Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Cộng hòa tự trị Nam Kỳ)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ
Chính phủ tự trị trong Liên hiệp Pháp
1946–1948
Quốc kỳ Quốc huy
Quốc kỳ Bảo hộ kỳ
Khẩu hiệu
Xứ Nam Kỳ của người Nam Kỳ
Vị trí của Nam Kỳ quốc
Cương giới Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ trên bản đồ Đông Dương.
Thủ đô Sài Gòn
Ngôn ngữ Tiếng Việt
Tôn giáo Công giáo
Phật giáo
Cao Đài
Hòa Hảo
Chính thể Cộng hòa lập hiến
Ủy viên Cộng hòa
 - 1946 Jean Marie Arsène Cédile
 - 1948 Nguyễn Văn Xuân (cuối cùng)
Thời đại lịch sử Chiến tranh lạnh
 - Độc lập (từ Pháp) 1 tháng 6, 1946
 - Được công nhận 1946
 - Giải thể 2 tháng 6, 1948
Tiền tệ Đồng

Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ (tiếng Pháp: République autonome de Cochinchine) - hay các tên gọi khác: Nam Kỳ Cộng hòa quốc, Nam Kỳ quốc, Cộng hòa Nam Kỳ, Nam Kỳ Tự trị - là một thực thể chính trị tồn tại từ 1946 đến 1948, về danh nghĩa quản lý lãnh thổ Nam Kỳ và được coi như một quốc gia nằm trong khối Liên hiệp Pháp. Hiện nay, chính thể này không được giới sử học Việt Nam thừa nhận.

Một số đặc điểm của Nam Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Nam Kỳ là vùng đất mới được khai hoang có những đặc điểm lịch sử, xã hội, kinh tế, chính trị, luật pháp, văn hoá, tâm lý, phong tục, tập quán,... khác với Bắc KỳTrung Kỳ.

Thời Pháp thuộc, Nam Kỳ là thuộc địa do người Pháp trực tiếp cai trị với một hệ thống luật pháp khác hệ thống được áp dụng tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Tại Nam Kỳ không tồn tại bộ máy hành chính của triều đình Huế như ở Bắc và Trung Kỳ.

Về mặt kinh tế, Nam Kỳ hình thành một tầng lớp đại địa chủ người Việt giàu lên nhờ chính sách khai hoang của chính quyền thuộc địa, nhiều người trong tầng lớp này mang quốc tịch Pháp. Thương mại tại Nam Kỳ đặc biệt là ngoại thương (xuất khẩu nông sản) khá phát triển. Do kinh tế phát triển nên mức sống tại Nam Kỳ cao hơn các miền khác.

Nam Kỳ có nền báo chí hình thành sớm nhất tại Việt Nam và phát triển tương đối tự do vì người Pháp áp dụng quy chế thuộc địa chứ không phải quy chế bảo hộ như tại Bắc và Trung Kỳ. Hơn nữa Nam Kỳ còn có một tầng lớp trí thức Tây học, nhiều người trong số này từng du học tại Pháp hoặc có quốc tịch Pháp.

Chính vì thế mức độ Âu hoá về kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị, luật pháp, tập quán, lối sống... ở Nam Kỳ khá cao. Ngoài ra còn phải kể đến những khác biệt do điều kiện địa lý, đặc điểm dân cư, cấu trúc xã hội và lịch sử chia cắt nhiều thế kỷ với miền Bắc (Trịnh-Nguyễn phân tranh) tạo ra.

Tất cả tạo nên một tâm lý phổ biến trong dân cư Nam Kỳ coi các vùng miền khác là những xứ sở xa lạ. Tâm lý này có thể được một số chính trị gia khai thác vì mục đích chính trị, cũng là cơ sở để người Pháp chấp nhận sự thành lập nhà nước tự trị tại Nam Kỳ.

Trước năm 1945, ở Nam Kỳ đã có những cá nhân và tổ chức vận động, tuyên truyền đòi người Pháp mở rộng quyền tự trị cho người Việt như Đảng Lập hiến Đông Dương. Các cuộc vận động này do tầng lớp trung lưu và thượng lưu chủ xướng. Sau năm 1945, ý tưởng chính trị này vẫn được các chính khách Nam Kỳ theo đường lối trung dung theo đuổi.

Hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tuyên bố ngày ngày 24 tháng 3 năm 1945 của tướng De Gaulle về Đông Dương có đoạn "Năm quốc gia tạo nên Liên bang Đông Dương được phân biệt bằng văn minh, chủng tộc và truyền thống, sẽ vẫn duy trì những đặc điểm riêng của họ trong Liên bang."[1][2]. Như vậy, cuối Thế chiến thứ II, người Pháp vẫn xem Bắc Kỳ - Trung Kỳ, Tây Nguyên và Nam Kỳ của Việt Nam là ba quốc gia khác nhau. Sau này việc cho phép thành lập Cộng hòa tự trị Nam Kỳ cũng nằm trong kế hoạch thành lập Liên bang Đông Dương của Pháp.

Khi Đệ nhị Thế chiến kết thúc với Đế quốc Nhật Bản đầu hàng quân Đồng Minh, lãnh thổ Việt Nam từ vĩ tuyến 16 trở xuống do Quân đội Anh dưới quyền chỉ huy của tướng Douglas Gracey nhân danh lực lượng Đồng Minh tiếp quản và sau đó đã giao lại cho Pháp tiếp tục quản lý.

Ngày 23 tháng 9 năm 1945 người Pháp tái vũ trang và sẵn sàng tiếp thu Sài Gòn nhưng phải đợi đến tháng 10 khi quân Anh chính thức trao chủ quyền lại cho Pháp thì Quân đội Pháp mới ồ ạt đổ bộ[3] rồi mở rộng đánh chiếm toàn Nam Bộ.

Tháng 2 năm 1946, Ủy viên Cộng hòa Nam Kỳ (Commissaire République, tức chức vụ mới lập để gọi người Pháp cầm đầu hành chánh ở Nam Kỳ) Jean Cédile cho lập Hội đồng tư vấn Nam Kỳ (Conseil consultatif de Cochinchine) với 12 ủy viên. Thành phần Hội đồng gồm 4 người Pháp và 8 người Việt nhưng tất cả đều có quốc tịch Pháp.[4] Mục đích của Pháp là tách Nam Kì ra khỏi Việt Nam thống nhất.[5]

Chính Hội đồng này sang tháng 3 đã đệ trình một kiến nghị với chữ ký của 8 ủy viên người Việt lên Cao ủy Đông Dương (tương đương với chức Toàn quyền Đông Dương cũ) là đô đốc Georges Thierry d'Argenlieu đề nghị thành lập nước Nam Kỳ Tự trị.[6] Cédile tỏ rõ ý định ủng hộ ý đồ "Nam Kỳ tự trị" và hậu thuẫn những đảng phái thân Pháp như Đảng Nam Kỳ của Béziat để vận động công chúng. Những nhóm khác như Đông Dương Tự trị Đảng và Việt Nam Tân dân Đảng cũng ngả theo lập trường "Nam Kỳ tự trị" của Pháp. Cùng lúc đó thì Đảng Tân Dân chủ của bác sĩ Nguyễn Văn Thinh tuy tham gia vào Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ vẫn cố gắng tìm chỗ đứng riêng để thu hút các lực lượng không cộng sản. Đến 31/05/1946 Hội đồng tư vấn Nam Kỳ đổi thành Hội đồng Nam Kỳ (Conseil de Cochinchine) với số ủy viên tăng lên 42 người.

Trong khi Hội nghị Fontainebleau sắp diễn ra ở Pháp thì Cao ủy Đông Dương là d'Argenlieu đơn phương tán thành việc thành lập Cộng hòa tự trị Nam Kỳ ngày 27 tháng 5 năm 1946 và ra tuyên cáo ngày 1 tháng 6 trước đám đông tụ tập ở Nhà thờ Đức Bà, Sài Gòn. Ngày 5 tháng 6, tổng trưởng Pháp Marius Moutet chấp thuận hành xử của d'Argenlieu để "bảo vệ quyền lợi của dân tộc Nam Kỳ".[7] Cũng vào đầu tháng 6, bác sĩ Nguyễn Văn Thinh được đề cử làm thủ tướng chính phủ Cộng hòa Nam Kỳ tự trị. Ủy viên Cédile liền ký với tân thủ tướng một hiệp ước nhìn nhận xứ Nam Kỳ là một xứ tự do, riêng biệt trong khuôn khổ của Liên bang Đông Dương.

Giải thể[sửa | sửa mã nguồn]

Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh được đề cử làm thủ tướng nhưng chỉ được ít lâu thì ông tự sát. Thay ông là bác sĩ Lê Văn Hoạch rồi Nguyễn Văn Xuân. Trong thời gian này, để thu hút sự ủng hộ của dân chúng đối với nhà nước Cộng hòa tự trị Nam Kỳ mới thành lập, một số người cổ động cho khẩu hiệu "Xứ Nam Kỳ của người Nam Kỳ".

Tình hình chính trị tại Nam Kỳ thời điểm này rất phức tạp. Có nhiều phe nhóm khác nhau cùng tồn tại. Các phe phái cố gắng củng cố quyền lực riêng như Trần Văn Soái (Năm Lửa) chiếm đóng Cái Vồn (Cần Thơ), Lâm Thành Nguyên (Hai Ngoán) giữ Cái Dầu (Châu Đốc), Lê Quang Vinh (Ba Cụt) giữ Thốt Nốt (Long Xuyên), Nguyễn Giác Ngộ đặt bản doanh ở Cao Lãnh (Kiến Phong), Cao Đài cát cứ ở Tây NinhBình Xuyên của Lê Văn Viễn (Bảy Viễn) định doanh ở Chánh Hưng (Chợ Lớn). Đó là chưa kể đến các tổ chức chính trị như Việt Minh, Đại Việt, v.v. Người Pháp cung cấp tài chính và vũ khí cho các nhóm này, trên danh nghĩa là giữ an ninh, nhưng chủ ý là chống lại lực lượng Việt Minh. Những nhóm này thường xung đột, tranh giành quyền lực khiến tình hình thêm hỗn loạn.[8]

Ngày 19 Tháng Chạp năm 1947 Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân bay sang Hương Cảng yết kiến Cựu hoàng Bảo Đại và xác nhận ý định thống nhất Nam Kỳ vào nước Việt Nam và mời cựu hoàng ra chấp chánh hầu điều đình tìm một giải pháp thứ ba ngoài Pháp và Việt Minh. Việc giải thể Cộng hòa tự trị Nam Kỳ mãi đến ngày 8 Tháng Ba năm 1949 mới bắt đầu theo Thỏa ước Élysées giữa tổng thống Pháp Vincent Auriol và Bảo Đại. Theo đó thì Pháp công nhận nước Việt Nam thống nhất.[9]

Tháng Tư năm 1949 Nam Kỳ mở cuộc bầu cử Quốc hội chọn 16 dân biểu Pháp và 48 dân biểu người Việt. Quốc hội này đã biểu quyết chấm dứt "nước Nam Kỳ" và hiệp nhất vào nước Việt Nam,[9] để sau đó lập ra chính phủ Quốc gia Việt Nam.

Cuối cùng ngày 22 tháng 5 năm 1949, Quốc hội Pháp chính thức bỏ phiếu thông qua việc sáp nhập Nam Kỳ vào Quốc gia Việt Nam.

Quốc kỳ và Quốc ca[sửa | sửa mã nguồn]

Mẫu quốc kỳ giai đoạn 1 tháng 6 - 31 tháng 10 năm 1946.

