Học tập cải tạo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Học tập cải tạo, hay cải tạo qua lao động, là tên gọi hình thức giam giữ mà pháp luật một số nước thực hiện đối với một bộ phận các nhân vật mà các chính phủ sở tại cho là những người vi phạm pháp luật, hoặc vướng vào tệ nạn xã hội hoặc là các nhân vật bất đồng chính kiến với chính phủ hoặc là tù nhân chiến tranh. Đây là một hình thức xử phạt hay răn đe giáo dục bằng giam giữ và lao động bắt buộc. Đối với thành phần "giai cấp thù địch", mô hình học tập cải tạo này được Liên Xô phổ biến và phát triển quy mô.[1] Mô hình này cũng được một số nước phương Tây áp dụng, như Hoa Kỳ hiện nay[2] hoặc Pháp trong chiến tranh Algerie[3]

Theo nhà bảo vệ nhân quyền nổi tiếng Lev Ponomarev, người sáng lập tổ chức phi chính phủ Bảo vệ quyền của các tù nhân, «các trại cải tạo này chính là nhà tù »[4].

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Trước 1975[sửa | sửa mã nguồn]

Chế độ học tập cải tạo rập theo khuôn mẫu của Trung Quốc[5] đã được áp dụng tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngay từ năm 1954 với tội phạm, tù binh và tù nhân bị kết án chống đối chính quyền.[6] Một số nhà văn liên quan đến phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm, như Phùng Quán, phải đi cải tạo lao động vì tư tưởng của họ.

Theo văn bản luật pháp thì quy chế bắt giam vào trại cải tạo chiếu theo nghị quyết 49 (49-NQTVQH) của Hội đồng Bộ trưởng thông qua ngày 20 tháng 6, 1961 và bắt đầu áp dụng kể từ 8 tháng 9. Đối tượng là "thành phần phản cách mạng" và đe dọa an ninh công cộng.[7]

Sau 1975, thời kỳ hậu chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Trong bối cảnh hậu chiến (sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975), cụm từ "học tập cải tạo" nói đến chương trình tập trung để cải tạo của chính quyền Việt Nam đối với binh lính chế độ Việt Nam Cộng hòa hay những người tham gia phục vụ cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa trước 1975. Một công bố của nhà chức trách nói rõ:

"Việc tổ chức cho ngụy quân, ngụy quyền và các đối tượng phản động ra trình diện học tập cải tạo thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước, có tác dụng phân hóa hàng ngũ bọn phản động, cô lập bọn đầu sỏ ngoan cố, đập tan luận điệu tuyên truyền chiến tranh tâm lý của địch, tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân." [8]

Hệ thống giam giữ quy mô này lấy mẫu từ trại tù lao động của Liên Xô.[9]

Cách tiến hành tại miền Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Công việc triệu tập các đối tượng để đưa đi học tập cải tạo bắt đầu từ Tháng Năm, 1975. Đối với hạ sĩ quan, sau trình diện thì phải theo học một khóa chính trị ngắn rồi được cấp giấy chứng nhận để cho về. Đối với các cấp chỉ huy thì có lệnh trình diện bắt đầu từ ngày 13 đến 16 Tháng Sáu, 1975. Chiếu theo đó thì sĩ quan sẽ đi học tập 15 ngày trong khi các viên chức dân sự cùng những đảng viên các tổ chức chính trị của miền Nam thì thời gian học tập là một tháng. Người trình diện phải mang theo 21 kilôgam gạo làm lương thực trong đó có mọi ngành từ quận trưởng trở lên hoặc đối với các viên chức hành chánh là trưởng phòng trở lên. Các văn nghệ sĩ cũng phải ra trình diện.[10]

