việt Vương (541 - 602)
Bắc thuộc lần III (602 - 905)
   Mai Hắc Đế
   Phùng Hưng
Tự chủ (905 - 938)
   Họ Khúc
   Dương Đình Nghệ
   Kiều Công Tiễn
Nhà Ngô (938 - 967)
   Loạn 12 sứ quân
Nhà Đinh (968 - 980)
Nhà Tiền Lê (980 - 1009)
Nhà Lý (1009 - 1225)
Nhà Trần (1225 - 1400)
Nhà Hồ (1400 - 1407)
Bắc thuộc lần IV (1407 - 1427)
   Nhà Hậu Trần
   Khởi nghĩa Lam Sơn
Nhà Lê sơ (1428 - 1527)
Nhà Mạc (1527 - 1592)
Nhà Lê trung hưng (1533 - 1789)
   Chúa Trịnh - Đàng Ngoài
   Chúa Nguyễn - Đàng Trong
Nhà Tây Sơn (1778 - 1802)
Nhà Nguyễn (1802 - 1945)
   Pháp thuộc (1887 - 1945)
   Đế quốc Việt Nam (1945)
Chiến tranh Đông Dương (1945 - 1975)
   Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
   Quốc gia Việt Nam
   Việt Nam Cộng hòa
   Cộng hòa Miền Nam Việt Nam
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (từ 1976)

Xem thêm

sửa

Đế quốc Việt Nam, là một quốc gia trong lịch sử Việt Nam tồn tại 5 tháng (từ 11 tháng 3, 1945 - 23 tháng 8, 1945). Trong thời gian ngắn ngủi chấp chính, chính phủ này đã làm được một việc quan trọng là tuyên bố độc lập và thống nhất, nhập xứ Nam Kỳ vào Việt Nam trên danh nghĩa.

Mục lục

[sửa] Nhật đảo chính Pháp và thành lập nội các Đế quốc Việt Nam

Trong Đệ nhị thế chiến, quân đội Pháp đã mất quyền kiểm soát Đông Dương thuộc Pháp và quyền này rơi vào tay người Nhật vào năm 1941. Tuy nhiên, người Nhật vẫn giữ lại những quan chức Pháp và chỉ điều khiển sau hậu trường.

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, khi tình hình chiến tranh Thái Bình Dương thay đổi bất lợi, Nhật đổi chính sách và đảo chính Pháp, bắt giam các tướng lãnh và tước khí giới của quân đội PhápĐông Dương. Đại sứ Nhật ở Đông Dương là Matsumoto Shunichi giao cho đại diện Pháp là Toàn quyền Đông Dương Đô đốc Jean Decoux tối hậu thư đòi người Pháp phải chấp nhận vô điều kiện quyền chỉ huy của Nhật trên mọi phương diện. Ở Huế đại úy Kanebo Noburu vào trình báo vua Bảo Đại quyền lực của Pháp đã bị loại.[1] Cùng chiều hướng đó Đế quốc Nhật Bản thỏa thuận trao trả độc lập cho Việt Nam trên danh nghĩa. Hai ngày sau, 11 Tháng Ba vua Bảo Đại triệu cố vấn tối cao của Nhật là đại sứ Yokoyama Masayuki vào điện Kiến Trung để tuyên bố nước Việt Nam độc lập.[2] Cùng đi với Yokoyama là tổng lãnh sự Konagaya Akira và lãnh sự Watanabe Taizo.[3] Bản tuyên ngôn đó có chữ ký của sáu vị thượng thư trong Cơ mật ViệnPhạm Quỳnh, Hồ Đắc Khải, Ưng Úy, Bùi Bằng Đoàn, Trần Thanh Đạt, và Trương Như Đính, nguyên văn chiếu chỉ đề ngày 27 Tháng Giêng ta năm thứ 20 niên hiệu Bảo Đại:[4]

Theo tình hình thế giới nói chung và hiện tình Á Châu, chính phủ Việt Nam long trọng công bố rằng: Kể từ ngày hôm nay, Hòa ước Bảo hộ ký kết với nước Pháp được hủy bỏ và vô hiệu hóa. Việt Nam thu hồi hoàn toàn chủ quyền của một Quốc gia Độc lập.

—Bảo Đại, [5]

Theo đó triều đình Huế hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884 vốn áp đặt nền bảo hộ lên toàn cõi nước Việt.