Từ ngày 1 tháng 6, quốc gia này dùng quốc kỳ nền vàng, với 3 sọc xanh vắt ngang ở giữa. Ý nghĩa của lá cờ là tượng trưng ba con sông Đồng Nai, Tiền GiangHậu Giang (màu xanh lam) trên đất Nam Kỳ.[10] Dư luận bấy giờ không ưa lá cờ này vì cho rằng màu sắc không hợp nhãn quan nên biếm gọi là "cờ sốt rét".[11]

Lá cờ này tồn tại được 2 năm cho đến khi chính quyền Cộng hòa tự trị Nam Kỳ giải thể và sát nhập vào Quốc gia Việt Nam do cựu hoàng Bảo Đại đứng đầu ngày 2 tháng 6 năm 1948.

Về quốc ca, bản nhạc này lấy tám câu đầu của Chinh phụ ngâm làm lời ca, bị công luận cười chê vì nội dung lấy lời than khóc của một người vợ nhớ chồng mà lại đem làm lời ca.[12] Tác giả của bài này là Võ Văn Lúa.[13]

Chính phủ[sửa | sửa mã nguồn]

Chính phủ Cộng hòa tự trị Nam Kỳ hay còn gọi tên khác là "Nam Kỳ tự trị", về danh nghĩa được Hội đồng Nam Kỳ thành lập ngày 27 tháng 5 năm 1946, dưới sự "sắp đặt" của Jean Marie Arsène Cédile[14] (Ủy viên cộng hòa Pháp tại Nam Bộ) và Georges Thierry d'Argenlieu[15] (Cao ủy Pháp tại Đông Dương). Đây được xem là một chiêu bài chủ đạo của Pháp nhằm tách Nam Kỳ ra khỏi Việt Nam.[14] Tuy nhiên, chính quyền này bị công luận cho là "bù nhìn" và ly khai, phá hoại việc đất nước thống nhất, nên chỉ tồn tại trong thời gian ngắn rồi bị giải thể.

Chính phủ Cộng hòa tự trị Nam Kỳ là một chính phủ lâm thời thân Pháp có quyền lực nhỏ bé. Cộng hòa tự trị Nam Kỳ không được công luận ủng hộ. Người Pháp cũng không tin tưởng giao thực quyền cho chính phủ này. Vì những lý do đó chính phủ Cộng hòa tự trị Nam Kỳ có thể được xem là một thất bại.[16]

Đứng đầu chính phủ là thủ tướng do Hội đồng Cố vấn Nam Kỳ bầu lên. Hội đồng này do Ủy viên Cộng hòa Pháp, chức danh mới của thống đốc Nam Kỳ, tuyển chọn. Người đó là Jean Marie Arsène Cédile, nắm quyền an ninh bên trong và bên ngoài nước Cộng hòa.[17] Ngoài ra Cao ủy Pháp tại Đông Dương (chức danh mới của Toàn quyền Đông Dương) còn có quyền phê chuẩn hoặc bác bỏ mọi bổ nhiệm của Thủ tướng.[18]

Khi Chính phủ tự trị Nam Kỳ được thành lập, ngoài các cuộc xung đột vũ trang ở Nam Bộ, Pháp đã nhiều lần gây hấn với Chính quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bằng việc tố cáo Ủy ban Hành chính lâm thời Nam Bộ là bất hợp pháp. Cao ủy Pháp tại Đông Dương thông báo với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa rằng Nam Bộ là thuộc địa của Pháp do đó chỉ Quốc hội Pháp mới có thể quyết định sự thay đổi chính thể tại Nam Kỳ dựa trên kết quả của một cuộc trưng cầu ý dân tại Nam Kỳ. Đáp lại những tuyên bố gây hấn của Pháp về tính hợp pháp của Ủy ban Hành chính lâm thời Nam Bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời cao ủy Pháp d'Argenlieu rằng ủy ban này được thành lập từ tháng 8/1945 dưới quyền chỉ huy của Chính phủ trung ương, ủy ban này được Hiệp định sơ bộ 6-3 và Tạm ước 14-9 công nhận.[17]

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Chính phủ Nam Kỳ trải qua cải tổ nhiều lần:

Ngày 27 tháng 5 năm 1948, thủ tướng Nguyễn Văn Xuân trở thành thủ tướng của Chính phủ Trung ương lâm thời Việt Nam (Provisional Central Government of Vietnam).

Thủ tướng[sửa | sửa mã nguồn]

Thứ tự Tên Từ Đến Chức vụ
Nguyễn Văn Thinh 26 tháng 3, 1946 31 tháng 5, 1946 Thủ tướng lâm thời
1 Nguyễn Văn Thinh 1 tháng 6, 1946 10 tháng 11, 1946 Thủ tướng
2 Lê Văn Hoạch 29 tháng 11, 1946 29 tháng 9, 1947 Thủ tướng
3 Nguyễn Văn Xuân 8 tháng 10, 1947 27 tháng 5, 1948 Thủ tướng

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sockeel-Richarte: La Problème de la Souveraineté Française sur l'Indochine, in Le Général de Gaulle et l'Indochine 1940–1946, tr.26
  2. ^ Martin Shipway, The Road to War: France and Vietnam 1944-1947, tr. 129, Berghahn Books, 2003, trích:"The five lands which comprise the Indochinese Federation, and which are distinguished by civilisation, race and traditions, will maintain their characters within the Federation."
  3. ^ Hoàng Cơ Thụy, Việt sử khảo luận, trang 2026, Nxb Nam Á, Paris, 2002
  4. ^ Goodman, Allan E, Politics in War: The Bases of Political Community in South Vietnam, page 20, Harvard University Press, 1973
  5. ^ Lê Mậu Hãn chủ biên, Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập III, trang 47
  6. ^ Hoàng Cơ Thụy. Trang 2089.
  7. ^ Hoàng Cơ Thụy. Trang 2102.
  8. ^ Hồi ký về chiến khu An Thành, phần 7: Nam Kỳ Quốc, Website Đại Việt Quốc dân Đảng
  9. ^ a ă 45-54 Chín năm khói lửa, sự thất bại của một chiến lược, Tô Vũ
  10. ^ Hoàng Cơ Thụy. Trang 2012.
  11. ^ Quốc kỳ và quốc ca Việt Nam, Nguyễn Ngọc Huy
  12. ^ Nguyễn Long Thành Nam, Phật giáo Hòa Hảo trong lòng lịch sử dân tộc, Phần 4: Phật giáo Hòa Hảo và cách mạng, Chương 10: Sơ lược diễn tiến đấu tranh tại miền Nam Việt Nam, Phần 7: Nam Kỳ Quốc, Tập san Đuốc Từ Bi, năm 1991
  13. ^ Âm nhạc Việt Nam cận đại--Quốc ca Việt Nam
  14. ^ a ă Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập hồi ký, Những năm tháng không thể nào quên, trang 279, NXB Trẻ, Hà Nội.
  15. ^ Lịch sử Tây Nam Bộ kháng chiến, Tập 1 (1945-1954), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2010
  16. ^ Stein Tonnesson, Vietnam 1946: How the War Began, University of California Press, 2010, trích: "In Saigon, French authorities established a provisional Cochinchinese governmanet, but inasmuch as an overwhelming majority of southerners favored national unification, the provisional government only represented a tiny, wealthy, pro-French minority. It faced a hostile public opinion and an increasingly powerful guerrilla movement, led by the Vietminh in cooperation with the powerful religious sets. The French never trusted the Cochinchinese government enough to give it real power. The experiment Cochinchinese autonomy thus proved a failure."
  17. ^ a ă Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập hồi ký, Những năm tháng không thể nào quên, trang 335, 336, NXB Trẻ, Hà Nội.
  18. ^ Hammer, Ellen. Struggle for Indochina, 1940-1955. Stanford, CA: Stanford University Press, 1955. tr 169
  • Goodman, Allan E. Politics in War. Cambridge, MA: Harvard University Press, 1973.
  • Hoàng Cơ Thụy. Việt sử khảo luận. Paris: Nam Á, 2002.