Nguyễn Thông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm

Nguyễn Thông (28 tháng 5 năm 1827 – 7 tháng 7 năm 1884) là một nhà thơ, nhà văn và nhà hoạt động xã hội có ảnh hưởng lớn ở miền Nam Việt Nam nửa đầu thế kỷ 19.

Mục lục

[sửa] Tiểu sử

Nguyễn Thông tự là Hy Phần, hiệu Kỳ Xuyên, biệt hiệu là Độn Am, sinh ngày 28 tháng 5 năm 1827 tại làng Bình Thạnh, tổng Thạch Hội Hạ, huyện Tân Thạnh, phủ Tân An, tỉnh Gia Định ( nay thuộc xã Phú ngãi Trị, huyện Châu Thành, tỉnh Long An)[1]

Thân phụ là Nguyễn Hanh, người Tân Thạnh (tỉnh Gia Định), kết hôn cùng bà Trịnh Thị A Mầu nguyên quán ở Thừa Thiên, sinh hạ được hai trai là Nguyễn Thông và Nguyễn Hài.

Thuở nhỏ, hai anh em ông được cha dạy dỗ. Năm Nguyễn Thông mười tuổi thì mẹ mất, mười bảy tuổi thì cha mất, hai anh em phải vất vả kiếm sống. Rất ham học nhưng không có thầy, Nguyễn Thông cùng em tự học. Cũng may khi đó Nguyễn Nhữ Hiền vừa được bổ làm phủ ở Tân An, nên hai anh em đến xin thọ giáo. Nhưng cũng chẳng được lâu, vì thầy dạy phải trở về kinh.[2]

Năm 1844, Nguyễn Thông ra học ở Huế. Năm 1849, ông thi đậu cữ nhân nhưng thi hội bị đánh hỏng vì tập bài thi bị lấm mực. Biết văn tài của Nguyễn Thông, nhiều người khuyên nên đợi để thi khoa sau. Nhưng nhà nghèo không thể tiếp tục học, Nguyễn Thông nhận chức huấn đạo tại Phú Phong, tỉnh An Giang. Sáu năm sau, năm 1855 ông ra Huế. Năm sau được thăng Hàn lâm viện tu soạn, vào làm trong nội các, tham gia soạn sách "Nhân sự kim giám" (gương vàng soi việc người).

Năm 1859, khi Pháp xâm chiếm miền Đông Nam Kỳ, ông xin tòng quân và làm tham mưu cho Tôn Thất Hiệp coi việc cơ mật. Năm 1861, đại đồn Chí Hòa thất thủ, ông được thăng từ Vệ úy lên Chưởng vệ, sung chức Phó đề đốc, cùng Trương Định chống giặc.

Năm 1862, triều đình Huế cắt ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Pháp, ông đến Phước Tuy (Bà Rịa). Được Phan Thanh Giản đề cử, ông trở về Vĩnh Long giữ chức Đốc học và ở đây từ năm 1863 đến tháng 7 năm sau. Thời gian này, ông đã cho xây dựng lại Văn Thánh Miếu Vĩnh Long và đồng thời liên lạc chặt chẽ với các tổ chức chống Pháp khắp ba tỉnh miền đông Nam Kỳ trong đó có Trương Công Định. Cùng trong thời gian này, ông cùng các bạn đồng môn đã tổ chức di dời mộ phần của thầy Võ Trường Toản từ Chí Hòa về Ba Tri (Bến Tre) vì không muốn để cho đối phương làm ô uế.

Năm 1867, ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ cũng bị Pháp xâm chiếm, ông cùng với nhiều sĩ phu Nam Kỳ không chịu hợp tác, nên đã tị địa ra tại Bình Thuận.

Năm 1867, Nguyễn Thông đuợc cử làm Án sát Khánh Hòa rồi Quảng Ngãi. Thời gian này ông dâng sớ lên triều đình, để biện bạch cho Phan Thanh Giản, đồng thời dâng bốn bản điều trần về kế sách hưng thịnh quốc gia cho vua Tự Đức. Tuy nhiên, tất cả đều không được chấp nhận vì sự gièm pha của các đại thần khác chánh kiến trong triều.

Năm 1870, ông tham gia chấm thi trường Thừa Thiên, kết thân với Phạm Phú Thứ, Nguyễn Tư Giản, Đỗ Đăng Đệ...rồi làm Biện lý Bộ Hình, Bố chánh Quảng Ngãi

Ở Quảng Ngãi, Nguyễn Thông đã tích cực thi hành những biện pháp để bài trừ nạn tham ô, hà hiếp dân chúng của bọn cường hào ác bá địa phương. Việc làm này của ông đã đụng chạm tới quyền lợi của một số đại thần trong triều, vì vậy không lâu sau ông bị cách chức, tống giam và bị xử trượng, sau nhờ dân chúng kêu oan tới vua, mới được giải tội.

Năm 1873, ông xin về dưỡng bệnh tại Sơn Trung (Bình Thuận), kết bạn cùng các thân hào trí thức địa phương, đồng thời thực hiện các hoạt động khai khẩn.

Năm 1874, triều đình cho phục chức, làm việc trong Bộ Lễ nhưng khi đến Huế, ông lại bị bệnh nên phải cáo về.