Theo Alain Wasmes, tác giả cuốn sách La peau du Pachyderme (Việt Nam tấm da voi), sau Sự kiện 30/4, Mặt trận giải phóng đã nắm trong tay toàn bộ tài liệu ở trung tâm đăng kiểm của Bộ chỉ huy Viện trợ quân sự Mỹ ở Việt Nam (MACV), do Quân lực Việt Nam Cộng Hòa tan rã quá nhanh nên không kịp tiêu hủy tài liệu, mà theo như ông mô tả là "Trên một trong năm máy tính của trung tâm đăng kiểm Mỹ, toàn bộ quân đội Sài Gòn, từ tổng chỉ huy cho đến anh binh nhì, đều được chương trình hóa trong những phích đục lỗ với toàn bộ những chi tiết về lai lịch và chính trị cần thiết của họ. Thậm chí cả với lớp sắp tuyển, cũng có đầy đủ tất cả như thế.[cần dẫn nguồn] Trên thực tế, trong các báo cáo của sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, rất nhiều hành động có thể được coi là tội ác chiến tranh đã được ghi lại và báo cáo như là 1 "chiến tích" trong sự nghiệp chống cộng.

Nội dung trong trại[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng cộng có đến hơn 80 trại cải tạo phân bố trên toàn đất nước, nhất là những vùng biên thùy. Chương trình bắt đầu với 10 bài giảng với những đề tài:

  1. Tội ác của MỹViệt Nam Cộng hòa
  2. Lý thuyết Xã hội chủ nghĩa
  3. Chính sách khoan hồng của Đảng Cộng Sản Việt NamNhà nước Việt Nam [10]

Người bị giam phải viết bài lý lịch gọi là "bài tự khai" bắt đầu với bản "sơ yếu lý lịch",[11] tiếp theo là bài tự kiểm điểm và khai báo quá khứ: một tháng viết hai lần; mỗi bài khai dài khoảng 20 trang giấy viết tay. Viết xong thì có buổi tự khai báo tập thể để mọi người phê bình, khen chê. Ai khai nhiều thì được điểm là "tiến bộ".[7] Tùy theo cấp bậc hoặc thời gian phục vụ cho chính phủ Việt Nam Cộng hòa mà những người này bị bắt học tập cải tạo theo thời gian thông thường từ vài ngày đến 10 năm. Có trường hợp thời gian cầm cố lên đến 33 năm.[12] Tuy nhiên cũng có rất nhiều người không bị đưa đi học tập cải tạo hoặc chỉ trong 1 thời gian ngắn. Đó là những người hoặc là hoạt động tình báo cho phía Mặt trận giải phóng, hoặc là người được coi là "không có tội ác với nhân dân", như trường hợp Tổng thống Dương Văn Minh và một số dân biểu khác.

Vì chính sách dùng lao động để cải tạo tư tưởng nên lao động sản xuất là trọng điểm. Nghị quyết 49 đề ra 8 giờ lao động sản xuất mỗi ngày. Mỗi tuần thì có hai buổi học tập chính trị. Chiều thì có "lớp văn hóa".[7] Những người trong trại học tập cải tạo phải lao động làm việc ở các công trường, trong các trại cải tạo, mà nhiều người mô tả lại là cực nhọc, một phần trong số đó đã bị chết do không chịu được cuộc sống khắc nghiệt trong trại cải tạo, ăn uống thiếu thốn. Công việc thông thường là chặt cây, trồng cây lương thực, đào giếng, và cả gỡ mìn gây ra thương vong.[7]

Lao động cải tạo còn áp dụng cho các công dân vi phạm pháp luật, vướng vào tệ nạn xã hội nói chung, đặc biệt là trong giai đoạn hơn mười năm sau Chiến tranh Việt Nam trở đi.

Số người đi học tập[sửa | sửa mã nguồn]

Sau năm 1975 ở miền Nam có hơn 1.000.000 người thuộc diện phải ra trình diện. Theo Phạm Văn Đồng, con số người phải trải qua giam giữ sau này 30/4/1975 là hơn 200.000 trong tổng số 1 triệu người ra trình diện.[13] Tính đến năm 1980 thì chính phủ Việt Nam công nhận còn 26.000 người còn giam trong trại. Tuy nhiên một số quan sát viên ngoại quốc ước tính khoảng 100.000 đến 300.000 vẫn bị giam.[7] Ước tính của Hoa Kỳ cho rằng khoảng 165.000 người đã chết trong khi bị giam.[14] Theo nhà báo Huy Đức, viết trong cuốn "Bên thắng cuộc" cho tới đầu thập niên 1990, những người lính biệt kích bị bắt hồi đầu thập niên 1960, những tù binh "Ngụy" bị bắt hồi Mậu Thân (1968), hồi Chiến dịch Hạ Lào 1971 vẫn còn phải đang "cải tạo".[15]

