Súng tiểu liên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tiểu liên MP5 do CHLB Đức chế tạo

Súng tiểu liên là loại vũ khí cá nhân tầm gần, thuộc họ súng máy, cũng thuộc họ súng tự động tùy theo phân loại của các quốc gia. Tiểu liên có thể có tầm bắn lý thuyết lên đến 1.000 m (AK-47, M16) nhưng cự li sát thương có hiệu quả thường không quá 400 m, có loại chỉ 100 m (M3); cỡ nòng từ 5,56 mm (M16) đến 12 mm (M3), phổ biến nhất là hai cỡ nòng 5,56 mm (tiêu chuẩn NATO) và 7,62 mm (tiêu chuẩn khối Warsawa). Do cấu tạo trích khí gián tiếp hoặc trực tiếp để lùi khóa nòng phối hợp với lò xo đẩy đạn, lò xo hồi khóa nòng để nạp đạn tự động, tiểu liên có thể bắn từng phát hoặc bắn liên tục. Tốc độ bắn trong thử nghiệm súng có thể đạt 600 phát/phút. Tốc độ bắn trong thực tế chiến đấu khoảng 100 phát/phút. Hộp tiếp đạn có thể chứa từ 20 đến 40 viên. Một số loại tiểu liên cỡ lớn (AK-47) có thể lắp lưỡi lê để có thể giáp lá cà. Trong chiến đấu, tiểu liên tạo mật độ hỏa lực cao khi tấn công bằng cách bắn rải, bắn quét. Trong phòng ngự, tiểu liên phát huy độ chính xác khá cao khi bắn điểm xạ (2 đến 3 phát liên tục).[1]

Lịch sử phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Súng tiểu liên đầu tiên được phát minh tại Đức là khẩu MP-18/1 và được gọi là Maschinenpistole nghĩa là « súng ngắn tự động »; được người Đức sử dụng từ cuối Chiến tranh thế giới thứ nhất. Đầu năm 1918, Hoa Kỳ cũng thử nghiệm xong và cho ra đời khẩu M3 Grease dùng đạn chế tạo riêng cỡ 12mm nhưng chưa kịp đưa vào sử dụng thì chién tranh kết thúc. Từ năm 1918 và trong Chiến tranh thế giới thứ hai các nước có nền công nghiệp phát triển lần lượt độc lập nghiên cứu chế tạo các loại tiểu liên để trang bị cho bộ binh. Hoa Kỳ có khẩu M3 Gease, Pháp có khẩu MAT, Anh có các khẩu TulSten. Mãi đến giữa năm 1941, Liên Xô mới cho ra lò khẩu tiểu liên PPSh-41 đầu tiên có băng đạn tròn.

Trong Thế chiến thứ hai, quân Đức phát triển chế tạo và sử dụng rộng rãi loại tiểu liên MP-40. Biên chế mỗi đại đội bộ binh Đức thời kỳ này thường có riêng một trung đội sử dụng tiểu liên MP-40. Các loại tiểu liên của Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Nga cũng được chế tạo hàng chục triệu khẩu và sử dụng rộng rãi.

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nhà phát minh Xô Viết Mikhail Timofeevich Kalashnikov đã thiết kế các mẫu súng AK-1 và AK-2 có những đặc điểm nổi bật như sử dụng tiện lợi trong điều kiện các điều kiện môi trường băng giá, ẩm ướt, bùn lầy, hoặc sa mạc đầy cát bụi. Đến năm 1947, khẩu AK-47 ra đời và được đưa vào biên chế trang bị cho Quân đội Liên Xô. Mặc dù là tiểu liên nhưng do kích thước nòng dài đến 41,5 cm, sử dụng đạn súng trường nên khối NATO xếp nó vào loại súng trường tự động (để phân biệt với súng trường bán tự động và súng trường không tự động).

Trong chiến tranh Việt Nam, Hoa Kỳ trang bị cho mình và đồng minh VNCH loại tiểu liên M-16 và sau đó được cải tiến thành tiểu liên cực nhanh AR-15. Loại súng này nhẹ và sử dụng đạn 5,56 mm, tạo điều kiện cho người lính đem nhiều đạn hơn. Tuy nhiên, do đạn 5,56 mm nhỏ, thường xuyên qua mục tiêu, ít tạo lỗ phá ra và binh lính Hoa Kỳ cũng như VNCH thường ỷ vào tốc độ bắn cao nên họ thường tiêu thụ rất nhiều đạn nhưng hiệu suất sát thương đối phương không cao. Trong khi đó, đạn 7,62 mm bắn từ khẩu AK-47 có kích thuớc và động năng lớn hơn đã có hiệu suất gây thương vong cao hơn cho đối phương bởi lỗ phá ra của vết thương rất lớn.[2]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Từ điển bách khoa Việt Nam. Tập 4 (T-Z). NXB Từ điển Bách khoa. Hà Nội. 2005. trang 409.
  2. ^ Nguyễn Hữu Thăng. Vũ khí xưa và nay. NXB Khoa học và kỹ thuật. Hà Nội. 2002. trang 68.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]