Súng tiểu liên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tiểu liên MP5 do CHLB Đức chế tạo

Súng tiểu liên là loại vũ khí cá nhân tầm gần, thuộc họ súng máy, cũng thuộc họ súng tự động tùy theo phân loại của các quốc gia. Tiểu liên có thể có tầm bắn lý thuyết lên đến 1.000 m (AK-47, M16) nhưng cự li sát thương có hiệu quả thường không quá 400 m, có loại chỉ 100 m (M3); cỡ nòng từ 5,56 mm (M16) đến 12 mm (M3), phổ biến nhất là hai cỡ nòng 5,56 mm (tiêu chuẩn NATO) và 7,62 mm (tiêu chuẩn khối Warsawa). Do cấu tạo trích khí gián tiếp hoặc trực tiếp để lùi khóa nòng phối hợp với lò xo đẩy đạn, lò xo hồi khóa nòng để nạp đạn tự động, tiểu liên có thể bắn từng phát hoặc bắn liên tục. Tốc độ bắn trong thử nghiệm súng có thể đạt 600 phát/phút. Tốc độ bắn trong thực tế chiến đấu khoảng 100 phát/phút. Hộp tiếp đạn có thể chứa từ 20 đến 40 viên. Một số loại tiểu liên cỡ lớn (AK-47) có thể lắp lưỡi lê để có thể giáp lá cà. Trong chiến đấu, tiểu liên tạo mật độ hỏa lực cao khi tấn công bằng cách bắn rải, bắn quét. Trong phòng ngự, tiểu liên phát huy độ chính xác khá cao khi bắn điểm xạ (2 đến 3 phát liên tục).[1]

Lịch sử phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Súng tiểu liên đầu tiên được phát minh tại Đức là khẩu MP-18/1 và được gọi là Maschinenpistole nghĩa là « súng ngắn tự động »; được người Đức sử dụng từ cuối Chiến tranh thế giới thứ nhất. Đầu năm 1918, Hoa Kỳ cũng thử nghiệm xong và cho ra đời khẩu M3 Grease dùng đạn chế tạo riêng cỡ 12mm nhưng chưa kịp đưa vào sử dụng thì chién tranh kết thúc. Từ năm 1918 và trong Chiến tranh thế giới thứ hai các nước có nền công nghiệp phát triển lần lượt độc lập nghiên cứu chế tạo các loại tiểu liên để trang bị cho bộ binh. Hoa Kỳ có khẩu M3 Gease, Pháp có khẩu MAT, Anh có các khẩu TulSten. Mãi đến giữa năm 1941, Liên Xô mới cho ra lò khẩu tiểu liên PPSh-41 đầu tiên có băng đạn tròn.

Trong Thế chiến thứ hai, quân Đức phát triển chế tạo và sử dụng rộng rãi loại tiểu liên MP-40. Biên chế mỗi đại đội bộ binh Đức thời kỳ này thường có riêng một trung đội sử dụng tiểu liên MP-40. Các loại tiểu liên của Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Nga cũng được chế tạo hàng chục triệu khẩu và sử dụng rộng rãi.

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nhà phát minh Xô Viết Mikhail Timofeevich Kalashnikov đã thiết kế các mẫu súng AK-1 và AK-2 có những đặc điểm nổi bật như sử dụng tiện lợi trong điều kiện các điều kiện môi trường băng giá, ẩm ướt, bùn lầy, hoặc sa mạc đầy cát bụi. Đến năm 1947, khẩu AK-47 ra đời và được đưa vào biên chế trang bị cho Quân đội Liên Xô. Mặc dù là tiểu liên nhưng do kích thước nòng dài đến 41,5 cm, sử dụng đạn súng trường nên khối NATO xếp nó vào loại súng trường tự động (để phân biệt với súng trường bán tự động và súng trường không tự động).

