Võ Trường Toản

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đền thờ Võ Trường Toản

Võ Trường Toản (?-1792), hiệu Sùng Đức, là một danh sĩ và là một thầy giáo nổi tiếng đạo cao, đức trọng, uyên bác hơn người tại miền Nam Việt Nam.

Mục lục

[sửa] Thân thế và sự nghiệp

Tổ tiên Võ Trường Toản vốn là người Hoa lánh nạn Mãn Thanh sang cư trú tại Đàng Trong. Đến khi xảy ra cuộc hôn nhân của công nữ Ngọc Vạn, con gái thứ hai của Chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên với vua Chân Lạp Chei Chetta (1668-1628), thì tổ tiên Võ Trường Toản cũng từ miền Trung vào miền Nam lập nghiệp [1].

Tượng Võ Trường Toản tại đền thờ

Không rõ ông sinh năm nào, chỉ biết ông quê làng Thanh Kệ, dinh Quảng Đức (nay thuộc huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế), sau vào cư ngụ tại huyện Bình Dương, phủ Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Trong thời chiến tranh Tây Sơn - chúa Nguyễn, ông mở trường dạy học ở Hòa Hưng [2] (thuộc huyện Bình Dương), không tham gia vào chính sự. Học trò của ông khá đông và nhiều người nổi tiếng như Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định, Ngô Tùng Châu, Phạm Đăng Hưng, Lê Bá Phẩm, Phạm Ngọc Uẩn v.v... Võ Trường Toản được các sĩ phu miền Nam lúc bấy giờ tôn là "Thái sơn Bắc đẩu", là "Gia Định xử sĩ".

Chúa Nguyễn Phúc Ánh rất mến mộ ông, nên mỗi khi ghé Gia Định thường triệu ông đến giảng sách, đàm đạo. Vị chúa này muốn trọng dụng ông, nhưng ông khéo từ chối, chỉ tiến chúa Nguyễn 10 điều về phương lực cứu quốc và kiến quốc.

Võ Trường Toản mất ngày mồng 9 tháng 6 năm Nhâm Tý (tức 27 tháng 7 năm 1792).

Hay tin ông mất, chúa Nguyễn ban tặng danh hiệu "Gia Ðịnh xử sĩ Sùng Đức Võ tiên sinh" (nghĩa là bậc xử sĩ Võ tiên sinh, người Gia Định, sùng về đạo đức) để khắc vào bia mộ, và đôi liễn điếu:

Triều hữu huân danh, bán thuộc hà phần cực học;
Đẩu nam phong giáo, tề khâm nhạc lộc dư hay .

Đại ý tỏ lòng mến thương công đức của Võ tiên sinh đã đem sự giáo hóa của ông Vương và ông Chu, làm rạng rỡ trong triều ngoài quận[3].

Để tưởng nhớ công đức của ông, học trò cũ cũng đã làm câu liễn điếu:

Sinh tiền giáo huấn đắc nhân, vô tử nhi hữu tử
Một hậu thịnh danh tại thế, tuy vong giả bất vong"

Dịch nghĩa:

Lúc sống, dạy dỗ được người, không con mà như có
Khi mất, tiếng tăm còn để, thân tan danh vẫn còn.

Tác phẩm của Võ Trường Toản hầu như bị thất lạc hết, chỉ còn lưu truyền bài "Hoài cổ phú", viết bằng quốc âm, dài 24 câu[4].

Tượng Võ Trường Toản tại Văn Miếu Trấn Biên - Đồng Nai

[sửa] Khu mộ và đền thờ

Hài cốt ông lúc đầu được chôn tại làng Hòa Hưng, nơi ông dạy học. Năm 1855, Phan Thanh Giản tâu xin lập miếu thờ ông tại làng này.

