Quân đoàn 2, Quân đội Nhân dân Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Quân đoàn 2 Quân đội Nhân dân Việt Nam, còn gọi là "Binh đoàn Hương Giang", là một trong 4 quân đoàn chủ lực của Quân đội Nhân dân Việt Nam, trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam, được thành lập ngày 17 tháng 5 năm 1974 tại Thừa Thiên (nay là tỉnh Thừa Thiên-Huế).

  • Trụ sở Bộ Tư lệnh: Thị trấn Vôi, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
  • Tư lệnh: Thiếu tướng Phạm Văn Hưng
  • Chính ủy: Thiếu tướng Nguyễn Văn Đủ
  • Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng: Đại tá Nguyễn Khắc Hát

Tổ chức, biên chế[sửa | sửa mã nguồn]

Biên chế Quân đoàn 2 gồm có:

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1972 sau thắng lợi của trận Điện Biên Phủ trên không của Việt Nam buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris, theo đó năm 1973 Mỹ phải rút toàn bộ quân đội về nước. Tháng 7 năm 1973, Ban Chấp hành Trung ương Đảng tiến hành hội nghị lần thứ 21, ra nghị quyết về tăng cường quân sự tiến tới thống nhất đất nước. Chấp hành nghị quyết, tháng 10 năm 1973 Quân ủy Trung ươngBộ Quốc phòng đề nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã phê chuẩn việc thành lập các quân đoàn chủ lực. Theo đó, ngày 24 tháng 10 năm 1973, Quân đoàn 1 đã được thành lập tại Tam Điệp, Ninh Bình[1]. Ngày 17 tháng 5 năm 1974, Bộ Quốc phòng ký quyết định thành lập Quân đoàn 2. Ngày 1 tháng 6 năm 1974, tại Ba Nang-Ba Lòng Quảng Trị (trụ sở cơ quan Bộ Tư lệnh Quân khu Trị - Thiên), thượng tướng Song Hào Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, thay mặt Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng công bố quyết định thành lập Quân đoàn. Theo đó, Bộ tư lệnh Quân đoàn gồm có:

Tổ chức cơ quan buổi đầu của quân đoàn gồm:

  • Bộ Tham mưu (13 phòng) do thượng tá Bùi Công Ái làm Tham mưu trưởng.
  • Cục Chính trị (9 phòng) do thượng tá Lê Khả Phiêu làm Chủ nhiệm.
  • Cục Hậu cần (10 phòng) do thượng tá Nguyễn Ngọc Thực làm Chủ nhiệm.

Đảng ủy quân đoàn gồm có: Lê Linh-bí thư; Hoàng Văn Thái-phó bí thư; Nguyễn Công Trang Phó bí thư; ủy viên Đảng ủy gồm có bốn người: Hoàng Đan, Bùi Công Ái, Lê Khả Phiêu, Nguyễn Ngọc Thực.

Lực lượng Quân đoàn 2 những ngày đầu mới thành lập gồm ba Sư đoàn bộ binh 304, 325, 324, Sư đoàn phòng không 673, Lữ đoàn pháo binh 164, Lữ đoàn xe tăng 203, Lữ đoàn công binh 219, Trung đoàn thông tin 463 và một số đơn vị trực thuộc khác.

Mùa xuân năm 1975, Quân đoàn tham gia chiến dịch giải phóng Huế, Đà Nẵng; tham gia chiến dịch Tây Nguyên. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh Quân đoàn đã đánh chiếm Dinh Độc Lập cắm cờ trên dinh và bắt sống nội các ngụy quyền Việt Nam Cộng hòa [2]. Đại úy Bùi Quang Thận đã cắm lá cờ chiến thắng lúc 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 04 năm 1975 trên nóc Dinh độc lập, kết thúc chiến dịch HCM lịch sử, sau đ/c là Đại tá Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn xe tăng 203 Anh hùng.

Chỉ huy, lãnh đạo qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Tư lệnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chính ủy[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thiếu tướng Lương Cường (2002-2007),2/2009 được thủ tướng phong quân hàm Trung tướng,Nay là Trung tướng,ủy viên ban chấp hành trung Ương đảng,ủy viên quân ủy trung Ương,Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị
  • Thiếu tướng Nguyễn Sỹ Thăng (2007-) (? - nay(2013)) được phong hàm trung tướng là chính ủy quân khu 1
  • Thiếu tướng Nguyễn Văn Đủ

Tham mưu trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thượng tá Bùi Công Ái
  • Đại tá Mai Xuân Tần
  • Đại tá Nguyễn Khắc Hát (2011-nay)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]