Trong chiến tranh Việt Nam, Hoa Kỳ trang bị cho mình và đồng minh VNCH loại tiểu liên M-16 và sau đó được cải tiến thành tiểu liên cực nhanh AR-15. Loại súng này nhẹ và sử dụng đạn 5,56 mm, tạo điều kiện cho người lính đem nhiều đạn hơn. Tuy nhiên, do đạn 5,56 mm nhỏ, thường xuyên qua mục tiêu, ít tạo lỗ phá ra và binh lính Hoa Kỳ cũng như VNCH thường ỷ vào tốc độ bắn cao nên họ thường tiêu thụ rất nhiều đạn nhưng hiệu suất sát thương đối phương không cao. Trong khi đó, đạn 7,62 mm bắn từ khẩu AK-47 có kích thuớc và động năng lớn hơn đã có hiệu suất gây thương vong cao hơn cho đối phương bởi lỗ phá ra của vết thương rất lớn.[2]

Hiện nay, nước Đức phát triển loại súng tiểu liên MP5 rất nổi tiếng và thường được được trang bị cho các đơn vị đặc nhiệm. Còn nước Nga vẫn tiếp tục nghiên cứu cải tiến AK-47 để cho ra đời các phiên bản AKM, AK-74, AK-105. Hoa Kỳ tiếp tục cải tiến và nâng cấp khẩu M16 và cho ra đời các phiên bản M16A1, M16A2, M4 CarbineM4A1 có nhiều tính năng ưu việt hơn hẳn phiên bản đầu tiên.

Mô tả và vận hành[sửa | sửa mã nguồn]

Đặc điểm đầu tiên làm cho tiểu liên khác với súng trường do nó có băng đạn rời chứa được nhiều đạn hơn, từ 20 viên trở lên trong khi súng trường (kể cả súng trừong bán tự động) có không quá 15 viên dự trữ. Nòng súng tiểu liên thường dài không quá 500 mm trong khi nòng súng trường có độ dài từ 650 mm (súng thường) đến 1000 mm (súng trường bắn tỉa). Ở các loại súng trường lai K-63 hoặc carbin M-2, súng có chế độ tự động như tiểu liên với băng đạn 20 viên.

Cơ cấu tiếp đạn[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ chế vận hành của tiểu liên đều dựa trân nguyên tắc khóa nòng tự lùi để lên đạn bằng lò so đẩy về và tự điểm hỏa bằng lò so búa đập để qua kim hoả, kích thích hạt nổ. Tuy nhiên, có hai cơ chế động lực khác nhau để vận hành bộ máy nạp đạn và điểm hoả.

