Vũ Hồng Khanh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Vũ Hồng Khanh (chữ Hán: 武鴻卿; 18981993) tên thật là Vũ Văn Giản (武文簡) quê ở làng Thổ Tang, huyện Vĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Yên (nay là xã Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc), xuất thân là một giáo viên, là một trong các lãnh tụ của Việt Nam Quốc dân đảng; thành viên trong Chính phủ liên hiệp kháng chiến (Thành lập ngày 2-3-1946) của Hồ Chí Minh, giữ chức Phó Chủ tịch kháng chiến ủy viên hội.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn trước năm 1945[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 10 tháng 2 năm 1930, Vũ Hồng Khanh là một trong những người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc dân đảng ở Kiến An (Hải Phòng) [1]. Khi cuộc khởi nghĩa thất bại, Nguyễn Thái Học lên đoạn đầu đài còn ông đào thoát sang Trung Hoa móc nối với các đồng chí tiếp tục hoạt động và trở thành lãnh đạo mới của Việt Nam Quốc dân đảng.

Năm 1942 tại Liễu Châu (Trung Hoa), Vũ Hồng Khanh, Nghiêm Kế Tổ (Quốc dân đảng), Nguyễn Tường Tam (Đại Việt Dân chính đảng), Nguyễn Hải Thần thành lập Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội, thường được gọi tắt là Việt Cách.

Giai đoạn 1945 - 1954[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 1 tháng 9 năm 1945, ông từ Côn Minh về nước qua ngả Mường Khương, vào Lào Cai.

Do cần phải hợp tác để đối phó với Việt Minh ngày 15 tháng 12 năm 1945 các đảng phái chống Việt Minh đã thống nhất thành lập một lực lượng gọi là Mặt trận Quốc dân Đảng Việt Nam. Vũ Hồng Khanh giữ chức Bí thư trưởng tổ chức này.

Ngày 2 tháng 3 năm 1946 ông tham gia Chính phủ liên hiệp kháng chiến và đảm nhận chức vụ Phó Chủ tịch Kháng chiến Ủy viên hội (sau đổi là Ủy ban Kháng chiến). Ông cùng Hồ Chí Minh đã ký với Jean Sainteny Hiệp định sơ bộ 1946.

Tháng 7 năm 1946, xảy ra vụ án phố Ôn Như HầuHà Nội, lực lượng công an khám xét các trụ sở của Việt Nam Quốc dân đảng, phát hiện nhiều vũ khí, truyền đơn hiệu triệu chống chính phủ. Tuy nhiên theo Việt Nam Quốc dân Đảng, trụ sở ở phố Ôn Như Hầu chỉ là một chỗ làm việc bình thường của Việt Nam Quốc dân Đảng bị tấn công trong lúc không nghĩ là mình sẽ bị tấn công và các đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng không có vũ khí nặng nào. Vũ Hồng Khanh và các lãnh đạo các đảng phái chống Việt Minh như Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam phải trốn sang Trung Quốc.

Cuối tháng 12 năm 1949, Đảng Cộng sản Trung Quốc đánh thắng Trung Quốc Quốc Dân Đảng trên toàn Trung Quốc và dồn tàn quân Quốc dân đảng chạy về biên giới Việt Nam. Vũ Hồng Khanh cầm đầu chừng bảy đến tám ngàn tàn quân Quốc dân đảng chạy vào Việt Nam qua ngả Nacham, giữa Lạng SơnCao Bằng. Khi quân trú phòng Pháp định tước vũ khí đoàn quân này, đụng độ nổ ra. Bị cả quân Pháp và Việt Minh vây đánh, mất chừng hai nghìn người sau các cuộc đụng độ, đến ngày 6 tháng 1 năm 1950, Vũ Hồng Khanh và số tàn quân còn lại hạ vũ khí đầu hàng quân Pháp.[2]

Năm 1952, Vũ Hồng Khanh giữ chức Bộ trưởng Bộ Thể thao và Thanh niên trong nội các Nguyễn Văn Tâm của Quốc gia Việt Nam.

Giai đoạn 1954 - 1975[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1954 đến 1975, ông lãnh đạo một hệ phái Việt Nam Quốc dân đảng tại miền Nam Việt Nam.

Giai đoạn sau 1975[sửa | sửa mã nguồn]

Sau sự kiện năm 1975, Vũ Hồng Khanh theo lệnh chính quyền Cách mạng mới đưa đi tập trung học tập cải tạo, dù ông đã 77 tuổi.

Năm 1986 ông được trả tự do và về sống trong tình trạng bị quản thúc tại quê nhà ở làng Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc với người con gái lớn là bà Vũ Thị Được. Đây cũng là quê hương Nguyễn Thái Học. (Một tài liệu khác nói rằng năm 1977 đích thân Bộ trưởng Công an Trần Quốc Hoàn đã vào trại cải tạo để thả sớm Vũ Hồng Khanh vì năm 1943 ông có công can thiệp với tướng Trung Hoa Quốc dân Đảng Trương Phát Khuê thả Lý Thụy - bí danh của Hồ Chí Minh - tại Liễu Châu, Trung Quốc.) Năm 1992, ông được phép vào Thành phố Hồ Chí Minh thăm con gái và con rể.

Ngày 14 tháng 11 năm 1993 ông mất tại quê nhà làng Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, hưởng thọ 95 tuổi.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ http://www.lichsuvietnam.vn/home.php?option=com_content&task=view&id=1326&Itemid=5 KHỞI NGHĨA YÊN BÁI 1930
  2. ^ Luicien Bodard, The quicksand war: Prelude to Vietnam, page 159-160