Theo Aurora Foundation thì việc bị giam giữ dài hạn thường bị chuyển từ trại này sang trại khác có dụng ý ly gián để tù nhân không liên kết với nhau được và đường dây liên lạc với gia đình thêm khó khăn.[7]

Đời sống sau khi được thả[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều người trở về sau thời gian học tập cải tạo được đưa về địa phương để làm việc và sinh sống trong tình trạng quản chế tại gia. Vì xếp là có lý lịch xấu nên sau khi được trả tự do, cuộc sống của nhiều người học tập cải tạo và gia đình họ gặp nhiều khó khăn do tình trạng phân biệt đối xử. Tuy nhiên, sự phân biệt đối xử này đã giảm dần theo thời gian. Trong những người đã bị đưa đi học tập cải tạo, đã có nhiều người được đưa đi định cư ở hải ngoại, theo các chương trình nhân đạo như Chương trình Ra đi có Trật tự, một thỏa thuận giữa Việt Nam và Hoa Kỳ ký năm 1989. Theo đó thì chính phủ Mỹ dành ưu tiên nhập cảnh cho những cựu quân nhân, viên chức của Việt Nam Cộng hòa giam từ ba năm trở lên.[16]

Theo chiều hướng bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, cộng với các tác động tích cực của nhiều tổ chức của người Việt tại Hoa Kỳ về vấn đề tái định cư cho những người bị học tập cải tạo các chương trình sau đã và đang được tiến hành:

  • Chương trình Ra đi có Trật tự (Orderly Departure Program - ODP) kết thúc vào tháng 9 năm 1994. Chương trình này bao gồm đoàn tụ gia đình, con lai và bao trùm cả chương trình H.R.
  • Chương trình Tái định cư nhân đạo (Humanitarian Resettlement Program - HR)
  • Chương trình Tái định cư nhân đạo mới (hay Chương trình H.O. mới) chỉ dành cho những người phải học tập cải tạo sau năm 1975, chưa có cơ hội nộp đơn qua chương trình ODP.
  • Chương trình Tái định cư nhân đạo HR, cứu xét đơn năm 2005[17]

Thời kỳ Đổi mới[sửa | sửa mã nguồn]

Cải tạo lao động được duy trì sau thời kỳ Đổi mới là một cách kỷ luật giam giữ những đối tượng phạm tội hình sự, tệ nạn xã hội, bị kết tội là chống lại nhà nước CHXHCN Việt Nam.

  • Bà Bùi Thị Minh Hằng đã bị Chủ tịch UBND TP Hà Nội ra quyết định đưa vào cơ sở giáo dục Thanh Hà (Vĩnh Phúc) từ ngày 28-11-2011 cho tới 28.04.2012, vì đã nhiều lần xuống đường chống Trung quốc đòi chủ quyền biển đảo của Việt Nam nhưng nhà nước cho là bà Hằng lợi dụng điều đó để thực hiện các hành vi chống đối chính quyền.[18][19].

Nga[sửa | sửa mã nguồn]

Bài «Các ‘‘trại cải tạo’’ Nga» trên tờ La Croix cho biết, với gần 900.000 tù nhân, Nga đứng hàng đầu về số lượng người bị giam giữ, tuy nhiên có một điều đáng ngạc nhiên là, tại đất nước này chỉ có 7 nhà tù. Ngoài các tù nhân bị giam trong 7 nhà tù kể trên, khoảng 700.000 tù nhân của nước Nga sống trong 750 «khu trại cải tạo» nằm ở các vùng nông thôn.[4] Dù có một số thay đổi trong các trại cải tạo sau khi Liên Xô sụp đổ, nhưng tình trạng ở đây còn tệ hơn cả thời Brezhnev, vì tham nhũng và tình trạng vô kỷ luật hiện nay còn nghiêm trọng hơn.

Bắc Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Chính quyền Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên cũng áp dụng chính sách tù cải tạo, lao động khổ sai để giam giữ tội nhân chính trị. Những người tự nhận là cựu tù nhân đào thoát ra đã mô tả lại những thiếu thốn và biện pháp tra tấn trong trại, có khi tù nhân bị hành hung, biệt giam vào xà lim, hoặc hành quyết. Số tử vong theo lời kể của những người này lên đến 30%.[20]

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Theo một bản tin của BBC[21], trong chương trình học tập cải tạo được áp dụng tại Trung Quốc năm 1957, mà nhật báo tiếng Anh Beijing News gọi là một "hình phạt nhẹ", thì một người có thể bị gửi đi học tập cải tạo trong bốn năm mà không cần tòa án xét xử. Cũng theo bản tin này, năm 2005, Trung Quốc có dự định cải cách chương trình học tập cải tạo của nước này.

Tổng số người bị giam dưới dạng học tập cải tạo ở Hoa lục thời Mao Trạch Đông phương Tây ước đoán là từ 10 đến 15 triệu với số tử vong khoảng 5-10%. Thành phần bị giam là địa chủ, phú nông, công chức của Trung Hoa Dân quốc và cả các phần tử cộng sản bị thất sủng.[22] Đặng Tiểu Bình, tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốcnhà văn Cao Hành Kiện, người đoạt giải thưởng Nobel về văn học, cũng đã từng trải qua học tập cải tạo trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa Trung Quốc (1966-1976).

Những người hoạt động đối lập chính trị với nhà nước như trường hợp Hoa Xuân Huy (Hua Chunhui) và Ngụy Cường (Wei Qiang) kêu gọi thực thi dân chủ năm 2011 cũng bị đưa đi cải tạo.[23]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Roth, Mitchel.Prisons and Prison Systems: A Global Encyclopedia. Westport, CT: Greenwood Press, 2006.
  • Vô Ngã Phạm Khắc Hàm. "Cuộc đấu tranh Quốc Cộng tại Miền Nam sau năm 1975". Khởi Hành Năm XIV, số 159-160. Midway City, CA, Tháng 1-2, 2010.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Roth. tr 122
  2. ^ Army manual for re-education camps applies to US citizens, Autonomous Nonprofit Organization TV-Novosti
  3. ^ Tiếng Pháp: Centre d'Instruction à la Pacification et à la Contre-Guérilla
  4. ^ a ă http://www.viet.rfi.fr/quoc-te/20120817-nga-tiep-tuc-duy-tri-he-thong-trai-lao-cai-thoi-lien-xo
  5. ^ Roth. tr 289
  6. ^ Dommen, Athur. The Indochinese Experience of the French and the Americans, Nationalism and Communism in Cambodia, Laos, and Vietnam. Bloomington, IN: Đại học Indiana Press, 2001. Trang 943.
  7. ^ a ă â b c d Vietnam Re-education camps
  8. ^ Hàn gắn vết thương chiến tranh, ổn định đời sống nhân dân (1975 - 2005)
  9. ^ Roth. tr 288
  10. ^ a ă Vô Ngã. tr 36
  11. ^ Duyên Anh. Nhà tù: Hồi kí. Los Alamitos, CA: Xuân Thu, 1987. tr 109
  12. ^ "Chịu đựng khổ đau, chờ chồng đến chết" theo RFA
  13. ^ Le Livre Noir du Communisme: Crimes, Terreur, Répression do Robert Laffont, S.A, Paris xuất bản lần đầu năm 1997-Phần IV về Á Châu
  14. ^ Camp Z30-D: The Survivors
  15. ^ [Bên thắng cuộc – Cuốn I, Chương II: Cải tạo – Phần 6: "Học Tập"], ISBN 1-4840-4000-7
  16. ^ Accounts of Imprisonment and Reeducation
  17. ^ Các diện có thể nộp đơn xin tái định cư nhân đạo.
  18. ^ Bùi Thị Minh Hằng - Sự thật về một nhân vật đang bị lợi dụng
  19. ^ Bà Bùi Hằng kiện lãnh đạo Hà Nội BBC, 20.05.2012
  20. ^ "Đời khổ sai trong trại lao động Bắc Hàn" theo BBC
  21. ^ Trung Quốc dự định thay đổi chế độ học tập cải tạo tại BBC
  22. ^ Museum of Communism
  23. ^ "Hai nhà ly khai Trung Quốc bị bắt đi cải tạo lao động" theo RFI

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]