  • Đối với các loại tiểu liên kiểu cũ (MP 40, M3 Gease, Tul, Stel, K-50, M16) dùng trích khí thẳng. Tại pha chuyển động đầu tiên, lực đẩy khóa nòng lùi được lấy trực tiếp từ phản lực của thuốc súng phát nổ đẩy đầu đạn đi, đồng thời đẩy khóa nòng cùng vỏ đạn lùi ra, được móc vỏ đạn hất ra ngoài và nén lò so đẩy về. Tại pha chuyển động sau, khi khóa nòng lùi hết cỡ, lò so đẩy về hoạt động đưa khóa nòng quay lại đến vị trí điểm hoả, đẩy một viên đạn mới từ băng đạn lên buồng đạn (kết hợp với lò so đẩy đạn trong hộp tiếp đạn) và đập luôn kim hỏa vào hạt nổ làm cho viên đạn tiếp theo phát nổ. Chu trình vận hành cứ thế lặp đi lặp lại cho đến khi trong băn đạn hết đạn hoặc khi xạ thủ dừng bóp cò, chốt hãm giữ khóa nòng lại, không cho hồi về vị trí phát hoả.
  • Ở các loại tiểu liên mới (kể từ khẩu AK-47 trở đi) đều sử dụng trích khí ngang. Khi viên đạn đi được từ 2/3 đến 3/4 nòng súng (tùy theo từng loại), một lượng khí nén nhất định thoát qua một lỗ nhỏ trên nòng súng, được dẫn vào một xi lanh đặt dọc theo thân súng, ép lên thoi đẩy nối liền với khóa nòng, đẩy khóa nòng lùi về phía sau. Vì lượng khí được trích ra rất nhỏ nên ảnh hưởng của nó không đáng kể đến sơ tốc đầu đạn. Hệ thống trích khí ngang có ưu điểm làm giảm đáng kể sức giật lên toàn bộ thân súng, giúp cho xạ thủ xạ kích ổn định, đạn bắn ra chụm hơn trên mục tiêu.
  • Các loại tiểu liên cũ (kể cả trích khí thằng và trích khí ngang) có cơ cấu thải vỏ đạn bằng móc thẳng ở góc 45 đến 60 độ so với trục thẳng đứng của thước ngắm. Cơ cấu này dễ chế tạo nhưng có nhược điểm lớn là dễ tắc đạn. Khi buồng đạn bị bám cặn bản hoặc quá nóng, vỏ đạn bị kẹt trong buồng đạn. Móc vỏ đạn kéo vào một vị trí trên vỏ đạn thường bị trượt (nếu lực bám của lẫy móc yếu) hoặc làm làm đứt gờ móc ở đuôi vỏ đạn (nếu lực bám của lẫy móc mạnh). Nhược điểm tiếp theo là khi móc vỏ đạn làm việc, lực tác động của khóa nòng lùi bị lệch theo hướng 45 đến 60 độ của lẫy móc vỏ đạn so với trục thẳng đứng của thước ngằm, làm cho đường dạn bị lệch theo. Các tiểu liên kiểu mới thường dùng cơ cấu móc vỏ đạn bằng then xoay. Cơ cấu này là cụm khóa nòng gồm then móc đạn và vỏ khóa nòng lắp đồng tâm, đồng trục. Trên then xoay móc đạn có 3 hoặc 4 mấu dương. Trên hộp chứa then móc đạn có 3 hoặc 4 rãnh âm, bước rãnh từ 15 cm đến 30 cm tùy theo cự li tiến-lùi của khóa nòng. Khi khóa nòng lùi sau, móc trên then móc đạn vừa lùi vừa xoay quanh gờ bám của vỏ đạn. Lực kéo tác động đều lên toàn bộ chu vi gờ móc của vỏ đạn, giúp cho việc thoát vỏ đạn dễ dàng hơn. Lực tác động lên vỏ đạn đồng đều và kéo thẳng về phía sau, hạn chế độ lệch khi móc vỏ đạn làm việc, giúp đường đạn đi thẳng đúng theo trục thước ngắm - nóng súng. Nhược điểm của cơ cấu này là nó làm giảm tốc độ bắn của súng do thời gian thải vỏ đạn và đẩy viên đạn mới vào buồng dạn dài hơn kiểu móc thẳng. Để khắc phục nhược điểm này, người ta tăng lực đẩy của lò so và tăng khối lượng thuốc đạn, giảm kích thước đầu đạn để tăng thêm lượng khí đẩy khóa nòng lùi sau. Kết quả là làm tăng tốc độ bắn nhưng động năng của đầu đạn lại giảm đi, cự ly sát thương cũng giảm theo.

