Giáo dục Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lễ khai giảng ngày 15 tháng 11 năm 1945Trường Đại học Quốc gia Việt Nam, cơ sở giáo dục đại học đầu tiên của chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Giáo dục Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nền giáo dục Việt Nam dưới chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nền giáo dục của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chính thức có mặt từ năm 1945 nhưng đến năm 1946 vì phải sơ tán trước cuộc phản công của Pháp nên mãi đến năm 1954 sau khi chính phủ Việt Minh về tiếp thu thủ đô Hà Nội và tiếp quản các cơ cấu hành chính, trong đó có Tổng nha Học chính của Liên bang Đông Dương cũ, thì mới có cơ sở vững vàng để thực hiện. Với chính thể mới, hệ thống giáo dục này tồn tại cho đến năm 1985 khi nền giáo dục hai miền Nam Bắc thống nhất, dù rằng việc thống nhất chính trị giữa hai miền đã diễn ra từ năm 1976.[1] Một đặc điểm của giáo dục Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là có tính định hướng chính trị và giáo dục được xem là một thành phần phục vụ quan điểm của nhà nước.[2]

Những quy định trong hiếp pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Điều 15, Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1946: "Nền sơ học cưỡng bách và không học phí. ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiếng của mình. Học trò nghèo được Chính phủ giúp. Trường tư được mở tự do và phải dạy theo chương trình Nhà nước."

Điều 33, Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1959: "Công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có quyền học tập. Nhà nước thực hiện từng bước chế độ giáo dục cưỡng bách, phát triển dần các trường học và cơ quan văn hoá, phát triển các hình thức giáo dục bổ túc văn hoá, kỹ thuật, nghiệp vụ, tại các cơ quan, xí nghiệp và các tổ chức khác ở thành thị và nông thôn, để bảo đảm cho công dân được hưởng quyền đó."

Giáo dục tiểu học và trung học[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay từ năm 1946 Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã cho áp dụng chương trình học của Hoàng Xuân Hãn (ban hành thời Đế quốc Việt Nam dưới chính phủ Trần Trọng Kim) ở cấp tiểu học và trung học. Nỗ lực của thập niên 1940 và 1950 cũng là phải xóa nạn mù chữ với sự đóng góp của Nha Bình dân Học vụ.[3] Năm 1950, hai bậc tiểu họctrung học được quy hoạch lại tổng cộng có 9 lớp:[4]

  1. tiểu học (cấp I), bốn năm;
  2. trung học cơ sở (cấp II), ba năm;
  3. trung học phổ thông (cấp III), hai năm.

Năm 1956, chính quyền lại ra nghị quyết cải tổ giáo dục phổ thông, đổi lại thành 10 năm:[2][4]

  1. tiểu học (cấp I), bốn năm;
  2. trung học gồm cấp II và cấp III, mỗi cấp có ba năm.

Nguyễn Khánh Toàn, Thứ trưởng Bộ Giáo dục đã dùng hệ thống giáo dục của Cộng hòa Nhân dân Trung QuốcLiên Xô làm mẫu với sự giúp đỡ của cố vấn Liên Xô. Chủ trương của hệ thống giáo dục mới đặt trọng tâm ở mặt thực dụng.[4] Xong năm lớp 10 học sinh thi lấy bằng trung học phổ thông.[1]

Học sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu học sinh trung tiểu học[5]
Niên học Cấp I Cấp II Cấp III
1964-65 2.160.000 670.000 80.000
1966-67 2.410.000 810.000 100.000

Số liệu vào giữa thập niên 1960 cho biết tổng cộng cả ba cấp có 10.150 trường sở, trong đó có 242 trường cấp III. Số học sinh lên gần ba triệu và khoảng 80-85% trẻ em ở lứa 7 đến 10 tuổi đi học. Số học sinh từ cấp I lên cấp II rất thấp, chỉ khoảng 15%; từ cấp II lên cấp III xuống chỉ còn 10%.[6] Cũng khoảng thời gian đó có 90.000 giáo viên.[5]

