Chính phủ bù nhìn
Chính phủ bù nhìn là chính phủ tại một nước này do một nước khác dùng vũ lực lập ra và điều khiển chứ không phải do dân nước đó lập ra. Nhìn chung khi xảy ra chiến tranh, các lực lượng bên ngoài đều cố gắng thiết lập các Chính phủ bù nhìn bản xứ, nhằm tạo điều kiện thuận lợi khai thác lực lượng bản xứ theo mục đích của mình, xoa dịu sự chống đối của người bản xứ, cũng như tránh những tranh cãi hoặc sự lên án của dư luận chính quốc.
Một chính phủ bù nhìn có vẻ ngoài độc lập giống như một quốc gia thông thường, cũng có quốc kỳ, quốc ca, hiến pháp, pháp luật, nhưng thực tế bên trong bộ máy của nó bị chi phối bởi quyền lực từ một quốc gia bên ngoài.[1]. Thuật ngữ này là một phép ẩn dụ, so sánh một chính phủ như một con rối được giật dây bởi kẻ múa rối bên ngoài.[2] Tùy theo cách đánh giá và quan điểm cá nhân của mỗi nhà sử học mà một chính phủ trong điều kiện một quốc gia bị lực lượng quân đội nước ngoài chiếm đóng có được xem là bù nhìn hay không.
Mục lục |
Thời Thế chiến thứ hai[sửa]
Có quan điểm cho rằng một số chính phủ sau đây là chính phủ bù nhìn:
- Bulgaria dưới quyền điều khiển của Đức quốc xã.
- Hungaria dưới quyền điều khiển của Đức quốc xã.
- Nam Tư dưới quyền điều khiển của Đức quốc xã.
- Ba Lan dưới quyền điều khiển của Đức quốc xã.
- Italia do Đức quốc xã hậu thuẫn và điều khiển.
- Pháp dưới quyền điều khiển của Đức quốc xã.
- Mãn Châu quốc, Chính phủ Uông Tinh Vệ dưới quyền điều khiển của Đế quốc Nhật Bản.
- Đế quốc Đại Hàn, Đế quốc Việt Nam[3] dưới quyền điều khiển của Đế quốc Nhật Bản.
- Thái Lan (1941–1945) dưới thời thống chế Plaek Pibulsonggram, Myanmar (1942-1945), đệ nhị Cộng hòa tại Philipines dưới quyền điều khiển của Đế quốc Nhật Bản.
Việt Nam thời phong kiến[sửa]
Theo đánh giá của các nhà sử học thời Quân chủ và các nhà sử học hiện đại Việt Nam, các vị vua và lãnh chúa dưới đây là bù nhìn:
- Kiều Công Tiễn dưới quyền điều khiển của nhà Nam Hán.
- Nùng Thiện Mỹ dưới quyền điều khiển của nhà Tống.
- Trần Di Ái dưới quyền điều khiển của nhà Nguyên.
- Trần Ích Tắc dưới quyền điều khiển của nhà Nguyên.
- Trần Thiêm Bình dưới quyền điều khiển của nhà Minh.
- Lê Chiêu Thống dưới quyền điều khiển của nhà Thanh
Sử gia Ngô Sĩ Liên nhận xét: "Than ôi, người làm tôi trung với nước tuy chết vì nghĩa không có tội gì, mà để lại tiếng thơm mãi mãi, còn bọn bất trung phản quốc, vẫn không tránh khỏi chết, lại còn để tiếng xấu ngàn năm, thực đúng như thế."