Sau khi quân Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ năm 1862, Phan Thanh Giản cùng với đốc học Vĩnh Long Nguyễn Thông, hiệp trấn An Giang Phạm Hữu Chánh, cùng với nhiều sĩ phu khác đứng ra lo việc cải táng Võ Trường Toản về làng Bảo Thạnh (Ba Tri, Bến Tre), với ý nghĩa là không để mộ thầy nằm trong vùng Pháp tiến chiếm. Ngày cải táng (28 tháng 3 năm 1867), Nguyễn Thông đã thay mặt các nho sĩ đứng làm chủ lễ, các quan chức ở An Giang, Hà Tiên đều mặc đồ tang đến lễ bái.

Ngày 28 tháng 3 năm 1867 Phan Thanh Giản thảo một bài văn bia, ca ngợi công đức và sĩ khí của thầy Võ Trường Toản. Ông Phan đã thuê thợ khắc bài văn vào đá, nhưng việc chưa xong thì ông đã tuẫn tiết vào ngày 4 tháng 8 năm 1867. Năm năm sau (1872), ông Trương Ngọc Lang mướn thợ tiếp tục làm mới xong.

Tiên sinh họ Võ, húy Trường Toản; đời trước hoặc nói là người Thanh Kệ, hoặc nói người Bình Dương, trước thọ nghiệp cùng ai chưa biết rõ. Chỉ biết sở học của tiên sinh đã tới bậc dày dặn, đầy đủ, chất thật có thuật nghiệm thâm uyên thông đạt. Tiên sinh ở ẩn mở trường dạy học, thường học trò đến mấy trăm...Tiên sinh không khứng ra làm quan, nên không thấy được sự nghiệp của tiên sinh. Từ thuở tiên sinh lấy lối học nghĩa lý để giáo hóa, chẳng những đương thời đào tạo được nhiều bậc nhân tài, mà còn truyền thuật, giảng luận, trau dồi về sau...

[5]

Mộ Võ Trường Toản (trái), vợ (giữa) và con gái (phải)

Khu mộ của Võ Trường Toản được người ở Bảo Thạnh gọi là "khu mộ ông Hậu Tổ", vì ông là người có công truyền dạy luân lý Khổng Mạnh ở đất Đồng Nai-Gia Định. Ở đây, ngoài ngôi mộ ông, còn có mộ vợ và con gái (vợ chồng ông chỉ sinh được 1 gái, bị bệnh mất từ nhỏ). Cả ba đều được xây dựng theo dạng voi phục, nằm trong khuôn viên thoáng rộng. Ở ngoài khu mộ, phía bên phải là một nhà thờ nhỏ, đẹp với mái cong, hai tầng, và bên trong có đặt tượng của ông.

Khu mộ và đền thờ đã được Bộ Văn hóa Thông tin ra quyết định công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 31 tháng 08 năm 1998. [6]

[sửa] Chú thích

  1. ^ Theo GS Trịnh Vân Thanh,Thành ngữ điển tích danh nhân từ điển (tập hạ), NXB Hồn Thiêng, Sài Gòn, 1966, tr.1450-1452.
  2. ^ Làng Hòa Hưng xưa ở hai bên đường Cách mạng tháng Tám, thuộc quận 3 và quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay (theo Nguyễn Đình Đầu trong bài viết "Võ Trường Toản- Nhà văn hóa bậc thầy của Sài Gòn xưa").
  3. ^ Hà Phần là chỗ ở của Vương Thông. Nhạc Lộc là chỗ ở của Chu Hy. Hai ông đều là người Trung Quốc, và đều có công truyền bá tư tưởng của Khổng Tử.
  4. ^ Nguyên bản có chép trong Thành ngữ điển tích danh nhân từ điển, sách đã dẫn.
  5. ^ Trích Văn bia ở mộ Võ Trường Toản, Ca Văn Thỉnh dịch, in trong sách Võ Trường Toản của Nam Xuân Thọ, Tân Việt, Sài Gòn, 1957, tr. 10.
  6. ^ Di tích Mộ nhà giáo Võ Trường Toản

[sửa] Liên kết ngoài

Công cụ cá nhân
Không gian tên

Biến thể
Tác vụ
Xem nhanh
Tương tác
Công cụ
In/xuất ra