Trường dạy nghề[sửa | sửa mã nguồn]

Học sinh đậu cấp II có thể ghi danh học nghề thay vì lên cấp III. Khoảng 20% học sinh xong cấp II được chuyển sang trường nghề. Loại trường huấn nghệ có chương trình 2 năm, 2,5 năm và 3 năm. Cả nước có 106 trường (1962) đào tạo hơn 55.000 học sinh trong số đó 75% thuộc thành phần giai cấp công nông.[6]

Giáo dục đại học[sửa | sửa mã nguồn]

Bậc đại học thì vì lúc đầu phải sơ tán nên chủ yếu vẫn dùng chương trình thời Pháp thuộc kể cả tiếng Pháp để giảng dạy đến năm 1950 mới đổi sang tiếng Việt. Viện Đại học Đông Dương (tiếng Pháp: Université Indochinoise) phải đóng cửa nhưng rồi tái khai giảng vào cuối năm 1945 với tên mới: Trường Đại học Quốc gia Việt Nam với hơn 1.100 sinh viên ghi danh. Lúc đó trường có năm ban: Y khoa, Khoa học, Văn khoa, Chính trị xã hội, và Mỹ thuật.[7] Trường này sau đó chuyển lên Việt Bắc và được sắp xếp lại. Trường Đại học Luật bị bỏ hẳn, thay thế bởi Trường Đại học Chính trị Xã hội, đến năm 1948 thì gọi là Trường Pháp chính. Trong khi đó Văn khoa dạy thêm ngoại ngữ: Anh, NgaHoa.[2]

Sau khi trở về Hà Nội, Chính phủ ký nghị định ngày 6 tháng 3 năm 1956 tổ chức lại cấp đại học và lập ra năm trường đại học: Bách khoa, Nông lâm, Sư phạm, Tổng hợp (Văn khoa và Khoa học), và Y dược. Cũng kể từ đó giáo trình đại học bỏ mô hình của Pháp và theo chương trình học của Liên Xô, chú tâm đến mặt thực dụng.[2][4] Học sinh phải chọn một chuyên môn rất sớm và rẽ theo học trình đó. Cũng theo mô hình của Liên Xô thì mỗi trường cũ đứng riêng thành trường độc lập, giao cho từng bộ quản lý. Bộ Xây dựng nắm Đại học Kiến trúc, Bộ Nông lâm điều khiển Đại học Nông lâm, v.v. Hệ thống giáo dục đại học bị phân tán đơn lẻ. Bộ Giáo dục không giữ vai trò quản lý mà chỉ là cơ quan liên lạc giữa các trường sở.[4] Bậc đại học của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong thời gian hơn 20 năm không cấp bằng tiến sĩ nào nên sinh viên cần đào tạo kiến thức cao hơn thì phải đi du học ở Liên XôĐông Âu.[1]

Bắt đầu từ niên học 1959-1960, tuyển viên muốn nhập học đại học bị chia thành ba nhóm với những điều kiện căn cứ trên giai cấp và lý lịch như sau đây:[4]

  • Thành phần cán bộ kháng chiến, thanh niên giai cấp công nông, cán bộ dân tộc thiểu số: 40%
  1. Lý lịch sạch
  2. tư tưởng chính trị vững chắc
  3. xong lớp 10, nếu không thì có thể phải thi thêm một kỳ thẩm định nhưng vẫn được ưu tiên nhập học
  • Thành phần cán bộ: 35%
  1. đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam
  2. con em bần nông, cố nông, hoặc trung nông
  3. con em liệt sĩ
  • Thành phần khác: 25%
  1. chọn theo điểm
  2. thành phần "giai cấp bóc lột" không được quá 3%.