Cơ cấu điểm hỏa[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ cấu khai hỏa[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tiểu liên M-3 (1911) cỡ đạn 12 mm của Hoa Kỳ và một số loại tiểu liên cùng thời có cơ cấu khóa nòng-kim hỏa liền khối, không dùng búa đập. Khi phát hoả, cả khối khóa nòng lao lên đưa viên đạn vào buồng nòng và đồng thời đập kim hỏa vào hạt nổ để kích nổ viên đạn. Cơ cấu này giảm thiểu giá thành và độ phức tạp của súng, loại bỏ các hỏng hóc do cơ chế vận hành của kim hỏa bị trục trặc gây ra. Nhược điểm của nó là độ rung rất lớn khi bắn do cả khối khóa nòng to và nặng lao lên phía trước và lùi sau liên tục. Độ chụm của đường đạn bị giảm thiểu, tốc độ bắn chậm, tầm bắn bị hạn chế do trọng lượng của khóa nòng lớn, phải trích ra một lượng khí lớn đủ để đẩy khóa nòng lùi sau và sử dụng sức phản hồi của một lò so (cũng rât lớn) để phát hỏa viên đạn tiếp theo.
  • Các tiểu liên khác chủ yếu dùng cơ cấu kim hỏa rời, lắp đồng trục nhưng chuyển động độc lập với khóa nòng. Cơ chế khai hỏa bằng lực của búa đập tác động vào đuôi kim hỏa. Kim hỏa đập vào hạt nổ kích nổ viên đạn.

Cơ chế điểm xạ[sửa | sửa mã nguồn]

Các tiểu liên kiểu cũ thường chỉ có một cơ chế điểm xạ liên tục (điểm xạ dài), súng chỉ dừng phát hỏa khi xạ thủ ngừng kéo cò súng. Cơ chế này chỉ thích hợp với nhiệm vụ tiêu diệt nhiều mục tiêu cùng lúc với mật độ hỏa lực cao. Trong trường hợp hướng tác xạ có ít mục tiêu cần tiêu diệt, không cần thiết duy trì hỏa lực liên tục, cơ chế này làm lãng phí đạn, súng nhanh bị hao mòn. Thời gian duy trì hỏa lực và độ chụm của đường đạn cũng giảm theo.

Các tiểu liên hiện đại có hai cơ chế điểm hỏa: từng viên và liên tục. Khi cơ chế từng viên hoạt động, tiểu liên hoạt động giống như súng trường bán tự động. Khi cơ chế điểm xạ dài hoạt động, tiểu liên hoạt động đúng chức năng ban đầu của nó.

Ngoài có cấu điểm hỏa từng viên và liên tục (điểm xạ dài), các tiểu liên mới cải tiến sau Chiến tranh Việt Nam có thêm cơ cấu điểm hỏa từng ba viên một (cơ cấu điểm xạ ngắn), giúp tiết kiệm đạn trong trường hợp có ít mục tiêu xạ kích và tăng tổng thời gian duy trì hỏa lực của người lính.

Cơ cấu giảm giật[sửa | sửa mã nguồn]

Tiểu liên kiểu cũ[sửa | sửa mã nguồn]

Các tiểu liên kiểu cũ không có cơ cấu giảm giật làm cho độ tản mát trong xạ kích cao, thường theo hướng tà dương so với đường ngắm đúng.

Tiểu liên kiểu mới[sửa | sửa mã nguồn]

Các tiểu liên kiểu mới có từ 1 đến 2 cơ cấu giảm giật:

  • Cơ cấu giảm giật lên cho đường đạn: Biện pháp phổ biến nhất là dùng một cuché nhỏ có miệng vát xuống, lắp vào đầu nòng bằng rãnh xoắn. Khi viên đạn thoát khỏi nòng súng, lực của khí thuốc phóng tác động xuống mặt dưới của cuché trước và nhiều hơn so với lực tác động lên toàn bộ miệng nòng súng, giúp ghìm nòng súng xuống, giảm độ giật nảy lên. AKM là loại tiểu liên đầu tiên dùng cơ chế này.
  • Cơ cấu giảm giật cho xạ thủ: Có hai biện pháp phổ biến được áp dụng từng loại hoặc đồng thời.
    • Cơ cấu giảm giật chủ động dùng lỗ thoát khí miệng nòng. Tại miệng nòng súng có một cuché lớn, có 4 rãnh thoát khí giúp giải phóng nhanh lượng khí thừa. giảm độ giật lùi sau của nòng súng. Cơ cấu này giống cơ cấu thoát khi thừa của miệng nòng pháo mặt đất cỡ lớn và pháo phòng không.
    • Cơ cấu giảm giật thụ động sử dụng piston giảm xóc. Báng súng được chế tạo như một piston giảm xóc (giống giảm xóc của ô tô, mô tô, xe máy) làm giảm sức giật lên vai xạ thủ.

Cơ cấu ngắm bắn[sửa | sửa mã nguồn]

Có hai cơ cấu được sử dụng và cũng có đến sáu phương pháp ngắm bắn khác nhau.

Cơ cấu thước ngắm cố định[sửa | sửa mã nguồn]

Vì xuất thân từ súng ngắn, các tiểu liên kiểu cũ cũng có thước ngắm cố định như súng ngắn. Với thước ngắm này, xạ thủ phải ước lượng cự li đên mục tiêu và điều chỉnh đường ngắm đúng lên hoặc xuống để đưa viên đạn đến mục tiêu. Cơ cáu này ngày nay vẫn còn được sử dụng ở một số tiểu liên cỡ nhỏ.

Cơ cấu thước ngắm có điều chỉnh[sửa | sửa mã nguồn]

Hầu hết các tiểu liên cỡ lớn hiện đại thường có thước ngắm điều chỉnh với đầu chuẩn trước cố định và đầu chuẩn sau (khe ngắm hoặc vòng ngắm) di chuyển lên xuống để xác định đường đạn ứng với cự li đến mục tiêu. Biện pháp thông thường nhất là sử dụng một cơ cấu khe ngắm có lẫy trượt dọc theo trục nòng súng để nâng/hạ khe ngắm/vòng ngắm. Một số tiểu liên cao cấp được trang bị thước ngắm điều chỉnh được cả chiều dọc (lên-xuống) và chiều ngang (phải-trái). Kiểu tiểu liên MP-5 mới nhất và kiểu CAR-15 đều trang bị thước ngắm loại này

Ngắm bắn bằng cơ cấu "vòng ngắm đồng tâm"[sửa | sửa mã nguồn]

Hầu hết các tiểu liên của Hoa Kỳ và khối NATO đều dùng cơ cấu "vòng ngắm đồng tâm" để ngắm bắn. Cơ cấu này gồm vòng tròn nhỏ ở đầu nòng súng ("đầu ruồi") và vòng tròn lớn ở thước ngắm. Khi vòng tròn nhỏ đồng tâm và nằm trong vòng tròn lớn thì đường ngắm cơ bản đi qua tâm của hai vòng tròn. Đường ngắm có bản đặt vào đâu trên mục tiêu thì điểm chạm của viên đạn ở đó (thường gọi là ngắm đâu trúng đó). Cơ cấu này giúp ngắm bắn chính xác trong điều kiện tác chiến bình thường. Trong huấn kuyện, cơ chế "vòng tròn đồng tâm" đơn giản, dễ hiểu và dễ thực hiện. Nhược điểm của cơ cấu này là vòng ngắm che khuất các phần khác của mục tiêu là xạ thủ khó quan sát các hoạt động khác của mục tiêu trước khi hạ mục tiêu. Nhược điểm thứ hai là trong điều kiện chiến đấu khẩn trương do đối phương cũng phát huy hỏa lực, việc đặt các vòng tròn đồng tâm cho chính xác trở nên khó khăn cho xạ thủ. Một nhược điểm nữa la khi các vòng ngắm bị bám bùn, đất và các chất bẩn khác, việc lau chùi để khôi phục vòng sáng khó khăn và mất nhiều thời gian trong khi điều kiện chiến đấu đòi hỏi rất khẩn trương, thậm chí tính từng giây.

