Chính phủ bù nhìn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Chính phủ bù nhìn là chính phủ tại một nước này do một nước khác dùng vũ lực lập ra và điều khiển chứ không phải do dân nước đó lập ra. Nhìn chung, khi xảy ra chiến tranh, các lực lượng bên ngoài đều cố gắng thiết lập các Chính phủ bù nhìn bản xứ, nhằm tạo điều kiện thuận lợi khai thác lực lượng bản xứ theo mục đích của mình, xoa dịu sự chống đối của người bản xứ, cũng như tránh những tranh cãi hoặc sự lên án của dư luận chính quốc.

Một chính phủ bù nhìn có vẻ ngoài độc lập giống như một quốc gia thông thường, cũng có quốc kỳ, quốc ca, hiến pháp, pháp luật, nhưng thực tế bên trong bộ máy của nó bị chi phối bởi quyền lực từ một quốc gia bên ngoài.[1]. Thuật ngữ này là một phép ẩn dụ, so sánh một chính phủ như một con rối được giật dây bởi kẻ múa rối bên ngoài.[2] Tùy theo cách đánh giá và quan điểm cá nhân của mỗi nhà sử học mà một chính phủ trong điều kiện một quốc gia bị lực lượng quân đội nước ngoài chiếm đóng có được xem là bù nhìn hay không.

Thời Thế chiến thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Có quan điểm cho rằng một số chính phủ sau đây là chính phủ bù nhìn:

Việt Nam thời phong kiến[sửa | sửa mã nguồn]

Theo đánh giá của các nhà sử học thời Quân chủ và các nhà sử học hiện đại Việt Nam, các vị vua và lãnh chúa dưới đây là bù nhìn:

Sử gia Ngô Sĩ Liên nhận xét: "Than ôi, người làm tôi trung với nước tuy chết vì nghĩa không có tội gì, mà để lại tiếng thơm mãi mãi, còn bọn bất trung phản quốc, vẫn không tránh khỏi chết, lại còn để tiếng xấu ngàn năm, thực đúng như thế."

Chiến tranh Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Rất khó xác định được đâu là chính quyền bù nhìn trong thời gian này (1950-1953) vì cả hai bên đều buộc tội bên kia là "Chính quyền bù nhìn". Nhà nước tại Nam Triều Tiên là do các chính trị gia theo chủ nghĩa dân tộc lập ra dưới chế độ quân quản của Hoa KỳLiên Hợp Quốc, còn Bắc Triều Tiên là do những người cộng sản từng hoạt động du kích chống Đế quốc Nhật Bản lập ra dưới chế độ quân quản của Liên Xô. Cả hai đều chưa từng có thực quyền trên toàn lãnh thổ Triều Tiên, chưa từng lãnh đạo nhân dân Triều Tiên trước đó và đều hình thành dưới chế độ quân quản của nước ngoài. Khi Đồng minh tiến vào Triều Tiên, nước này vẫn chưa có tư cách của một quốc gia độc lập, nên rất khó xác định nhà nước nào có tính chính danh.

Chiến tranh Đông DươngChiến tranh Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Người biểu tình phản chiến Mỹ với sự châm biếm "Con rối Sài Gòn"

Khác với Chiến tranh Triều Tiên, trước khi chiến tranh Đông Dương nổ ra thì Việt Nam đã tuyên bố độc lập. Ngày 11 tháng 3 năm 1945, vua Bảo Đại tuyên bố "Kể từ ngày hôm nay, Hòa ước Bảo hộ ký kết với nước Pháp được hủy bỏ và vô hiệu hóa. Việt Nam thu hồi hoàn toàn chủ quyền của một Quốc gia Độc lập.".[4] Sau đó vua Bảo Đại giải tán nội các cũ và thành lập Đế quốc Việt Nam. Tranh thủ thời cơ Quân đội Đế quốc Nhật Bản án binh bất động chờ giải giới và sự ủng hộ của đông đảo quần chúng, Mặt trận Việt Minh (trước đó vốn được OSS hỗ trợ trong việc cung cấp vũ khí, tuyên truyền quần chúng và đào tạo sĩ quan, binh lính để chống Nhật) đã tiến hành cuộc Cách mạng tháng Tám giành chính quyền trên cả nước từ tay Đế quốc Việt Nam, trước khi các lực lượng quân sự nước ngoài cũng như các tổ chức chính trị khác, trong đó một số được sự hậu thuẫn từ nước ngoài, kịp phản ứng, lập nên chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa. Ngày 23 tháng 8 năm 1945, vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị để trao quyền cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[5]