Vì quan niệm giáo dục phải phục vụ mục tiêu chính trị nên bất kể học ở chuyên ngành nào, sinh viên đại học đều phải học triết học Mác-Lê và lý thuyết đấu tranh giai cấp.[1] Ngay trường Y khoa Hà Nội cũng phải tham gia chỉnh huấn Cải cách ruộng đất cùng "học tập công nông". Sinh viên khi tốt nghiệp không trình luận án mà chỉ thi hai phần: Chuyên môn và Chính trị.[8]

Trong niên học năm 1975-76 thì lối học tập chính trị được đem áp dụng triệt để ở miền Nam và cả năm học đó được dành cho "công tác chính trị tư tưởng" cho các sinh viên và giảng viên.[9]

Các cơ sở giáo dục đại học[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trường Đại học Y khoa Hà Nội: trước thuộc Viện Đại học Hà Nội nhưng theo nghị định năm 1956 thì tách riêng. Trường Y khoa bị cắt khỏi Bộ Giáo dục và chuyển sang Bộ Y tế và học trình rút bỏ từ bảy năm thành sáu năm, loại bỏ ngoại trú, nội trú và luận án. Ngoài ra Bộ Y tế mở một chương trình hai năm học bắt đầu từ năm 1960 ở Thanh Hóa, Nghệ An (Vinh), Nam Định, Vĩnh Phúc, Thái Bình, Hà Nam, Hà Đông và Phú Thọ để đào tạo hàng ngàn y sĩ trung cấp trong khi học trình bác sĩ y khoa rút xuống còn bốn năm. Việc này diễn ra được hai năm nhưng vì thấy không hiệu quả nên sau đó lại trở lại học trình sáu năm cho y khoa.[10]
  • Trường Đại học Bách khoa Hà Nội: thành lập năm 1956 với bốn ngành, Cơ khí, Điện & Mỏ, Luyện kim & Hóa học, và Thực phẩm & Xây dựng.[11]
  • Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội: thành lập năm 1956, tập trung vào các ngành khoa học cơ bản. Năm 1993, trường này sáp nhập với Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I và Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội để hình thành Đại học Quốc gia Hà Nội.
  • Trường Đại học Sư phạm Hà Nội: thành lập năm 1951, ban đầu với tên gọi Trường Đại học Sư phạm Khoa học (1951–1956), sau đó là Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (1956-1966), Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I (1966–1993), Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (1993–1999) thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, và trở lại tên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội vào tháng 10 năm 1999.
  • Trường Đại học Nông lâm Hà Nội: thành lập năm 1956. Các tên gọi khác: Học viện Nông Lâm (từ 1958), Trường Đại học Nông nghiệp (từ 1963), Trường Đại học Nông nghiệp I (từ 1967), Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội (từ 2007), và Trường Học viện Nông Nghiệp Việt Nam (từ 2014).

Số sinh viên[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1964 có khoảng 27.000 sinh viên cấp đại học, trong số đó khoảng 20.000 theo học ở Hà Nội.[6]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b Giáo dục và Thi cử 1954-1975: Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
  2. ^ a ă â b Nền giáo dục Việt Nam dưới chế độ Cộng sản từ 1945 đến 1975
  3. ^ Nghị định Bộ Giáo dục về nạn mù chữ
  4. ^ a ă â b c d Ninh, Kim. A World Transformed: The Politics of Culture in Revolutionary Vietnam, 1945-1965. Ann Arbor, MI: The University of Michigan Press. tr 204-236.
  5. ^ a ă Salisbury, Harrison. Behind the Lines--HanoiNew York: Harper & Row, 1967. tr 127-132.
  6. ^ a ă â Smith, Harvey H et al. Area Handbook for North Vietnam. Washington, DC: US Government Printing Office, 1967. tr 137-152.
  7. ^ Đại học Quốc gia Hà Nội
  8. ^ "Trăm năm dạy ứng xử nghề nghiệp ở đại học Y Hà Nội"
  9. ^ Lịch sử hình thành khoa Kỹ thuật Hóa học
  10. ^ Lịch sử Trường Đại học Y Hà Nội
  11. ^ Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]