Với Dụ số 1 ra ngày 17 tháng 3, vua nêu khẩu hiệu "Dân Vi Quý" (chữ Nho: 民爲貴; lấy dân làm quý) làm phương châm trị quốc. Vua Bảo Đại giải tán nội các cũ, các Thượng thư đồng loạt từ chức. Nhà sử học Trần Trọng Kim được nhà vua gọi ra Huế giao nhiệm vụ thành lập nội các mới.

Nội các mới được thành lập vào ngày 17 tháng 4 với Trần Trọng Kimnội các tổng trưởng. Đây là chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam (không kể các triều đại phong kiến và chính phủ bảo hộ của Pháp trước đó) và Trần Trọng Kim trở thành thủ tướng đầu tiên của Việt Nam. Với nội các tập hợp được những trí thức có danh tiếng lúc bấy giờ, thành phần nội các ra mắt quốc dân ngày 19 tháng 4, trong đó có:

  1. Bác sĩ Hồ Tá Khanh - Bộ trưởng Bộ Kinh tế
  2. Luật sư Phan Anh - Bộ trưởng Bộ Thanh niên
  3. Bác sĩ Trần Đình Nam - Bộ trưởng Bộ Nội vụ
  4. Luật sư Trịnh Đình Thảo - Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

Cựu Tổng đốc tỉnh Thái BìnhPhan Kế Toại được bổ làm Khâm sai Bắc Kỳ còn Nguyễn Văn Sâm làm Khâm sai Nam Kỳ đại diện cho triều đình Huế ở trong Nam và ngoài Bắc. Tại Hà Nội Phan Kế Toại tiếp thu phủ thống sứ và Trần Văn Lai nhậm chức ở tòa đô chính trước đám đông dân chúng đến chứng kiến việc thu hồi độc lập trên danh nghĩa.[6]

[sửa] Thành lập Đế Quốc Việt Nam

Tháng 6 năm 1945, Chính phủ Trần Trọng Kim đặt quốc hiệu là Đế quốc Việt Nam; đặt quốc thiều là bài Đăng đàn cung; quốc kỳ có "nền vàng hình chữ nhật, giữa có hình quẻ Ly màu đỏ thẫm".

Cho dù không đứng vững được bao lâu, Nội các Trần Trọng Kim đã cố gắng đặt nền móng xây dựng một thể chế độc lập và tự chủ đầu tiên không thuộc Pháp. Tuy không được chuẩn bị kỹ lưỡng cũng như thiếu thốn rất nhiều nhân sự và vật lực để điều hành một chính phủ vừa manh nha, đối ngoại thì phải cố gắng dung hòa các thế lực quốc tế và chủ thuyết Đại Đông Á của Đế quốc Nhật, đối nội thì có nhiều phe phái muốn giành chính quyền, chính phủ mới vẫn đạt được một số điều kiện cơ bản, nhóm lên hy vọng độc lập và tự chủ cho nước Việt Nam.

Trong những bước đầu tiên là Bộ trưởng Tư pháp Trịnh Đình Thảo ra lệnh thả hàng ngàn tù nhân chính trị bị Pháp giam giữ để thành lập Ủy ban cải tổ và thống nhất luật pháp. Hội đồng cải cách cai trị, tư pháp và tài chính có 16 thành viên như các ông Vũ Văn Hiền, Trần Văn Chương, Trần Văn Ân, Nguyễn Văn Huyên, Trần Đình Nam, Phan Kế Toại được giao nhiệm vụ xúc tiến việc soạn thảo cơ cấu mới cho quốc gia.[7] Tiếp theo đó thì Bộ trưởng Bộ Thanh niên Phan Anh đứng tổ chức đội Thanh niên Tiền tuyến theo tinh thần quốc gia để huy động quốc dân giữ an ninh vì không có bộ quốc phòng. Đế quốc Việt Nam không thành lập Bộ quốc phòng để tránh phải tham gia chiến tranh thế giới thứ II với tư cách đồng minh của Nhật Bản. Thủ tướng còn ra chỉ thị ngày 8 Tháng Năm thành lập Hội nghị Tư vấn Quốc gia gồm 59 thành viên từ nhiều giới để giúp sức.[8]