Trong thời gian trước khi quân đồng minh vào Việt Nam giải giáp quân đội Nhật, chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa do Việt Minh lãnh đạo đã kịp thực hiện tuyên bố độc lập và toàn vẹn lãnh thổ. Nhà nước này đã ban hành nhiều sắc lệnh, tổ chức chính quyền các cấp và thực hiện tuyển cử Quốc hội trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Dù các chính trị gia đối lập với Việt Minh cáo buộc cuộc tuyển cử là không công bằng (xem thêm Quốc hội Việt Nam khóa I), nhưng đây có thể được xem là chính phủ dân cử đầu tiên do người Việt Nam tự thiết lập và được đánh giá mang tính chính danh.

Sau đó, bằng việc ký kết Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt (1946) ngày 6 tháng 3 năm 1946, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Pháp công nhận là một quốc gia tự do trong Liên bang Đông Dương và trong khối Liên hiệp Pháp, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng.[6] Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Pháp tiếp tục đàm phán tại Hội nghị Fontainebleau 1946 về nền độc lập của Việt Nam trong Liên hiệp Pháp và việc thống nhất Việt Nam. Hội nghị Fontainebleau thất bại nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn ký với Pháp Tạm ước Việt - Pháp về quan hệ giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Pháp trên các phương diện văn hoá, tiền tệ, thuế quan,... và đảm bảo tôn trọng các lợi ích kinh tế, văn hóa của Pháp tại Việt Nam.

Năm 1945, nhằm thành lập Liên bang Đông Dương theo những ý tưởng đã được nêu trong Tuyên bố ngày 24 tháng 3 năm 1945 của chính phủ Charles de Gaulle, người Pháp cho phép thành lập một nhà nước tại Nam Kỳ với tên gọi Cộng hòa tự trị Nam Kỳ (République autonome de Cochinchine), còn được gọi là Nam Kỳ Quốc, vào tháng 6 năm 1946, do bác sĩ Nguyễn Văn Thinh làm Thủ tướng. Những người ủng hộ Việt Minh đã kết án chính phủ Nam Kỳ Quốc là một chính phủ bù nhìn vì trên thực tế chính phủ này phụ thuộc Pháp về tài chính, và quân sự. Ngoài ra Cao ủy Pháp tại Đông Dương còn có quyền phê chuẩn hoặc bác bỏ mọi bổ nhiệm của Thủ tướng Nam Kỳ quốc. Ngày 8 tháng 3 năm 1949, Tổng thống Pháp Vincent Auriol đã ký với cựu hoàng Bảo Đại Hiệp ước Elysée công nhận Việt Nam là nước độc lập nằm trong Liên hiệp Pháp. Sau đó, ngày 22 tháng 5 năm 1949, Quốc hội Pháp bỏ phiếu thông qua quyết định trả thuộc địa Nam Kỳ cho Quốc gia Việt Nam.