Ngắm bắn bằng cơ cấu "khe ngắm - đầu ruồi"[sửa | sửa mã nguồn]

Khác với cơ cấu vòng tròn đồng tâm, cơ cấu này dùng vật chuẩn thứ nhất (đầu ruồi) hình chữ I đặt trong khe ngắm hình chữ V, chia đôi khe sáng ở khe ngắm thành hai phần bằng nhau, đầu ruồi ngang bằng với vai ngắm. Đường ngắm cơ bản đi qua đầu ruồi. Tùy theo cấu tạo, yêu cầu tác xạ mà có loại súng dạng "ngắm đâu trúng đó" và có loại súng "ngắm dưới trúng trên". Phương pháp ngắm dưới trúng trên thường được hệ thống vũ khí khối Warsava (cũ) sử dụng, có độ lệch lên từ 12 đến 20 cm tùy theo loại súng. Cơ cấu này có ưu điểm là xạ thủ quan sát được toàn bộ phần trên (phần quan trọng nhất) của mục tiêu. Cách lấy đường ngắm cơ bản tuy phức tạp hơn nhưng nếu tập luyện tốt có thể đạt hiệu quả cao hơn phương pháp "vòng tròn đồng tâm" trong điều kiện tác chiến ác liệt, đối phương phát huy hỏa lực mạnh. Trong điều kiện chiến đấu thực tế, không cần độ chính xác cao mà chỉ cần sát thương đối phương với yêu cầu tương đối chính xác, chỉ cần đặt đầu ruồi trong khe ngắm là đủ để xác định hướng bắn. Còn tầm đạn sẽ bị sức giật chi phối. Điều này đặc biệt hiệu quả khi dùng với súng có cơ chế giảm giật bằng đầu nòng vát xuống. Khi khe ngắm và đầu ruồi bị đất, bùn hoặc các chất bẩn bám vào, việc lau chùi và khôi phục khe sáng dễ dàng và nhanh, đáp ứng được điều kiện chiến đấu khẩn trương.

Ngắm bắn bằng dụng cụ quang học[sửa | sửa mã nguồn]

Một số tiểu liên hiện đại được trang bị kính ngắm quang học. Chúng giúp xạ thủ ngắm bắn chính xác hơn các cơ cấu ngắm bắn cơ học. Kính ngắm cũng có cơ cấu điều chỉnh tầm và hướng, có thước đo cự ly, đo tốc độ di chuyển của mục tiêu. Ngoài kính ngắm quang học thông thường, còn có loại kính ngắm nhìn đêm, dùng hệ thống khuếch đại ánh sáng yếu hoặc khuếch đại tia hồng ngoại. Nhược điểm của kính ngắm quang học là hạn chế góc quan sát của xạ thủ. Xạ thủ chỉ có thể bám một vài mục tiêu gần nhau, không quan sát được các mục tiêu nằm ngoài xạ giới.

Ngắm bắn bằng đèn lazer[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều loại tiểu liên hiện đại (MP5, CAR-15, AK-102...) được trang bị cơ cấu ngắm bắn lazer. Trong cơ cấu này, một đèn lazer được lắp đồng trục với nòng súng Khi đèn lazer hoạt động, "chấm đỏ" của đèn này đặt vào đâu thì đường ngắm đúng đặt vào đó. Cơ cấu ngắm bắn lazer thực chất là cơ cấu súng tự ngắm dưới sự điều chỉnh của xạ thủ. Nó không cần các thao tác phức tạp như ngắm bắn cơ học hoặc ngắm bắn quang học. Phương pháp này rất thích hợp để xạ kích ở nơi có ánh sáng yếu. Nhược điểm của nó là thường làm lộ xạ thủ, đối phương dễ phát hiện nguồn lazer và hướng hỏa lực vào đó để tiêu diệt xạ thủ. Trong điều kiện xạ giới có sương mù hoặc khói dày đặc thì đèn lazer bị vô hiệu hóa.

Ngắm bắn bằng camera[sửa | sửa mã nguồn]

Nhược điểm của tất cả các loại súng bộ binh nó buộc xạ thủ khi xạ kích phải bộc lộ mục tiêu là chính họ, ít nhất từ mắt lên đến đỉnh đầu. Khi ẩn nấp, hầu như không thể xạ kích. Người Israel đã chế ra loại camera gắn trên một kiểu súng tiểu liên dạng CAR-15 có báng gập ngang. Nếu ẩn nấp sau một cạnh tường, một thân cây, một cây cột lớn... xạ thủ bẻ gập súng 90 độ theo chiều ngang, quan sát và xạ kích bằng camera mà vẫn không bị bộc lộ mục tiêu. Hệ thống ngắm bắn bằng camera này còn phát huy hiệu quả tốt hơn khi sử dụng kết hợp với đèn lazer chỉ thị đường ngắm cơ bản.

Đạn dùng cho súng tiểu liên[sửa | sửa mã nguồn]

Tiểu liên là loại vũ khí có thể dùng đạn súng ngắn (PPSh-41 dùng chung đạn với K-54), đạn súng trường, trung liên (AK-47 dùng chung đạn với CKC, K-63, RPD, RPK) hoặc dùng riêng một loại đạn tiêu chuẩn cho các súng cùng chủng loại theo từ khối quân sự (đạn 5,56 mm tiêu chuẩn khối NATO, đạn 7,62 mm tiêu chuẩn khối Warsawa). Trọng lượng và kích cỡ của tiểu liên có kích cỡ của súng ngắn cỡ lớn (UZI của Israel) đến mức dưới súng trường (AK-47). Cũng có loại chỉ dùng đúng đạn chế tạo riêng cho nó. Khẩu M3 Gease của Hoa Kỳ có loại đạn 9 mm x 26 mm không thể dùng chung với bất kỳ loại súng nào. Khẩu MAS 48 cũng dùng đạn riêng cỡ 7,65 mm.

Ngoài ra, các súng tiểu liên cỡ lớn như AK-47, AR-15 đều có thể dùng đạn cháy, đạn xuyên cháy, đạn lửa vạch đường để chỉ thị mục tiêu trong đêm tối hoặc ở nơi có ánh sáng yếu. Trong luyện tập chiến thuật và diễn tập thực binh, người ta thường dùng đạn đầu giấy (mã tử) để xạ kích mà nhằm tránh gây thương vong trên bãi tập.

Ngày nay, do như cầu tác chiến hiệp đồng, các loại súng tiểu liên của các quốc gia trong các khối quân sự lớn thường sử dụng chung một loại đạn có kích cỡ tiêu chuẩn để tạo thuận lợi trong việc sản xuất và tiếp tế trên chiến trường.

Một số cải tiến lớn[sửa | sửa mã nguồn]

Súng tiểu liên gập FMG9 của Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Ý tưởng chế tạo súng tiểu liên gập được đã có ít nhất 2 thập kỷ. Tháng 3/2008, hãng Magpul Industries (Mỹ) đã đưa ra mẫu chế thử bán tự động của loại súng như thế có tên FMG9 (Folding Machine Gun) cỡ 9 mm với hình dáng như một hộp dụng cụ gắn đèn pin bên trên để làm loá mắt đối phương. Khi cần chỉ bấm một nút bấm là cơ cấu lò xo sẽ đưa FMG9 từ dạng hộp thành súng ở tư thế chiến đấu với hộp đạn Glock 18 chứa 31 viên đạn sẵn sàng bắn. FMG9 là vũ khí thích hợp cho các cuộc tấn công chớp nhoáng, bất ngờ. Súng được tích hợp thiết bị ngắm laser và có thể không cần lắp tay xách và đèn pin để dễ mang giấu hơn.

Một số súng tiểu liên thông dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Từ điển bách khoa Việt Nam. Tập 4 (T-Z). NXB Từ điển Bách khoa. Hà Nội. 2005. trang 409.
  2. ^ Nguyễn Hữu Thăng. Vũ khí xưa và nay. NXB Khoa học và kỹ thuật. Hà Nội. 2002. trang 68.