[sửa] Thu hồi Nam Kỳ

Trong thời gian ngắn ngủi chấp chính, chính phủ mới đã làm được một việc quan trọng nhất là thống nhất trên danh nghĩa xứ Nam Kỳ vào nước Việt Nam kể từ ngày 8 Tháng Tám, 1945. Trước đó vào ngày 20 Tháng Bảy chính phủ Việt Nam cũng thu hồi ba nhượng địa cũ là Hà Nội, Hải Phòng, và Đà Nẵng vốn bị người Pháp chia cắt và áp dụng quy chế trực trị.[9]

[sửa] Cải cách hành chính để thu hồi chủ quyền quốc gia

Chính phủ Trần Trọng Kim hợp nhất hai bộ máy hành chính Nam triều và Bảo hộ do thực dân Pháp để lại. Từ đây, chính phủ Trần Trọng Kim đứng đầu hệ thống hành chính thống nhất trên toàn quốc. Chính phủ buộc các quan chức địa phương chỉ được nhận chỉ thị và báo cáo trực tiếp với chính phủ Việt Nam chứ không được liên hệ với Sở Tối Cao Cố Vấn Nhật Bản. Tuy nhiên các cơ quan công an, tuyên truyền, thông tin liên lạc vẫn do người Nhật kiểm soát.

Chính phủ này còn dự định lập ra những Tư Vấn Hội Nghị ở các địa phương để giúp các Cơ Quan Hành Chính địa phương, tiến tới thành lập Tư Vấn Hội Nghị Toàn quốc giúp chính phủ cải cách quốc gia và soạn thảo Hiến Pháp. Sau đó sẽ bầu Quốc Hội Lập hiến để phê chuẩn và ban hành Hiến pháp. Những dự định này chưa được thực hiện thì chính phủ đã giải tán.

[sửa] Đưa tiếng Việt làm quốc ngữ chính

Một bước đột phá không kém là thay chương trình dạy học bằng tiếng Pháp sang chương trình học bằng Tiếng Việt, do học giả Hoàng Xuân Hãn đề ra. Thủ tướng Trần Trọng Kim giao việc này cho Hội đồng cải cách giáo dục với 18 thành viên trong đó có Hoàng Xuân Hãn, Hoàng thị Nga, Nguyễn Mạnh Tường, Hoàng Minh Giám, Bùi Kỷ, Ngụy Như Kontum, Ưng Quả, Hồ Văn Ngà.[7]

[sửa] Sơ thảo hiến pháp

Về mặt hành chánh, chính phủ cũng cho soạn sơ thảo một bản hiến pháp cấp tiến bảo đảm quyền tự do chính trị, tự do nghiệp đoàn và tự do tín ngưỡng. Hội đồng dự thảo Hiến pháp có 14 thành viên gồm có những ông Phan Anh, Nguyễn Tường Long, Vũ Đình Hòe, Huỳnh Thúc Kháng, Đặng Thai Mai, Tôn Quang Phiệt, Hồ Tá Khanh, Nguyễn Văn Sâm, Nguyễn Văn Thinh, Hồ Hữu Tường.[7] Chính phủ cũng ra lệnh bãi bỏ thuế thân cho những ai không tài sản và những người với lương dưới 100 đồng một tháng[10]

[sửa] Sụp đổ

Đế quốc Việt Nam được thành lập như một bộ phận của chính sách Khối Thịnh vượng chung Đại Đông Á của Nhật. Tuy nhiên, nó cũng chỉ là một trong những khẩu hiệu và khái niệm được dùng để biện hộ cho sự chiếm đóng của Đế quốc Nhật Bản tại Đông Á từ thập niên 1930 cho đến hết Đệ nhị thế chiến, trong đó các chính quyền bản xứ phải vận động người dân và nền kinh tế trong nước phục vụ cho lợi ích của Đế quốc Nhật Bản. Các chính quyền này trên danh nghĩa được độc lập song thực tế không có nhiều quyền lực, hầu hết các chính sách quan trọng đều do lực lượng quân quản Nhật quyết định (tiêu biểu như chính phủ bù nhìn Mãn Châu quốc của cựu hoàng đế Phổ Nghi hay chính phủ Đế quốc Đại Hàn)[11].

Vì chưa phải là một thế lực chính trị được ủng hộ rộng rãi và không có quân đội riêng, cũng không có bộ quốc phòng (hoặc an ninh), chính phủ Trần Trọng Kim thực tế vẫn nằm dưới sự bảo hộ của quân đội Nhật chiếm đóng Đông Dương và không có nhiều uy tín đối với dân chúng. Theo Tiến sĩ Lê Mạnh Hùng thì "Với an ninh, quốc phòng và kinh tế tài chánh đều nằm trong tay quân đội Nhật, tất cả những gì mà chính phủ Trần Trọng Kim có thể đạt được trong việc dành lại chủ quyền cho Việt Nam thực tế là chỉ có tính cách biểu tượng".[12] Mặc dù không có quân đội, Trần Trọng Kim vẫn giao cho Phan Anh lập đội Thanh niên Tiền tuyến (còn được gọi là phong trào Thanh niên khất thực). Tuy nhiên khi Cách mạng Tháng Tám nổ ra, lực lượng này lại đi theo Việt Minh.

Trong thời kỳ cầm quyền, Đế quốc Việt Nam phải đối mặt với nhiều vấn đề. Sựu tận thu tài nguyên của quân đội Nhật bản để phục vụ chiến tranh, và sự tranh giành chính quyền hoặc ảnh hưởng của nhiều thế lực khác nhau, và nhất là Nạn đói Ất Dậu làm chết gần 2 triệu người.

Khi quân Nhật đầu hàng Đồng Minh, chính phủ Trần Trọng Kim cũng chỉ tồn tại được đến ngày 23 tháng 8 năm 1945. Lực lượng Việt Minh lãnh đạo người dân nổi dậy tiến hành cuộc Cách mạng tháng 8. Chính phủ Trần Trọng Kim tan rã, Việt Minh đưa ra bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

miền Nam Việt Nam, Pháp theo quân Anh trở lại Đông Dương và ngày 23 tháng 9 năm 1945 đã nổ súng gây chiến ở Sài Gòn rồi mở rộng đánh chiếm Nam Bộ. Pháp đã lập ra một chính phủ Nam Kỳ quốc hòng tách khu vực này ra khỏi Việt Nam.

Một số nhân sĩ của nội các Đế quốc Việt Nam đã tham gia vào việc xây dựng chính phủ Việt Nam Cộng hòa sau đó tại lãnh thổ miền Nam như Trần Văn Chương, Trần Đình Nam. Một số khác tham gia Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến Việt Nam hoặc đi theo Việt Minh như ông Huỳnh Thúc Kháng, Phan Anh, Phan Kế Toại, Trịnh Đình Thảo, Tạ Quang Bửu, Đặng Văn Hướng...

[sửa] Chú thích

  1. ^ Hà Thúc Ký. Sống còn với Dân tộc. ?: Phương Nghi, 2009. tr 75
  2. ^ Nguyễn Ngọc Phách. Chữ Nho và đời sống mới. Melbourne: Hải Ngoại, 2004. Trang 525.
  3. ^ Dommen, Arthur. The Indochinese Experience of the French and the Americans. Bloomington, IN: Indiana University Press, 2001. Trang 83
  4. ^ The Formulation of the National Discourse in 1945 Vietnam
  5. ^ Hà Thúc Ký. Sống còn với Dân tộc, hồi ký chính trị. ?:Phương Nghi, 2009. tr 83
  6. ^ Hoàng Tường. Việt Nam đấu tranh 1930-54. Westminster, CA: 1982. tr 62
  7. ^ a b c Hoàng Cơ Thụy. Việt sử khảo luận. Paris: Nam Á, 2002. tr 1966
  8. ^ Dommen, Arthur J. tr 89
  9. ^ Dommen, Arthur J. tr 89
  10. ^ Ngô Văn. Việt Nam 1920-1945, Cách mạng và Phản Cách mạng. Montreuil, Pháp: L'Insomniaque Chuông Rè, 2000. Trang 301.
  11. ^ Lebra, Joyce C. Japan's Greater East Asia Co-Prosperity Sphere in World War II: Selected Readings and Documents. New York: Oxford University Press, 1975, trang 157, 158, 160
  12. ^ Trả lời phỏng vấn đài RFA 2006-04-15

[sửa] Xem thêm

Công cụ cá nhân
Không gian tên

Biến thể
Tác vụ
Xem nhanh
Tương tác
Công cụ
In/xuất ra
Ngôn ngữ khác