Quốc gia Việt Nam (hậu thân là Việt Nam Cộng Hòa) do Bảo Đại đứng đầu cũng được thành lập thông qua đàm phán giữa Pháp và các chính trị gia có lập trường chống Việt Minh, được Pháp coi là "Giải pháp Bảo Đại". Kỳ thực Pháp coi giải pháp Bảo Đại chỉ là do tình thế thúc ép, họ không tin tưởng và tôn trọng chính phủ này. Năm 1949, Tổng tham mưu trưởng lục quân Pháp, đại tướng Revers sau chuyến khảo sát tình hình Đông Dương đã có bản tường trình mật trong đó viết: "Vấn đề điều đình với Việt Nam thì tìm những người quốc gia chống cộng để điều đình. Giải pháp Bảo đại chỉ là một giải pháp thí nghiệm, nhưng chế độ Bảo Đại là một chế độ ung thối với sự tham nhũng, buôn lậu đồng bạc, buôn lậu giấy phép nhập cảng, những khu chứa cờ bạc đĩ điếm..." (Trung tâm du hí Đại thế Giới ở Chợ Lớn được chính phủ Bảo Đại cho phép công khai sòng bạc và chứa mại dâm để kiếm chác). Bản tường trình sau đó bị lộ khiến chính phủ Pháp "muối mặt", và Revers bị cho về hưu non sau khi ra khai trình tại Hội đồng tối cao quân lực. Bản thân Bảo Đại cũng nhận xét rằng: "Cái được gọi là giải pháp Bảo Đại thực ra là giải pháp của người Pháp."[7]

Sau khi Pháp thất bại, Quốc gia Việt Nam theo Pháp tập trung vào miền Nam Việt Nam. Dưới sự hậu thuẫn của Hoa Kỳ, Bảo Đại bị Ngô Đình Diệm phế truất thông qua một cuộc bầu cử bị tố cáo là gian lận (Ví dụ tại Sài Gòn, Ngô Đình Diệm được 605.025 lá phiếu trong khi khu vực này chỉ có 450.000 cử tri)[8][9]. Sau đó, chính phủ Ngô Đình Diệm tổ chức bầu Quốc hội lập ra nền Đệ Nhất Cộng hòa và Quốc gia Việt Nam đổi tên thành Việt Nam Cộng Hòa. Hoa Kỳ hậu thuẫn mạnh mẽ cho Việt Nam Cộng Hòa nhằm mục tiêu bảo vệ các chính phủ thân Mỹ ở Đông Nam Á trước sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản. Tài liệu được giải mật của Lầu Năm Góc vào năm 2010 cũng viết: "Không có sự yểm trợ của Hoa Kỳ, Diệm hầu như chắc chắn không thể đứng vững được ở miền Nam... Nam Việt Nam về bản chất là một sáng tạo của Hoa Kỳ"[10].

Năm 1963, các tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm với cam kết của Hoa Kỳ sẽ không cản trở cuộc đảo chính vì lực lượng đảo chính và Hoa Kỳ không bằng lòng với cách điều hành và thái độ bất hợp tác của ông ta. Ngày 1-2-1966, Tổng thống Mỹ Johnson đã gọi điện thoại cho Thượng Nghị Sĩ Eugene McCarthay, nhắc lại chuyện chính quyền Kennedy đã tham gia cùng "bọn du côn" (phe đảo chánh) để hạ sát Ngô Đình Diệm vì ông ta đã trở nên suy đồi.[11]

Tại Hiệp định Paris, chỉ có Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa họp kín với nhau để thỏa thuận chi tiết Hiệp định Paris, Việt Nam Cộng Hòa không tham gia. Sau đó Mỹ đã gây sức ép buộc Việt Nam Cộng hòa ký kết Hiệp định Paris dù Việt Nam Cộng Hòa phản đối do hiệp định có các điều khoản bất lợi cho họ. Tổng thống Mỹ Nixon gửi thư ngầm cảnh báo Nguyễn Văn Thiệu nếu không chấp nhận thì sẽ có kết cục như Ngô Đình Diệm. Ông còn nói với ngoại trưởng Henry Kissinger rằng: "Không thể để cái đuôi chó phản lại cái đầu con chó được"[12].

