Tân Cảng Sài Gòn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tân Cảng Sài Gòn
Logo SNP
Loại hình Công ty trách nhiệm hữu hạn
Ngành nghề Khai thác Cảng, Hậu cần
Thành lập 15 tháng 03, 1989[1]
Nhà sáng lập Bộ Quốc Phòng
Trụ sở chính Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Thành viên
chủ chốt
Nguyễn Văn Hiến
(Chủ tịch Hội đồng quản trị)
Nguyễn Đăng Nghiêm
(Chủ tịch điều hành & CEO)
Sản phẩm Cảng
ICDs
Logistic
Công nghệ thông tin
Đào tạo nhân lực
Website http://saigonnewport.com.vn

Tân Cảng Sài Gòn là một doanh nghiệp quân đội, có văn phòng chính tại quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, được thành lập ngày 15 tháng 3 năm 1989 trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam, quản lý kinh doanh là Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn. Hiện nay, Tân cảng Sài Gòn là nhà khai thác cảng container lớn tại Việt Nam với các dịch vụ: xếp dỡ hàng hóa, hậu cần, hàng hải, cứu hộ, hoa tiêu, địa ốc, xây dựng công trình dân sự, quân sự... và vận tải đa phương thức.

Lịch sử phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Giữa thập niên 1960, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã xây dựng mới một cảng quân sự với cầu tàu dài hơn 1.200 mét, rộng 24 mét; bến nghiêng rộng 40 mét và hệ thống kho bãi, giao thông nội bộ, điện nước để phục vụ quốc phòng. Cảng này được gọi là Tân Cảng Sài Gòn để phân biệt với Cảng Sài Gòn.

Từ năm 1975 đến đầu năm 1989, khu vực Tân Cảng vẫn dùng cho vài hoạt động quân sự mà ít duy tu, bảo dưỡng nên hệ thống cầu tàu, kho bãi, giao thông, doanh trại, điện nước... đều xuống cấp nghiêm trọng. Mặt khác, do không có đơn vị chủ quản việc đóng quân, canh phòng nên an ninh trật tự gặp nhiều khó khăn. Đến ngay 15 tháng 3 năm 1989, Bộ Quốc Phòng Việt Nam ra Quyết định số 41/QP thành lập Quân Cảng Sài Gòn thuộc quân chủng Hải Quân, phục vụ cho nhiệm vụ quốc phòng. Bên cạnh đó, tận dụng công suất nhàn rỗi của cầu tàu, kho bãi để kinh doanh, tạo nguồn doanh thu nhằm tu bổ và từng bước nâng cấp cảng.

Trong 20 năm qua, Quân Cảng Sài Gòn đã trải qua 4 giai đoạn:

  • Giai đoạn 1 (1989-1991): Xây dựng tổ chức biên chế, lực lượng, chống xuống cấp cơ sở hạ tầng; chấn chỉnh trật tự, an ninh, khai thác tàu hàng rời. Tổ chức biên chế, lực lượng trong giai đoan này gồm: Ban Giám đốc 4 người cùng mộ số trợ lý, hai đơn vị trực thuộc là đội cảnh vệ và kho hàng; quân số 36 người.
  • Giai đoạn 2 (1992 - 1997): Tiếp tục phát triển tổ chức - biên chế lực lượng; nâng cấp cơ sở hạ tầng, mua sắm trang thiết bị chuyên dùng; chuyển từ khai thác tàu hàng rời sang khai thác tàu container. Thực hiện Quyết định 325/TTg ngày 13 tháng 7 năm 1993 của Thủ tướng chính phủ Việt Nam về thành lập lại Công ty Tân Cảng Sài Gòn. Đến cuối năm 1996, tổ chức biên chế, lực lượng gồm: Ban giám đốc: 3 người, 11 phòng, một xí nghiệp, một đội, một ban. tổng quân số toàn đơn vị gần 1.000 người, ngoài ra còn quản lý gián tiếp hơn 1,000 người của 9 hợp tác xã xếp dỡ vệ tinh.
  • Giai đoạn 3 (1998-2005): Tiếp tục hoàn hiện mô hình tổ chức biên chế, lực lương mở rộng địa bàn, qua mô, hiện đại hóa quản lý khai thác trọng khâu cảng container chuyên dụng. Trong giai đoạn này, Ban giám đốc gồm 7 người, xí nghiệp, 10 phòng và Tiểu đoàn tư vệ.
  • Giai đoạn 4 (Từ 200 đến nay): chuyển sang mô hình công ty mẹ, công ty con theo quyết định số 342/TTg-ĐMDN của Thủ tướng và Quyết định số 82/2006/QD9 - QP của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, tiếp tục mở rộng địa bàn, quy mô, chiều sâu hiện đại hóa quản lý khai thác Cảng, đa dạng hóa ngành nghề sản xuất kinh doanh. theo đó tổ chức biên chế gồm: Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Ban tổng giám đốc, 8 công ty thành viên, 4 xí nghiệp, Trung tâm điều độ, Văn phòng, 11 phòng chức năng và Hải đoàn tự vệ. tổng quân số gần 3,000 người.

