PPSh-41

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
PPSh-41
Пистолет-пулемет системы Шпагина обр. 1941.jpg
Súng tiểu liên PPSh-41 với băng đạn trống 71 viên, sử dụng loại đạn 7,62×25mm Tokarev.
Loại Súng tiểu liên
Nguồn gốc  Liên Xô
Lược sử hoạt động
Trang bị 1941 – Nay
Quốc gia sử dụng Xem người dùng
Sử dụng trong Thế chiến thứ hai
Chiến tranh Triều Tiên
Chiến tranh Việt Nam
Chiến tranh Việt Nam - Campuchia
Chiến tranh Lạnh
Chiến tranh Afghanistan (1978–1992)
Chiến tranh Afghanistan (2001-nay)
Nội chiến Lào
Cách mạng Cuba
Nội chiến Trung Quốc
Chiến tranh Mùa Đông
Chiến tranh Iraq
Chiến tranh Đông Dương
Chiến tranh Liên Xô-Phần Lan
Chiến tranh biên giới Lào-Thái Lan
Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ hai
Nội chiến Yemen
Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979
Chiến Tranh tiếp diễn
Nội chiến Campuchia
Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế Georgi Shpagin
Năm thiết kế Hoàn thành giữa năm 1940
Giai đoạn sản xuất 1941 tới cuối Thế chiến thứ hai.
Số lượng chế tạo Xấp xỉ 6.000.000 khẩu.
Các biến thể PPD-40, PPSh-41, PPS, MP41(r), MP717(r), SKL-41, Kiểu 49, Kiểu 50, K-50M.
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng 3,63kg chưa lắp hộp tiếp đạn.
5,45kg với băng đạn trống 71 viên nạp đầy.
4,3kg với băng đạn cong 35 viên nạp đầy.
Chiều dài 843mm
Cỡ nòng  269mm

Đạn 7,62×25mm Tokarev
Cơ cấu hoạt động máy lùi, bắn khi khóa nòng hở
Tốc độ bắn 900 viên/phút
Sơ tốc 490 m/s
Tầm bắn hiệu quả 200 m[1]
Tầm bắn xa nhất 1000m đường đạn ngoài theo lý thuyết
Cơ cấu nạp Băng đạn trống 71 viên và băng đạn cong 35 viên.
Ngắm bắn Trước: Đầu ngắm có vòng chống va đập.
Sau: Những khẩu đầu tiên có thước ngắm có con trượt chỉnh tầm, định tầm bắn đến 500m. Về sau sử dụng khe ngắm kiểu lật (kiểu chữ "L") định tầm 100 và 200m.

PPSh-41 (Pistolet-Pulemyot Shpagina obrazet 1941 - Súng tiểu liên của Shpangin kiểu năm 1941) là súng tiểu liên được kỹ sư Georgi Shpagin thiết kế. Súng được chấp nhận trang bị năm 1941 và là súng tiểu liên tiêu chuẩn của Hồng quân Xô Viết trong thế chiến thứ hai. Có thể coi đây là một phiên bản đơn giản hóa, tối ưu hóa của khẩu súng tiểu liên do thiếu tướng - kỹ sư Vasily Degtyaryov thiết kế năm 1934 (cải tiến vào năm 1940 trở thành PPD-40). PPSh-41 với thiết kế máy lùi, bắn khi khóa nòng hở, sử dụng đạn 7,62×25mm của súng ngắn Tokarev TT-33 đã trở thành súng tiểu liên tiêu chuẩn của Hồng quân Xô Viết khi đó.

PPSh-41 được trưng bày trong viện bảo tàng ở Liên Xô.
PPSh-41 được thấy trên tay của một người lính Hồng quân đang áp giải tù binh Đức sau Trận Stalingrad năm 1943.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Chiến tranh Liên Xô - Phần Lan, súng tiểu liên liên tiếp chứng tỏ ưu thế "xung phong" trong những chiến hào và đô thị, nhất là trong các chiến hào và công trình, có không gian chật hẹp, mà súng trường hầu như vô dụng. Dự án thiết kế PPSh-41 được triển khai vào giữa năm 1941, những nơi đầu tiên chế tạo súng là các nhà máy ở Moskva.

Từ tháng 11 năm 1941, khoảng vài trăm khẩu đã được sản xuất thí điểm và rất nhanh sau đó, 155,000 khẩu đã xuất xưởng. Tới mùa xuân năm 1942, trung bình mỗi ngày có 30,000 khẩu PPSh-41 được xuất xưởng. Súng đã trở thành vũ khí kiểu mẫu, là ý tưởng cho các loại súng tiểu liên của các quốc gia khác lúc bấy giờ. Một khẩu PPSh-41 lúc đó với dây chuyền sản xuất tiêu chuẩn chỉ mất trung bình 7.3 giờ để chế tạo, trong khi một khẩu PPD-40 phải mất tới hơn 10 giờ.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Mọi súng tiểu liên trước và trong thế chiến thứ hai đều đơn giản. Thậm chí nếu so sánh về mức độ phức tạp trong tính toán thiết kế, súng ngắn liên thanh còn đơn giản hơn súng kíp nòng trơn. Hầu hết súng ngắn liên thanh đều có máy lùi - kiểu máy súng đơn giản nhất. PPSh-41 cũng như vậy.

Ngoài thiết kế đơn giản, dễ chế tạo và sử dụng, những khẩu PPSh-41 được sản xuất trong thế chiến còn rất rẻ do các bộ phận bằng kim loại, trừ nòng và khóa nòng, đều không được gia công bằng các phương pháp phức tạp như súng trường, tuy nhiên vẫn bảo đảm cho khẩu súng có một kết cấu vững chắc. Hàng triệu khẩu PPSh-41 đã ra đời trong các nhà máy tạm thời được sơ tán kể từ khi quân Đức tràn vào lãnh thổ Liên bang Xô Viết.

Đạn 7,62×25mm Tokarev có đường đạn và khả năng xuyên tốt hơn nhiều so với đạn 9x19mm, và tốt hơn nhiều so với đạn .45 ACP. Đạn là một phiên bản nâng cấp từ đạn súng ngắn 7,63×25mm Mauser. Có thể nói nền móng thành công của 7,62×25mm Tokarev là 7,63×25mm Mauser. Vỏ đạn cổ thắt, có gờ móc đạn rất thích hợp cho các súng tự động. Đầu đạn dài, được thiết kế kỹ lưỡng cho đường đạn ngoài tốt nhất có thể. Thuốc đạn là loại viên định hình bền chắc, áp xuất thấp giảm chậm, tương tự như thuốc đạn súng trường chiến đấu 7.92×57mm Mauser7,62×54mmR. Có thể nói 7,63×25mm Mauser và 7,62×25mm Tokarev được thiết kế bằng cách rút ngắn chiều dài đạn súng trường làm đạn súng ngắn. Các đạn này chỉ có thể phát huy đầy đủ ưu điểm trên các súng ngắn liên thanh có máy tự động, hơn là bị giới hạn trên các súng ngắn bán tự động Mauser C96TT-30/TT-33. Đạn cũng ưu việt hơn nhiều so với các đạn quá áp vỏ trụ dùng thuốc bột phổ biến lúc đó như 9x19mm. Một loại đạn nổi tiếng thế giới khác là đạn súng trường tiến công 7,62×39mm M43 cũng được thiết kế theo lý luận rút ngắn đạn súng trường.

Với đạn 7,62×25mm Tokarev, PPSh-41 đạt tầm bắn chính xác tới 200m với nòng dài 269mm. Trong khi đó MP-40 của Đức dùng đạn 9×19mm Parabellum có nòng tương đương (251mm) chỉ dừng lại ở mức 100m. Khẩu Thompson của Mỹ dùng đạn.45 ACP với nòng dài 267-270mm còn kém hơn nữa: 50m.

Ngoài ưu thế về đạn, PPSh-41 còn có tốc độ bắn lý thuyết lên tới 900 phát/phút tạo ra ưu thế hỏa lực chế áp tầm gần và xung phong. Điều này được củng cố bởi hộp tiếp đạn trống 71 viên làm tăng khả năng duy trì hỏa lực, hạn chế thời gian dừng thay đạn. Thời đó, trong biên chế một tiểu đội bộ binh chỉ có từ một tới hai súng ngắn liên thanh, còn lại là súng trường chiến đấu và một súng máy. Khi xung phong, nhất là trường hợp tấn công chiến hào hoặc những địa hình chật hẹp, do súng trường chiến đấu bắn quá chậm, trong khi súng máy nặng và độ giật khi bắn rất cao, những binh sĩ mang các loại súng này khó có thể phản ứng kịp các tình huống phát sinh đột ngột rất thường xảy ra, nhất là đọ súng ở tầm rất gần. Súng ngắn liên thanh trong giai đoạn chưa xuất hiện súng trường tiến công là một lựa chọn tối ưu, và thực sự chúng được phát minh cho việc xung phong. Thậm chí ngày nay các súng ngắn liên thanh vẫn chiếm lợi thế khi chiến đấu trong các công trình vì tính năng gọn nhẹ.

Tuy nhiên do hạn chế về công nghệ vật liệu, loại hộp tiếp đạn trống 71 viên khá nặng nên phải dùng thép 0,5mm làm vỏ để giảm trọng lượng. Vỏ hộp tiếp đạn mỏng làm hộp tiếp đạn dễ bị móp bẹp do va chạm, làm kẹt lò xo xoay cần đẩy đạn. Chính lò xo này cũng khá yếu do Liên Xô lúc đó rất khan hiếm vật liệu tốt. Trong khi thiết kế súng Shpagin đã để thừa một viên, hay đúng hơn là sức đàn hồi cao nhất của lò xo có thể đẩy được 71 viên. Sau đó ông khuyến cáo binh sĩ không nên nạp đầy 71 viên để lò xo không làm việc hết sức, duy trì tuổi thọ. Súng đã nạp đạn nặng tới 5,45 kg và dễ kẹt đạn. Vì vậy loại hộp tiếp đạn cột kép 35 viên cho PPSh-41 đã ra đời để khắc phục nhược điểm này, mặc dù chứa được ít đạn hơn nhưng nhẹ và bền chắc hơn. Mặt khác, loại hộp tiếp đạn này làm xạ thủ thoải mái hơn, có thể dùng hộp tiếp đạn như tay cầm trước. Tuy nhiên khả năng xung phong của PPSh-41 với hộp tiếp đạn 71 viên vẫn được binh sĩ ưa chuộng. Các xạ thủ súng ngắn liên thanh được biên chế ba hộp tiếp đạn 35 viên cho tình huống chiến đấu bình thường, song song với một hộp tiếp đạn 71 viên được lắp vào súng trước khi xung phong hoặc thâm nhập vào những nơi chật hẹp.

Về dáng súng, PPSh-41 vẫn mang đặc điểm cố hữu từ khẩu MP-18 của Đức sau thế chiến thứ nhất là báng gỗ liền vỏ máy, có cổ báng súng làm vị trí cầm sau, làm tư thế ngắm không thoải mái, chưa áp dụng thiết kế hiện đại như khẩu MP-38 và MP-40. Tuy nhiên thay vì phải có vị trí cầm trước ở phía trước cửa lắp hộp tiếp đạn như súng Tiểu liên Thompson để xạ thủ có thể giữ súng thoải mái, chắc chắn, có tư thế tốt để tận dụng ưu thế đường đạn, xạ thủ phải giữ tay ở vị trí sau hộp tiếp đạn, gần cổ báng súng, hoặc giữ hộp tiếp đạn. Mặc dù nòng súng có lồng thép bọc ngoài đề phòng khả năng xạ thủ bị bỏng do tiếp xúc với nòng, nhưng không thể dùng bộ phận này thay ốp lót tay cầm trước vì không có chức năng cách nhiệt. Thực ra việc bố trí vị trí cầm trước đối với PPSh-41 là rất không khả thi vì hộp tiếp đạn trống khá to làm tư thế nâng súng bị vướng. Các súng tiểu liên thời kỳ đầu có máy súng rất dài. Các mẫu phổ biến là PPSh-41, MP-40 và Thompson M1/M1A1 có tỷ lệ chiều dài thân súng (hộp chứa máy súng) - nòng khoảng 1:1. Do đó khẩu súng khá dài. PPSh-41 không có thiết kế đẩy cụm cò và vị trí cầm sau về gần cửa lắp hộp tiếp đạn (kéo theo báng được đẩy về trước để duy trì chiều dài báng vừa phải) để rút ngắn chiều dài toàn bộ khẩu súng như Thompson, nên khoảng cách giữa vị trí cầm trước (nếu có) và đế báng súng tì vào vai khá xa nhau, tương đương với khoảng cách của súng trường. Khoảng cách như vậy chỉ thích hợp cho súng trường cần kiểm xoát tốt góc hướng để ngắm xa, nhưng sẽ làm mất ưu thế linh hoạt quan trọng nhất khi chiến đấu tầm gần và rất gần.

Thompson M1 và M1A1 được Mỹ chấp nhận trang bị làm súng tiểu liên chủ lực và viện trợ với số lượng lớn cho Liên Xô trong Thế chiến thứ hai. Súng có dáng súng rất thành công khi hỗ trợ cả linh hoạt tầm gần và kiểm xoát góc tầm trung, thích hợp cho khả năng bắn chính xác tới 200m nếu dùng đạn 7,62×25mm Tokarev. Nhưng súng dùng đạn.45 ACP, đầu đạn nặng, sơ tốc thấp, đường đạn kém, nên chỉ thích hợp với chiến đấu ở tầm rất gần. Súng không có tốc độ bắn cao như PPSh-41 và không lắp được hộp tiếp đạn 100 viên như các phiên bản tiền thân. Với trọng lượng 4,8 kg chưa nạp đạn và chỉ có hộp tiếp đạn 30 viên, súng thậm chí còn kém hơn cả PPSh-41 và MP-40 về tỉ lệ trọng lượng - tính năng. Liên Xô chưa từng trang bị số súng đạn được Mỹ viện trợ cho binh sĩ.

Súng tiểu liên MP-40 tiêu chuẩn của quân Đức có dáng súng thuần súng ngắn liên thanh. Súng cũng có báng và tay cầm sau tách rời nhau. Vị trí cầm trước chính là hộp tiếp đạn. Kiểu cầm súng này cộng với báng gập bằng thép làm súng rất gọn, rất có lợi thế chiến đấu tầm gần, nhất là xoay trở trong các địa hình chật hẹp. Với tầm bắn chính xác tới 100m, xạ thủ không cần phải quan tâm tới tư thế bắn cần kiểm xoát hướng đối với mục tiêu ở cự li xa hơn. Đây là khẩu súng thành công nhất thời đó trong phương diện thiết kế dáng súng tận dụng tốt đường đạn và đáp ứng được yêu cầu kỹ chiến thuật cơ bản của súng tiểu liên. Dù vậy, lịch sử cũng ghi nhận rất nhiều trường hợp binh sĩ Đức bỏ khẩu MP-40 của mình để làm bạn với PPSh-41 chiến lợi phẩm. Thậm chí một số lượng kha khá PPSh-41 phiên bản dùng đạn 9x19mm do quân Đức cải tiến đã xuất xưởng và được sử dụng ở Mặt trận phía đông. Thiếu tướng - kỹ sư Alexei Sudayev của Liên Xô đã sử dụng dáng súng ưu thế của MP-40 vào thiết kế của ông và cho ra đời khẩu PPS-42.

Súng tiểu liên Sten của Anh. Súng này không hề có một đặc điểm nào đáng giá để so sánh với PPSh-41, thậm chí kém hơn nhiều so với Thompson M1928A1 và M1A1 của Mỹ. Có thể nói rằng nó đã thất bại hoàn toàn ngay từ phiên bản đầu tiên.

PPSh-41 được công nhận là khẩu súng tiểu liên tốt nhất Thế chiến thứ hai, và là biểu tượng của Hồng quân Xô Viết trong cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại.

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Các phiên bản[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kiểu 50: Phiên bản nhái bất hợp pháp PPSh-41, chỉ lắp được hộp tiếp đạn 35 viên.[6]
  • Kiểu 49: Phiên bản PPSh-41 chỉ lắp được hộp tiếp đạn trống.[6]
  • K-50M: Phiên bản PPSh-41 được cải tiến trực tiếp từ những khẩu PPSh-41 được Liên Xô viện trợ trong Chiến tranh Việt Nam. The chief difference was that the cooling sleeve of the K-50 was truncated to three inches and a foresight based on that of the French MAT-49 was attached to the front of the barrel.[7] Modifications include the addition of a pistol grip, a steel wire-made stock and the shortened barrel.[8] The changes made the K-50 much lighter by 500 g (1.1 lb) lighter than the PPSh41 at 3.4 kg (7.5 lb) as opposed to 3.9 kg (8.6 lb).[9] The weapon uses a 35-round stick magazine, but the 71-round drum magazine can be used if the stock was fully retracted.[8]
  • MP41(r): A captured PPSh-41 converted to 9mm Parabellum caliber for use by German forces.
  • MP717(r): A captured, unconverted PPSh-41 placed in German service and supplied with 7.63×25mm ammunition
  • SKL-41: A semi-automatic version of the PPSh-41 which became available on the German market in 2008. This version is converted to fire the 9mm Parabellum cartridge. Aside from replicas of its original magazines, it also accepts MP 40 magazines.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Edwards, Paul M (2006). The Korean War. Westport, CT: Greenwood Press. tr. 77. ISBN 0-313-33248-7. 
  2. ^ a ă â Jones, Richard D.; Ness, Leland S. biên tập (27 tháng 1 năm 2009). Jane's Infantry Weapons 2009/2010 (ấn bản 35). Coulsdon: Jane's Information Group. ISBN 9780710628695. 
  3. ^ The Bay of Pigs: Cuba 1961 by Alejandro Quesada, ISBN 978-1-84603-323-0, p. 62 url: [1]
  4. ^ “7.62mm Submachine Gun PPSh41”. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2010. 
  5. ^ a ă Miller, David (2001). The Illustrated Directory of 20th Century Guns. Salamander Books Ltd. ISBN 1-84065-245-4.
  6. ^ a ă â US Department of Defense, North Korea Country Handbook 1997, Appendix A: Equipment Recognition, PPSH 1943 SUBMACHINEGUN (TYPE-50 CHINA/MODEL-49 DPRK), p. A-79.
  7. ^ “PPSh41 Sub Machine Gun”. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2009. 
  8. ^ a ă “Modern Firearms' K-50M Submachine Gun”. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2009. 
  9. ^ “VC Weapons”. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2009. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]