Dương Văn Minh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Dương Văn Minh
TongthongVNCH DuongVanMinh.jpg
Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh
Tiểu sử
Biệt danh Big Minh, Minh Cồ
Sinh

16 tháng 2, 1916(1916-02-16)

Mỹ Tho, Định Tường - VN
Mất

9 tháng 8, 2001 (85 tuổi)

California, Hoa Kỳ
Binh nghiệp
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.png Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Năm tại ngũ 1940-1975
Cấp bậc US-O10 insignia.svg Đại tướng
Chỉ huy Flag of France.svg Quân đội Pháp
Flag of South Vietnam.svg Quân đội Quốc gia Việt Nam
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa

Dương Văn Minh (19162001), còn gọi là Minh Cồ hay Big Minh,nguyên là một Tướng lĩnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà và là vị Tổng Thống cuối cùng của nước Việt Nam Cộng hòa.

Dù làm Tổng thống trong thời gian quá ngắn ngủi, vỏn vẹn 3 ngày (từ ngày 28 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975), nhưng ông được xem là có công chính cho Sài Gòn khỏi bị tàn phá bằng cách kêu gọi binh sĩ của Quân lực Việt Nam Cộng hòa ngừng bắn và đầu hàng vô điều kiện thể theo yêu cầu của Quân giải phóng miền Nam khi họ bắt đầu tấn công vào thành phố này vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 trong Chiến dịch Hồ Chí Minh.[1]

Tiểu sử & gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tướng Dương Văn Minh sinh ngày 19-2-1916 tại Mỹ Tho, Định Tường (có tài liệu cho rằng nơi sinh có thể là Long An hoặc Vĩnh Long).

Thời niên thiếu ông học các Trường:

  • Trường College de Mytho (năm 1953, cải danh thành Trung học Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho)
  • Trường Collège Chasseloup-Laubat, Sài Gòn (sau cải danh thành Trường Trung học Lê Quý Đôn) cùng một lớp với tướng Trần Văn Đôn. (Quốc vương Norodom Sihanouk của Campuchia cũng từng là học sinh trường này).
  • Năm 1938: Ông đỗ bằng Tú tài toàn phần Pháp. Công chức thuộc ngạch thư ký hành chính, tùng sự tại Dinh Phó Soái Nam Kỳ.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Song thân: Cụ Dương Văn Mâu (Công chức hành chính, tùng sự tại Dinh Phó Soái Nam Kỳ (Dinh Gia Long) và Cụ Nguyễn Thị Kỷ.
  • Em trai: Dương Văn Nhựt (Năm 1945 theo Việt Minh chống Pháp. Năm 1954 tập kết ra Bắc và là một sĩ quan cao cấp của Bắc Việt, mất năm 1999 tại Sài Gòn).
  • Một người em trai nữa là Dương Thanh Sơn (Sinh năm 1924, tốt nghiệp Võ bị Đà Lạt. Sau cùng là Đại tá Trưởng phòng Truyền tin Bộ Tư lệnh Biệt khu Thủ đô VNCH)
  • Phu nhân: Bà Trần Thị Lang (Ông bà có 3 người con: 2 trai, 1 gái). Sau này, tất cả con cháu đều định cư ở Pháp.

Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Quân đội Liên hiệp Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1939: Nhập ngũ vào Quân đội Pháp, mang số quân: 36/100.225.

Năm 1940: Đầu năm ông được theo học khoá 1 Trường Sĩ quan Thủ Dầu Một (Khai giảng ngày 9/1 tại Phú Lợi). Tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn uý.

Năm 1945: Khi Nhật đảo chính Pháp, ông đang phục vụ tại Cap St. Jacques và bị Nhật giam giữ tại khám Catinat Sài Gòn. Khi Pháp trở lại, ông bị họ bắt cùng với ông Nguyễn Ngọc Thơ. (Hai cái răng cửa của ông bị họ đánh gãy và nhiều năm sau này ông vẫn không trồng răng giả để giữ kỷ niệm về trận đòn của cảnh sát Pháp. Vì vậy trong quân đội còn gọi ông là "Minh Sún").

Năm 1946: Ông phụ vụ trong Trung đoàn 11 Bộ binh Pháp và được thăng cấp Thiếu úy. Hai năm sau (1948) ông được thăng cấp Trung úy.

Quân đội Quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1949: Tháng 8, chuyển sang Quân đội Quốc Gia Việt Nam. Năm 1950: Ông được thăng cấp Đại uý.

Năm 1951: Chánh võ phòng Thủ hiến Nam Việt Thái Lập Thành bị Lực lượng Trình Minh Thế sát hại bằng lựu đạn cùng với Thiếu tướng Charles Chanson (Tư lệnh kiêm Uỷ viên Cộng hoà Pháp tại Nam Việt) vào ngày 31/7/1951 trước Dinh Tỉnh trưởng Sa Đéc, nhân lúc đang duyệt binh. Cuối năm ông được thăng lên cấp Thiếu tá.

Năm 1952: Đầu tháng 7 ông được thăng cấp Trung tá, Tham mưu trưởng Đệ nhất Quân khu Nam Việt.

Cuối năm 1952, bàn giao chức Tham mưu trướng lại cho Thiếu tá Trần Văn Minh ("Minh Nhỏ", lên Trung tướng năm 1957, sau này còn gọi thêm là Tướng Trần Văn Minh Lục quân, để phân biệt với Tướng Trần Văn Minh Không quân, lên Trung tướng năm 1968, Tư lệnh Không quân). Để đi du học khoá Tham mưu cao cấp tại Trường Tham mưu Paris, Pháp đến giữa năm 1953 mãn khoá về nước.

Năm 1954, ông làm Chỉ huy trưởng Phân khu Sài Gòn-Chợ Lớn (gồm: Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, Tây ninh và cộng thêm 2 quận Cần Đước & Cần Giuộc).

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1955: Khi Quân đội Việt Nam Cộng hòa được cải danh từ Quân đội Quốc gia. Ngày 1/5, ông được giữ chức Chỉ huy trưởng chiến dịch Bảo vệ Thủ đô Sài Gòn-Chợ Lớn. Ngày 5/5 ông được thăng cấp Đại tá. Tháng 9 cùng năm, ông được Ngô Đình Diệm (lúc đó là Thủ tướng Quốc gia Việt Nam) cử làm Tư lệnh Chiến dịch Hoàng Diệu, truy kích và tiêu diệt lực lượng Bình Xuyên của tướng Lê Văn Viễn.

Với công tích này, ngày 6/11/1955, ông được vinh thăng Thiếu tướng.

Năm 1956: Sau khi hoàn tất việc dẹp Bình Xuyên, ông được cử giữ chức vụ tư lệnh Chiến dịch Nguyễn Huệ rồi tiếp đến Chiến dịch Thoại Ngọc Hầu để bình định miền Tây, đánh quân Hòa Hảo của tướng Ba Cụt. Rồi được làm Tổng Chỉ huy mừng lễ kỷ niệm Đệ nhất Chu niên ngày Quốc khánh 26/10 trên Đại lộ Trần Hưng Đạo, Sài Gòn.

Ngày 8/12/1956: Ông được vinh thăng Trung tướng

Tướng Dương Văn Minh, lúc là Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng

Năm 1957: Ông được bổ nhiệm vào chức Tư lệnh Quân khu Thủ đô (Tiền thân của Biệt khu Thủ đô). Từ tháng 7 đến tháng 11, ông có 3 lần hướng dẫn phái đoàn Quân sự Du hành và Quan sát tại các Quốc gia: Nhật Bản, AustraliaHàn Quốc. Cuối năm, ông được cử đi du học khoá Chỉ huy & Tham mưu Cao cấp tại Hoa Kỳ.

Năm 1958: Mãn khoá học về nước, ông vẫn giữ chức Tư lệnh Quân khu Thủ đô, kiêm thêm chức Tư lệnh Quân khu 1 và 5.

Năm 1960: Tổng thư ký Thường trực Quốc phòng.

Năm 1961: Tư lệnh Bộ Tư lệnh Hành quân Bộ Tổng tham mưu Quân đội Việt Nam Cộng hoà.

Năm 1962: Hướng dẫn Phái đoàn Quân sự Du hành Quan sát cuộc thao dượt Hải quân Liên phòng Đông Nam Á. Ngày 8/12, Bộ Tư lệnh Hành quân Bộ Tổng tham mưu giải tán.