Hoạt động kinh doanh[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1992, Tân Cảng chuyển sang đầu tư khai thác tàu container. Tàu Saigon Venture với sức chứa 124 TEU là tàu container đầu tiên cập Tân Cảng ngày 12 tháng 2 năm 1992, đánh dấu thời điểm khởi đầu cho khai thác cảng container của Tân Cảng Sài Gòn. Từ năm 1992-1997, cảng quản lý, khai thác tàu container từng phần; đến cuối năm 1997 tiếp nhận 689 lượt tàu container, chiếm 93,6% số lượt tàu kinh tế. Trong 6 năm (1992-1997) cảng đã tiếp nhận 3.685 lượt tàu (614 lượt tàu/năm), trong đó 3.014 lượt tàu container, chiếm 81.8%; sản lượng container qua cảng đạt 1.492.607 Teus (248.767 TEU/năm) tốc độ tăng trưởng trung bình 34,32% năm.

Từ năm 1992 đến 1997, bằng nguồn vốn tự có, Tân Cảng đầu tư hơn 350 tỷ đồng nâng cấp và mua sắm trang thiết bị từ nước ngoài, tăng hiệu suất và hiện đại hóa hoạt động quản lý. Từ năm 1995 đến 2009, Tân Cảng đầu tư xây dựng mới cảng container chuyên dụng tại Cát Lái - theo quy hoạch cụm cảng biển số 5. Cát Lái có chiều dài cầu tàu hơn 1.200m, cho phép tiếp nhận tàu có tải trọng 30,000 DWT, sức chở 3,000 TEU, hệ thống phao và 70,000m vuông kho bãi hàng, 17 cẩu bờ KE, nhiều trang thiết bi xếp dỡ, vận chuyển, cùng phần mềm quản lý thời gian thực, năng suất giải phóng tàu trung bình 40TEU/h, thông quan 2,5 triệu TEU/năm.

Từ 1997 đến 2008, trên diện tích 50 ha tại huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương do quân đoàn 4 bàn giao, Quân Cảng đã xây dựng 1 ICD theo mô hình hiện đại, hoàn chỉnh cho phép triển khai nhiều hoạt động dịch vụ quản lý, giao nhận, đóng gói, xếp dỡ, vận chuyển hàng hóa, kê khai hải quan, kho ngoại quan... với 115.000m vuông bãi chứa container, 18 kho hàng, 140,000m vuông đạt tiêu chuẩn; hệ thống giao thông nội bộ, nhà văn phòng,...

Từ giữa năm 2006, Tân Cảng Sài Gòn tiến hành khởi công xây dựng mới Tân Cảng - Cái Mép là cảng conainer nước sâu đầu tiên ở Việt Nam tai xã Tân Phước, huyện Tân Thành, Bà Rịa Vũng Tàu; với chiều dài trước bến 900m, độ sâu dưới 15m, chiều rộng trên 600m, cách phao số 0 hơn 10 hải lý, cho phép tiếp nhận tàu có tải trọng đến 80.000 tấn, tàu container sức chứa trên 6,000 teu. Tân Cảng Cái Mép chia làm 2 giai đoạn, giai đoạn 1 do công ty cổ phân Tân Cảng Cái Mép thuộc Công ty Tân Cảng Sài Gòn làm chủ đầu tư và khai thác quản lý, giai đoạn 2 do công ty liên doanh Cảng Quốc tế Tân Cảng, Cái Mép gồm 4 thành viên: Tân Cảng, Hãng tàu MOL, Hanjin và Wanhai khai thác.

Thành tựu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới (2004)
  • Huân chương lao động hạng Nhất (2008)
  • Huân chương lao động hạng Nhì (1999)
  • Huân chương lao động hạng Ba (2005)
  • Huân chương chiến công hạng Ba (1995,2000)
  • Cờ thưởng thi đua của Thủ Tướng chính Phủ (2003, 2010, 2011)
  • Thương hiệu quốc gia 2010
  • Cúp vàng "Thương hiệu và nhãn hiệu" (2007)
  • Cúp vàng "Doanh nghiệp phát triển bền vững" (2009)
  • Top 100 doanh nghiệp, Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu (2006, 2009 do VCCI bình chọn)
  • Bằng khen về thành tích tiêu biểu trong công tác bảo vệ, phát triển bền vững tài nguyên môi trường biển đảo Việt Nam (Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp 2011)

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]