Trong khi đó, đối với Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, các đường lối chiến lược về quân sự, ngoại giao và việc đàm phán với Hoa Kỳ đều do họ tự hoạch định và tiến hành, không chịu sự điều khiển từ cả Liên Xô và Trung Quốc. Họ không từ bỏ các kế hoạch của mình dù cho Liên Xô và Trung Quốc gây sức ép[13] Thực tế chỉ 4 năm sau chiến tranh, Việt Nam đã có các cuộc chiến tranh biên giới với Trung Quốc, mà Trung Quốc tuyên bố là để "dạy cho Việt Nam một bài học", Theo Edward C. O'dowd, đó là do Việt Nam không chấp nhận yêu cầu của Trung Quốc là phải chấm dứt quan hệ ngoại giao với Liên Xô, cũng như từ bỏ việc tuyên bố chủ quyền tại 2 quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa[14].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Raič, D (2002). Statehood and the Law of Self-determination. Martinus Nijhoff. tr. 81. 
  2. ^ Shapiro, Stephen (2003). Ultra Hush-hush. Annick Press. tr. 38. ISBN 1-55037-778-7. “Puppet state: a country whose government is being controlled by the government of another country, much as a puppeteer controls the strings on a marionette” 
  3. ^ Lebra, Joyce C. Japan's Greater East Asia Co-Prosperity Sphere in World War II: Selected Readings and Documents. New York: Oxford University Press, 1975, trang 157, 158, 160
  4. ^ <Hà Thúc Ký. Sống còn với Dân tộc, hồi ký chính trị, Nxb Phương Nghi, 2009. trang 83
  5. ^ Bảo Đại, Con Rồng Việt Nam, Nguyễn Phước Tộc Xuất Bản, 1990, trang 186-188
  6. ^ Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 4. NXB Chính trị Quốc gia. 2000. trang 324 - 326
  7. ^ H. R. McMaster (1998). Dereliction of Duty: Johnson, McNamara, the Joint Chiefs of Staff, and the Lies That Led to Vietnam. New York, New York: HarperCollins Publishers, Inc. 
  8. ^ Tucker, Spencer C. (2000). Encyclopedia of the Vietnam War. ABC-CLIO. tr. p. 366. ISBN 1-57607-040-0 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). 
  9. ^ Karnow, Stanley (1997). Vietnam: A history. Penguin Books. tr. p. 239. ISBN 0-670-84218-4. 
  10. ^ The Pentagon Papers, The Defense Department History of United States Decisionmaking on Vietnam. tr. 25
  11. ^ http://www.wnd.com/?pageId=20931, LBJ: Kennedy White House killed U.S. ally. Nguyên văn: They started on me with Diem. "He was corrupt and he ought to be killed." So we killed him. We all got together and got a goddam bunch of thugs and assassinated him. Now, we’ve really had no political stability [in South Vietnam] since then
  12. ^ Henry Kissinger, Những năm tháng ở Nhà Trắng, Nxb Fayard, Paris, 1979
  13. ^ Liên Bang Xô Viết và chiến tranh Việt Nam. Ilya V.Gaiduk. Nhà xuất bản Công an Nhân dân 1998. Chương XI: Kẻ chiến thắng duy nhất. Trích: Khôn khéo vận dụng giữa trung Quốc và Liên Xô, Hà Nội đã giữ được vị trí độc lập trong các mục tiêu chính trị... Các nhà lãnh đạo Mỹ không thể hiểu được tại sao Liên Xô, một nước đã viện trợ đủ thứ về kinh tế và quân sự cho Việt Nam dân chủ cộng hoà, lại không thể sử dụng sự giúp đỡ này như là một động lực thuyết phục Hà Nội từ bỏ các kế hoạch đối với miền Nam của họ để rồi đồng ý đi tới một sự thương lượng.
  14. ^ (2007). Chinese Military Strategy in the Third Indochina War, tr. 44. Trung Quốc yêu cầu Việt Nam phải chấm dứt quan hệ ngoại giao với Liên Xô, cũng như từ bỏ việc tuyên bố chủ quyền tại 2 quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa