Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến (có tài liệu gọi là Chính phủ Liên hiệp Quốc gia [1]) là chính phủ được thành lập vào ngày 2 tháng 3 năm 1946 dựa trên kết quả của kỳ họp thứ I Quốc hội khóa I tại Hà Nội, chính phủ được thành lập nhằm tạo khối đại đoàn kết vững mạnh trên cả nước để chuẩn bị cho công cuộc "kháng chiến kiến quốc" về sau.
Chính phủ liên hiệp kháng chiến là sự mở rộng thành phần nội các của Chính phủ liên hiệp lâm thời Việt Nam ngày 1 tháng 1 năm 1946. Chính phủ bao gồm 1 Chủ tịch, 1 Phó Chủ tịch, 1 cố vấn, 1 Chủ tịch Kháng chiến ủy viên hội, 1 Phó Chủ tịch Kháng chiến ủy viên hội và 10 bộ trưởng. Trên cơ bản, đây là sự rút gọn về số lượng thành viên chính phủ nhưng là sự mở rộng thành phần nội các so với chính phủ lâm thời kháng chiến sao cho gọn nhẹ hợp thời chiến nhưng đảm bảo tính đoàn kết, hòa hợp dân tộc giữa các Đảng phái trong nước.
Mục lục |
Sự hình thành [sửa]
Ngày 2 tháng 3 năm 1946, Quốc hội khóa I được bầu thông qua tổng tuyển cử tự do ngày 6 tháng 1 năm 1946 họp phiên đầu tiên tại Hà Nội đã thông qua danh sách 70 đại biểu của Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh hội tham gia Quốc hội. Quốc hội còn chỉ định ông Hồ Chí Minh đứng ra thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến với 15 thành viên đến từ các đảng phái khác nhau như Mặt trận Việt Minh, Việt Nam Quốc dân Đảng, Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội, hay không đảng phái. Ngày 4 tháng 3 năm 1946, chính phủ họp phiên đầu tiên và thông qua một số chủ trương về đối nội - đối ngoại như:
- Về đối nội:
1- Các đảng phái phải đoàn kết chặt chẽ, ngôn luận, hành động phải nhất trí để phụng sự quốc gia.
2- Sinh mệnh và tài sản của tất cả công dân Việt Nam và kiều dân ngoại quốc được hoàn toàn bảo đảm.
3- Hành chính và quân đội phải thống nhất, tài chính kinh tế tập trung.
4- Mọi lực lượng của quốc dân được huy động để dùng trong việc kháng chiến kiến quốc và toàn thể nhân dân, nhất là những người làm việc công phải tuân theo kỷ luật.
- Về ngoại giao:
1- Đối với các nước Đồng minh, nước Việt Nam bao giờ cũng chủ trương thân thiện, nhất là đối với Trung Hoa.
2- Đối với các nước nhược tiểu đang đấu tranh giành độc lập thì dân tộc Việt Nam rất đồng tình.
3- Đối với nhân dân Pháp, dân tộc Việt Nam không thù hằn, song cực lực phản đối chế độ thực dân và cương quyết giữ quyền độc lập. Chính phủ Việt Nam chỉ nhận điều đình với Chính phủ Pháp theo nguyên tắc “Dân tộc tự quyết” của Hiến chương Đại Tây Dương.
Hoạt động của Chính phủ [sửa]
Trong thời gian hoạt động của mình, Chính phủ đã có những đóng góp quan trong trong công cuộc "kháng chiến kiến quốc" như chính phủ đã cử phái đoàn Việt Nam gồm 5 thành viên là chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Bộ ngoại giao Nguyễn Tường Tam, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Anh, Chủ tịch kháng chiến ủy viên hội Võ Nguyên Giáp và Phó chủ tịch kháng chiến Ủy viên hội Vũ Hồng Khanh ký với đại diện chính phủ Cộng hòa Pháp J. Sainteny bản Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946 cho 15.000 quân Pháp ra Bắc thay thế cho 20 vạn quân Tưởng rút về nước.
Ngoài ra, Chính phủ còn thay mặt quốc dân đàm phán với Pháp tại những hội nghị Đà Lạt, Fontainebleau và ký với Pháp bản Tạm ước ngày 14 tháng 9 năm 1946.
Sự tan rã [sửa]
Do mâu thuẫn của hai phe Việt Minh và Việt Nam Quốc dân Đảng sau bản Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, Chính phủ không còn giữ được sự đoàn kết ban đầu, các thành viên Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách Mệnh Đồng minh hội mất chỗ dựa là quân đội Tưởng Giới Thạch và do một số bất đồng khác đã lần lượt rút khỏi chính phủ Liên hiệp.
Tháng 7-1946, xảy ra vụ án Ôn Như Hầu, thành viên Việt Quốc - Việt Cách dự định ném tạc đạn vào đoàn diễu binh Pháp ở Hà Nội nhân ngày 14 tháng 7 năm 1946, đây là một hành động thông đồng với Pháp nhằm mục đích đổ cho Việt Minh gây sự phá hoại hòa bình để có cớ đánh Việt Minh [2]. Lực lượng công an xung phong theo ý kiến chỉ đạo của Trường Chinh (Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương, khi đó rút vào hoạt động bí mật. Chức danh công khai là Hội trưởng Hội nghiên cứu Chủ nghĩa Mác ở Đông Dương)[3] đã khám xét các cơ sở Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách Mệnh Đồng minh hội, bắt giữ thành viên hai đảng này, đồng thời tìm thấy nhiều vũ khí, tài liệu tuyên truyền hiệu triệu chống chính quyền, kêu gọi nhân dân lật đổ Chính phủ. Đặc biệt còn phát hiện các tử thi, phòng tra tấn tại trụ sở các đảng này. Tuy nhiên, Việt Nam Quốc dân Đảng cho rằng Việt Minh dàn cảnh vụ án phố Ôn Như Hầu để bắt giữ các thành viên và "áp đảo dư luận quần chúng và đàn áp luôn Việt Nam Quốc dân Đảng".[4] Sau vụ án này, lãnh đạo Việt Cách là Nguyễn Hải Thần và các thành viên Việt Quốc - Việt Cách thân Tưởng khác trong chính phủ như Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh đã lưu vong sang Trung Quốc.
Sự kiện này đánh dấu chấm hết cho sự hợp tác giữa Việt Minh do Đảng Lao động Việt Nam lãnh đạo và Việt Quốc, Việt Cách do Trung Hoa Dân Quốc hậu thuẫn, trong công cuộc "kháng chiến kiến quốc" mà chính phủ liên hiệp kháng chiến là biểu tượng. Chính phủ còn hoạt động đến tháng 11 năm 1946 với các thành viên của Việt Minh trước khi một chính phủ mới được thành lập ngày 3 tháng 11 năm 1946.
Các thành viên trong chính phủ liên hiệp kháng chiến [sửa]
| Thứ tự | Chức vụ | Tên | Đảng phái |
|---|---|---|---|
| 1 | Chủ tịch | Hồ Chí Minh | Việt Minh |
| 2 | Phó Chủ tịch | Nguyễn Hải Thần | Việt Cách |
| 3 | Bộ trưởng Bộ Nội vụ | Huỳnh Thúc Kháng | không đảng phái |
| 4 | Bộ trưởng Bộ Ngoại giao | Nguyễn Tường Tam | Việt Quốc |
| 5 | Bộ trưởng Bộ Quốc phòng | Phan Anh | không đảng phái |
| 6 | Bộ trưởng Bộ Tư pháp | Vũ Đình Hòe | Dân Chủ |
| 7 | Bộ trưởng Bộ Giáo dục | Đặng Thai Mai | Việt Minh |
| 8 | Bộ trưởng Bộ Tài chính | Lê Văn Hiến | Việt Minh |
| 9 | Bộ trưởng Bộ Giao thông Công chính | Trần Đăng Khoa | Đảng Dân chủ |
| 10 | Bộ trưởng Bộ Kinh tế | Chu Bá Phượng | Việt Quốc |
| 11 | Bộ trưởng Bộ Xã hội, Y tế, Cứu tế và Lao động | Trương Đình Tri | Việt Cách |
| 12a | Bộ trưởng Bộ Canh nông | Bồ Xuân Luật | Việt Cách |
| 12b | (từ tháng 4, 1946) | Huỳnh Thiện Lộc | Dân Chủ |
Các thứ trưởng: Nội vụ (Hoàng Minh Giám - đảng Xã hội), Quốc phòng (Tạ Quang Bửu - độc lập), Tư pháp (Nguyễn Văn Hướng - độc lập), Giao thống công chính (Đặng Phúc Thông - Việt Minh), Tài chính (Trịnh Văn Bính - độc lập), Giáo dục (Đỗ Đức Dục- Đảng Dân chủ), Canh nông (Bồ Xuân Luật - Việt cách, sau khi Huỳnh Thiện Lộc- độc lập làm Bộ trưởng), Xã hội y tế (Đỗ Tiếp - Việt cách), Ngoại giao (Nghiêm Kế Tổ - Việt quốc)
Cố vấn đoàn do cố vấn tối cao Vĩnh Thụy đảm nhiệm.
Kháng chiến Ủy viên hội (sau gọi là Ủy ban Kháng chiến) do Võ Nguyên Giáp (Việt Minh) làm Chủ tịch, Vũ Hồng Khanh (Việt Quốc) làm Phó Chủ tịch.
Chú thích [sửa]
^ Sau vụ án phố Ôn Như Hầu giữa năm 1946 (đã nói ở trên), Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam và Vũ Hồng Khanh đã bỏ nhiệm sở chạy sang Trung Quốc lưu vong. Vĩnh Thụy được cử sang giao hảo với Trung Quốc cũng ở lại không về nước.
^ Bộ Giao thông Công chính và Bộ Canh nông dành cho đại diện của Nam Bộ, nhưng các đại diện của Nam Bộ chưa ra họp được nên giao cho Trần Đăng Khoa và Bồ Xuân Luật. Đến giữa tháng 4 năm 1946, Huỳnh Thiện Lộc ra nhậm chức Bộ trưởng Bộ Canh nông, Bồ Xuân Luật giữ chức Thứ trưởng.
Tham khảo [sửa]
- ^ Nguyễn Q. Thắng (16 tháng 3 năm 1996). “Sơ lược tiểu sử của các phái viên và cố vấn của Phái đoàn dự hội nghị Đà Lạt”. Một vài ký vãng về Hội nghị Đà Lạt. Nhà xuất bản Văn hóa. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2009.
- ^ Từ điển Bách khoa Việt Nam
- ^ Vụ án Ôn Như Hầu qua lời kể của Đại tá Trần Tấn Nghĩa, Báo Công an Nhân dân Điện tử, 8:40, 28/08/2005, Trích: "Theo ông kể, cuối tháng 6/1946, Nha Công an Trung ương nhận được nguồn tin của cơ sở phát hiện được âm mưu của thực dân Pháp câu kết với bọn phản động Quốc dân Đảng đang chuẩn bị thực hiện âm mưu đảo chính chính phủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau khi xin ý kiến trung ương về âm mưu thâm độc này, đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí Thư đảng ta lúc bấy giờ đã cho ý kiến chỉ đạo phải tập trung trấn áp bọn phản cách mạng, nhưng phải có đủ chứng cứ."
- ^ Vụ án Ôn Như Hầu, Website Việt Nam Quốc đân Đảng. Truy cập 16.6.2008
Xem thêm [sửa]
- Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
- Chính phủ liên hiệp lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
- Chính phủ Liên hiệp Quốc dân
| Tiền nhiệm: Chính phủ liên hiệp lâm thời |
Chính phủ Liên hiệp Quốc gia 2 tháng 3 - 2 tháng 11 năm 1946 |
Kế nhiệm: Chính phủ mới |