Chiến tranh Triều Tiên[sửa]
Rất khó xác định được đâu là chính quyền bù nhìn trong thời gian này (1950-1953) vì cả hai bên đều buộc tội bên kia là "Chính quyền bù nhìn". Nhà nước tại Nam Triều Tiên là do các chính trị gia theo chủ nghĩa dân tộc lập ra dưới chế độ quân quản của Hoa Kỳ và Liên Hợp Quốc, còn Bắc Triều Tiên là do những người cộng sản từng hoạt động du kích chống Đế quốc Nhật Bản lập ra dưới chế độ quân quản của Liên Xô. Cả hai đều chưa từng có thực quyền trên toàn lãnh thổ Triều Tiên, chưa từng lãnh đạo nhân dân Triều Tiên trước đó và đều hình thành dưới chế độ quân quản của nước ngoài. Khi Đồng minh tiến vào Triều Tiên, nước này vẫn chưa có tư cách của một quốc gia độc lập, nên rất khó xác định nhà nước nào có tính chính danh.
Chiến tranh Đông Dương và Chiến tranh Việt Nam[sửa]
Khác với Chiến tranh Triều Tiên, trước khi chiến tranh nổ ra thì Việt Nam đã là một quốc gia độc lập, có một nhà nước thống nhất trên toàn lãnh thổ. Tranh thủ thời cơ Quân đội Đế quốc Nhật Bản án binh bất động chờ giải giới và sự ủng hộ của đông đảo quần chúng, Mặt trận Việt Minh (trước đó vốn được OSS hỗ trợ trong việc tuyên truyền quần chúng và đào tạo sĩ quan, binh lính để chống Nhật) đã tiến hành cuộc Cách mạng tháng Tám giành chính quyền trên cả nước, trước khi các lực lượng quân sự nước ngoài cũng như các tổ chức chính trị khác được sự hậu thuẫn trực tiếp từ nước ngoài kịp phản ứng, lập nên chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa. Trong thời gian trước khi chiến tranh xảy ra, chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa do Việt Minh lãnh đạo đã kịp thực hiện tuyên bố độc lập và chủ quyền lãnh thổ, các chính sách tổ chức chính quyền và đã tổ chức tuyển cử Quốc hội trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Dù các chính trị gia đối lập với Việt Minh cáo buộc cuộc tuyển cử là không công bằng (xem thêm Quốc hội Việt Nam khóa I), nhưng đây có thể được xem là chính phủ dân cử đầu tiên do người Việt Nam tự thiết lập và được đánh giá mang tính chính danh.
Năm 1945, nhằm tái lập hình thức Liên bang Đông Dương như trước, người Pháp cho phép thành lập một nhà nước tại Nam Kỳ với tên gọi Cộng hòa tự trị Nam Kỳ (République autonome de Cochinchine), còn được gọi là Nam Kỳ Quốc, vào tháng 6 năm 1946, do bác sĩ Nguyễn Văn Thinh làm Thủ tướng. Những người ủng hộ Việt Minh đã kết án chính phủ Nam Kỳ Quốc là một chính phủ bù nhìn vì trên thực tế chính phủ này phụ thuộc Pháp về tài chính, và quân sự. Ngoài ra Cao ủy Pháp tại Đông Dương còn có quyền phê chuẩn hoặc bác bỏ mọi bổ nhiệm của Thủ tướng Nam Kỳ quốc.
Quốc gia Việt Nam (hậu thân là Việt Nam Cộng Hòa) do Bảo Đại đứng đầu cũng được thành lập thông qua đàm phán giữa Pháp và các chính trị gia có lập trường chống Việt Minh. Sau khi Pháp thất bại, Quốc gia Việt Nam theo Pháp tập trung vào miền Nam Việt Nam. Dưới sự hậu thuẫn của Hoa Kỳ, Bảo Đại bị Ngô Đình Diệm phế truất thông qua một cuộc bầu cử bị tố cáo là gian lận. Sau đó, chính phủ Ngô Đình Diệm tổ chức bầu Quốc hội lập ra nền Đệ Nhất Cộng hòa và Quốc gia Việt Nam đổi tên thành Việt Nam Cộng Hòa. Hoa Kỳ hậu thuẫn mạnh mẽ cho Việt Nam Cộng Hòa nhằm mục tiêu bảo vệ các chính phủ thân Mỹ ở Đông Nam Á trước sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản. Tài liệu được giải mật của Lầu Năm Góc vào năm 2010 cũng viết: "Không có sự yểm trợ của Hoa Kỳ, Diệm hầu như chắc chắn không thể đứng vững được ở miền Nam... Nam Việt Nam về bản chất là một sáng tạo của Hoa Kỳ"[4].