Năm 1963: Đầu năm, Cố vấn Quân sự Phủ Tổng thống

Đảo chính ngày 1/11/1963[sửa | sửa mã nguồn]

Trong cuộc đảo chính chế độ Ngô Đình Diệm (do Mỹ hậu thuẫn) ngày 1 tháng 11 năm 1963, ông đóng vai trò chính với cương vị Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng, cùng với các tướng Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, Mai Hữu Xuân, Đỗ Mậu... Tuy nhiên, chỉ 2 tháng sau, tướng Nguyễn Khánh lật đổ chính quyền quân sự này và giành quyền cai trị miền Nam Việt Nam. Ông bị thất thế trong một thời gian ngắn, mặc dù vẫn được giữ chức Chủ tịch Hội đồng kiêm Quốc trưởng. Từ năm 1962, phía Bắc việt đã đưa em trai ông là tướng tình báo Dương Văn Nhựt vào Nam tiếp xúc với ông Minh để vận động ông theo về với phe Miền Bắc. Thông tin này đã có từ những ngày đầu Giải phóng, nhưng đến gần đây mới chính thức được công khai.[2]

Những năm tháng thăng trầm[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1964, ông được Quốc trưởng Phan Khắc Sửu thăng Đại tướng. Tháng 12 năm đó, ông bị ép đi làm Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Thái Lan cho đến năm 1968 mới được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho hồi hương.

  • Ông chính thức được giải ngũ vào ngày 21/3/1965 và vẫn làm Đại sứ tại Thái Lan.
Huy hiệu bông lan của Tổng thống Dương Văn Minh

Năm 1971, ông trở lại chính trường để đối đầu với đương kim Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, người được Mỹ ủng hộ, trong cuộc tranh cử Tổng thống. Tuy được nhiều người cho rằng rất có thể ông là lãnh đạo của "Lực lượng thứ ba", có thể nói chuyện hòa bình với miền Bắc để tránh một chiến tranh lâu dài, nhưng nỗ lực của ông đã bị Nguyễn Văn Thiệu cản trở. Cuối cùng, ông đã rút ra khỏi cuộc tranh cử sau khi tuyên bố rằng cuộc bầu cử chỉ là trò múa rối. Nguyễn Văn Thiệu, do đó đắc cử tổng thống mà không phải cạnh tranh với ai cả.

Tổng thống cuối cùng của VNCH[sửa | sửa mã nguồn]

Tuy nhiên, với sự sụp đổ nhanh chóng của Việt Nam Cộng hòa sau khi Mỹ rút quân, ông lại trở thành một nhân vật quan trọng cho chức vụ tổng thống. Sau khi Nguyễn Văn Thiệu, rồi Trần Văn Hương từ chức, ngày 28 tháng 4 năm 1975, ông chính thức nhậm chức Tổng thống Việt Nam Cộng hòa.

Hai ngày sau (30 tháng 4), trong cương vị Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, ông tuyên bố đầu hàng vô điều kiện trên đài phát thanh trước đại diện của Quân giải phóng miền Nam. Chính Quyền Việt Nam Cộng Hòa chính thức sụp đổ.

Cuối đời[sửa | sửa mã nguồn]

Sau năm 1975 ông sống tại TP Hồ Chí Minh. Năm 1981, Chính quyền Việt Nam cho phép ông được tự do định cư. Ông sang Pháp, nhưng sau đó lại chuyển sang California (Hoa Kỳ), sống với vợ chồng người con gái. Ông qua đời ngày 9 tháng 8 năm 2001 tại nơi định cư, thọ 85 tuổi.

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

  • Dương Minh Đức, con trai của Dương Văn Minh, nói về cha mình[3]
  • Ông là người không thích làm chính trị, mục tiêu suốt đời của ông là hòa giải, hòa bình dân tộc, nước Việt Nam phải do người Việt Nam làm chủ, vì vậy ngừng chiến là phương cách tốt nhất, bất cứ chính quyền phía nào nắm quyền cũng được, cũng là điều tốt nếu chính quyền đó biết lo cho dân. (Ông cho rằng: nếu một chiến thắng mà phải đánh đổi bằng hàng triệu sinh mạng đồng bào thì đó không phải là một chiến thắng).
  • Ông yêu hòa bình, ông đã nhiệt liệt hoan nghênh sự thành công của Chính phủ Cách mạng trong công cuộc vãn hồi hòa bình cho đất nước vào ngày 2 tháng 5 năm 1975 tại buổi lễ trả tự do cho các tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa trong nội các.
  • Ông có nguyện vọng được trở về quê hương lúc cuối đời và sống như một người dân Việt Nam bình thường trong dinh thự Hoa Lan vẫn còn nguyên vẹn cùng bạn bè cũ.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lược Sử QL VNCH - Trần ngọc Thống & Hồ Đắc Huân 2011.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]