Năm 1876, ông lại được triệu về kinh, giữ chức Tu nghiệp Quốc Tử Giám. Thời gian này ông cùng với các quan trong triều như Bùi Ước, Hoàng Duy Tân khảo duyệt bộ Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, nhân đó soạn Việt sử cương giám khảo lược

Năm 1877, triều đình chấp thuận kế hoạch khai hoang vùng La Ngư, Ba Dầu (Bình Tuy) ngày nay nên cử ông về làm Doanh điền sứ Bình Thuận. Năm 1880, ông cùng bạn bè, đồng chí lập Đồng Châu Xã, khuyến khích dân địa phương phát triển nghề nông và ra sức giáo dục lớp tuổi trẻ.

Năm 1878, bệnh cũ tái phát, ông xin nghỉ dài hạn. Năm 1880, được mật chỉ cùng với các quan địa phương xử vụ nổi dậy của người thiểu số, xử vụ lưu dân từ trong Nam ra. Cũng năm này, ông thành lập Đồng Châu xã và xây dựng Ngọa Du Sào để có nơi làm thơ, đọc sách.

Năm 1881, Nguyễn Thông được bổ làm Phó sứ điển nông kiêm đốc học tỉnh Bình Thuận. Năm sau thăng Hồng lô tự khanh. Năm 1883, kinh thành thất thủ, Tự Đức băng hà, ông ra Huế thọ tang vua.

Tháng 4 năm 1884, Ngọa Du Sào văn tập của ông ra đời; tháng 6 cùng năm, ông viết di chúc...

Nguyễn Thông mất ngày 7 tháng 7 năm 1884 (tức ngày 27 tháng 8 năm Giáp Thân), thọ 57 tuổi.

Mộ phần của ông đặt ở đồi Ngọc Lâm, sát chân núi Ngọc Sơn, đối diện với Tháp Chăm Pôshanư, Lầu ông Hoàng và Bửu Sơn Tự thuộc phường Phú Hài, trên con đường từ Phan Thiết đi Mũi Né.

[sửa] Gia đình

Ông kết hôn với bà Ngô Thị A Thúy (Ngô Thị Tý), cháu cố của Ngô Nhân Tịnh, sinh hạ được hai người con trai là Nguyễn Trọng Lỗi và Nguyễn Quý Anh; và ba người con gái. Ngoài ra, ông còn có một người con trai và một người con gái với người vợ kế họ Đoàn.

Người con trai lớn Nguyễn Trọng Lỗi là một chí sĩ của phong trào Đông kinh Nghĩa thục, người có công thành lập Công ty sản xuất nước mắm Liên Thành và ngôi trường Dục Thanh, nơi có gian nhà Ngọa Du Sào mà Nguyễn Thông đã sống những ngày cuối đời. Nguyễn Tất Thành cũng đã từng dạy học tại ngôi trường này trong một thời gian ngắn[3]

[sửa] Các tác phẩm chính

  • Khâm Định nhân sự kim giám
  • Dương chính lục
  • Việt sử thông giám cương mục khảo lược
  • Kỳ xuyên thi sao
  • Kỳ xuyên vǎn sao
  • Ngọa du sào tập

[sửa] Đánh giá

Tự điển Văn học nhận xét:

Thơ văn của ông là tấm lòng ưu ái đối với những người xấu số, sự quan tâm đến nghề làm ruộng và gắn bó với đời sống của nông dân. Ông ca ngợi và xót thương những người hy sinh trong cuộc chiến đấu chống Pháp. Nổi bật và bao trùm là tấm lòng yêu mến quê hương mà ông phải lìa bỏ vì không chịu sống trên đất kẻ thù đã chiếm đong…[4]

Và:

Bởi Nguyễn Thông sinh trưởng trong một gia đình nhà nho nghèo, lại sớm sống gần gũi những người dân cần cù, lam lũ, thuần phác .Nhờ ông có năng khiếu thơ văn, có vốn học thức, được đi nhiều và nhạy cảm trước những vấn đề chính trị, xã hội... Nên hầu hết trước tác của ông đều thiên về tả thực, giàu chất trữ tình, mang tính tố cáo cao. Nhờ vậy, người đọc dễ dàng bắt gặp cái đẹp của những ý tứ, ngôn từ tinh tế, đậm đà tình cảm cao cả, không sa đà viễn vông hay sáo rổng …
Tuy đôi lúc trong thơ văn ông, cũng không tránh khỏi nỗi buồn hiu hắt của một nhà nho cảm thấy bất lực trước vận mệnh tồn vong của non sông, của dân tộc mà ông yêu mến.[5]

[sửa] Ghi chú

  1. ^ Theo quyết định chia huyện năm 1981 [1]
  2. ^ Theo Web Vĩnh Long [2]
  3. ^ Theo phả hệ của Nguyễn Thông, in trong "Nguyễn thông, con người và tác phẩm" của Ca Văn Thỉnh và Bảo Dịnh Giang, NXB TP. HCM, 1984
  4. ^ Tự điển Văn học, bộ mới, NXB Thế Giới, 2004, tr.1189
  5. ^ Bùi Thụy Đào Nguyên, Nhớ Nguyễn Thông [3]

[sửa] Liên kết ngoài

Công cụ cá nhân