Một ví dụ khác là cuộc đảo chính năm 1963 lật đổ Ngô Đình Diệm được cho là do Hoa Kỳ hậu thuẫn vì không bằng lòng với cách điều hành và thái độ bất hợp tác của ông ta. Hoặc tại Hiệp định Paris, chỉ có Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa họp kín với nhau để thỏa thuận chi tiết Hiệp định Paris, Việt Nam Cộng Hòa không được tham gia. Sau đó Mỹ đã gây sức ép buộc Việt Nam Cộng hòa ký kết Hiệp định Paris dù Việt Nam Cộng Hòa phản đối do hiệp định có các điều khoản bất lợi cho họ. Tổng thống Mỹ Nixon gửi thư ngầm cảnh báo Nguyễn Văn Thiệu nếu không chấp nhận thì sẽ có kết cục như Ngô Đình Diệm. Ông còn nói với ngoại trưởng Henry Kissinger rằng: "Không thể để cái đuôi chó phản lại cái đầu con chó được"[5].
Trong khi đó, đối với Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, các đường lối chiến lược về quân sự, ngoại giao và việc đàm phán với Hoa Kỳ đều do họ tự hoạch định và tiến hành, không chịu sự điều khiển từ cả Liên Xô và Trung Quốc. Họ không từ bỏ các kế hoạch của mình dù cho Liên Xô và Trung Quốc gây sức ép[6] Thực tế chỉ 4 năm sau chiến tranh, Việt Nam đã có các cuộc chiến tranh biên giới với Trung Quốc, mà Trung Quốc tuyên bố là để "dạy cho Việt Nam một bài học", Theo Edward C. O'dowd, đó là do Việt Nam không chấp nhận yêu cầu của Trung Quốc là phải chấm dứt quan hệ ngoại giao với Liên Xô, cũng như từ bỏ việc tuyên bố chủ quyền tại 2 quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa[7].
Chú thích[sửa]
- ^ Raič, D (2002). Statehood and the Law of Self-determination. Martinus Nijhoff. tr. 81.
- ^ Shapiro, Stephen (2003). Ultra Hush-hush. Annick Press. tr. 38. ISBN 1-55037-778-7. “Puppet state: a country whose government is being controlled by the government of another country, much as a puppeteer controls the strings on a marionette”
- ^ Lebra, Joyce C. Japan's Greater East Asia Co-Prosperity Sphere in World War II: Selected Readings and Documents. New York: Oxford University Press, 1975, trang 157, 158, 160
- ^ The Pentagon Papers, The Defense Department History of United States Decisionmaking on Vietnam. tr. 25
- ^ Henry Kissinger, Những năm tháng ở Nhà Trắng, Nxb Fayard, Paris, 1979
- ^ Liên Bang Xô Viết và chiến tranh Việt Nam. Ilya V.Gaiduk. Nhà xuất bản Công an Nhân dân 1998. Chương XI: Kẻ chiến thắng duy nhất. Trích: Khôn khéo vận dụng giữa trung Quốc và Liên Xô, Hà Nội đã giữ được vị trí độc lập trong các mục tiêu chính trị... Các nhà lãnh đạo Mỹ không thể hiểu được tại sao Liên Xô, một nước đã viện trợ đủ thứ về kinh tế và quân sự cho Việt Nam dân chủ cộng hoà, lại không thể sử dụng sự giúp đỡ này như là một động lực thuyết phục Hà Nội từ bỏ các kế hoạch đối với miền Nam của họ để rồi đồng ý đi tới một sự thương lượng.
- ^ (2007). Chinese Military Strategy in the Third Indochina War, tr. 44. Trung Quốc yêu cầu Việt Nam phải chấm dứt quan hệ ngoại giao với Liên Xô, cũng như từ bỏ việc tuyên bố chủ quyền tại 2 quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa