DShK

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
DShK
NVA DShK.jpg
1 khẩu DShK với bánh xe và tấm chắn.
Loại Đại liên
Nguồn gốc  Liên Xô
Lược sử hoạt động
Trang bị 1938- hiện nay
Quốc gia sử dụng Các quốc gia sử dụng
Sử dụng trong Thế chiến thứ hai
Chiến tranh Triều Tiên
Nội chiến Trung Quốc
Chiến tranh Việt Nam
Nội chiến Campuchia
Chiến dịch phản công biên giới Tây - Nam Việt Nam
Chiến tranh 6 ngày
Chiến tranh Tháng Mười
Chiến tranh Vùng Vịnh
Chiến tranh Iraq
Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế Vasily DegtyaryovGeorgi Shpagin
Năm thiết kế 1933
Nhà sản xuất Nhà máy vũ khí Tula
Giá thành khoảng 280 Rub Liên Xô (theo giá đồng Rub Liên Xô năm 1925)
Giai đoạn sản xuất 1938
Số lượng chế tạo trên 1 triệu khẩu (tính đến năm 1980)
Các biến thể DK, DShKM
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng 34 kg (74,96 lb) (chỉ tính súng)
157 kg (346,13 lb) tính luôn cả bánh xe
Chiều dài 1.625 mm (64 in)
Cỡ nòng  1.070 mm (42,1 in)
Kíp chiến đấu 2-3 binh sĩ

Đạn 12,7×108mm
Cơ cấu hoạt động Trích khí
Tốc độ bắn 600 viên/phút
Sơ tốc 850 m/s (2,788 ft/s)
Tầm bắn hiệu quả đến 1.000 m
Tầm bắn xa nhất đến 2.000 m
Cơ cấu nạp Dây đạn 50 viên
Ngắm bắn Đỉnh đầu ruồi/kính ngắm quang học

DShK 1938 (Дегтярёва-Шпагина Крупнокалиберный, Degtyaryova-Shpagina Krupnokaliberny, Đại liên Degtyarov – Shpagin kiểu 1938) là một kiểu đại liên dùng trong tác chiến mặt đất và tác chiến phòng không do Liên Xô chế tạo, sử dụng đạn 12,7×108mm và được được chấp nhận đưa vào biên chế Hồng quân Liên Xô từ năm 1938.

Tên của súng là sự kết hợp giữa tên nhà thiết kế Vasily Degtyaryov, người đã sáng chế ra kiểu nguyên bản là đại liên DK và Georgi Shpagin, người đã cải tiến cơ chế dẫn đạn để có kiểu súng DShK hoàn chỉnh. Đôi khi súng cũng có biệt danh là Dushka (ДуШКа).

Lịch sử phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Sau đại chiến thế giới thứ nhất, đặc biệt là từ năm 1929, lực lượng không quân và thiết giáp của nhiều nước châu Âu và Bắc Mỹ phát triển rất nhanh, làm phát sinh yêu cầu về một kiểu đại liên vừa có thể tác chiến trên mặt đất, vừa có thể tác chiến phòng không đã bắt đầu xuất hiện. Vasily Degtyaryov, nhà chế tạo vũ khí nổi tiếng của Liên Xô đã được các nhà lãnh đạo của Hồng quân Liên Xô đề nghị chế tạo một kiểu súng máy uy lực có thể dùng để chống lại xe thiết giáp hạng nhẹ và máy bay. Degtyaryov cuối cùng đã thiết kế một kiểu súng máy mới, không sử dụng loại đạn 7,62×54 mm cũ mà sử dụng đạn 12.7x108 mm có động năng lớn hơn làm cho súng có uy lực hơn.

Kiểu súng máy này lúc đầu có tên gọi là Degtyaryov, Krupnokalibernyi (DK, đại liên DK), ra đời năm 1930. Súng máy DK được đưa vào sản xuất ở một số lượng hạn chế từ năm 1933, được gắn trên các xe bọc thép, xe tăng hạng nhẹ và một số tàu nhỏ của hải quân. Về sau này, Shpagin đã cải tiến kiểu đại liên này với các loại giá súng khác nhau để chính thức cho ra đời Degtyaryova-Shpagina Krupnokaliberny (đại liên Degtyarov – Shpagin). Năm 1938, DShK đã chính thức được đưa vào biên chế trang bị của Hồng quân Liên Xô tại các quân binh chủng: bộ binh, thiết giáp, không quân và hải quân.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

DShK là kiểu đại liên làm mát bằng không khí, hoạt động bằng cơ chế trích khí. Kiểu đại liên DK lúc đầu sử dụng băng đạn rời 30 viên. Chính việc này đã đưa đến một nhược điểm của DK trong chiến đấu là tốc độ bắn thực tế của súng chậm lại do phải thường xuyên thay đạn. Chỉ đến khi Georgi Shpagin cho cải tiến súng bằng cách chuyển qua sử dụng dây đạn, nhược điểm này mới được khắc phục. Đại liên DK với cơ chế sử dụng dây đạn đã được chấp nhận đưa vào chiến đấu và súng từ đó có tên là DShK.[1] Súng chỉ có một chế độ xạ kích duy nhất là bắn tự động. Xạ thủ sử dụng hệ thống trích khí bằng ba thiết bị gồm một khóa nòng lùi và hai chốt ngang xoay quanh một trục khóa thẳng đứng, gắn với lá chắn vỏ đạn. Vỏ nòng súng được xẻ rảnh để tăng khả năng làm mát, và được gắn với một bộ phận giảm giật lớn.[1]

Sau Thế chiến thứ hai, súng có cải tiến chút ít về đạn. Một dây đạn có 50 viên, cứ 5 hoặc 3 viên đạn xuyên thì gài vào 1 viên đạn lửa có tác dụng dẫn đường trong xạ kích ban đêm hoặc trong môi trường ánh sáng yếu. Đạn lửa giúp cho xạ thủ quan sát được đường đi của loạt đạn để kịp thời điều chỉnh đường ngắm. Loại đạn này cũng có tác dụng sát thương như đạn xuyên.[2] Đạn 12.7 mm còn có thể xuyên thép 15mm ở cự ly 500m. Súng khá nặng, khoảng 137 kg cả súng lẫn giá đỡ. Biên chế nhân lực chiến đấu thường có tổ 3 người. Khi di chuyển, một người mang thân súng, một người mang (hoặc kéo) chân đế, một người mang đạn. Một khẩu DShK hoàn chỉnh còn bao gồm một giá 3 chân (dùng cho phòng không) hoặc giá bánh xe (dùng cho bộ binh), một kính ngắm (dùng cho tác chiến phòng không) và thiết bị giảm giật của kính ngắm có thể tháo rời ra được.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Thế chiến thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

DShK đang chiến đấu ở vị trí phòng không trong thế chiến thứ hai

DShK 1938 là đại liên tiêu chuẩn của Hồng quân Liên Xô trong Thế chiến thứ hai và được sử dụng trong nhiều vai trò. Khi sử dụng làm súng phòng không, nó được gắn trên các giá 3 chân và có thể được trang bị cho cho xe tải, xe tăngpháo tự hành làm hỏa lực phụ như xe tăng IS-2, pháo tự hành ISU-152 và xe tăng T-34 (loại có lắp pháo nòng trơn 85 mm). Đôi khi, súng còn được trang bị thành hỏa lực chính của loại xe tăng lội nước hạng nhẹ T-40 và xe bọc thép chở quân họ BTR.

Không chỉ trong tác chiến phòng không, DShK còn được sử dụng cho nhiệm vụ yểm trợ bộ binh trên mặt đất. Khi đó, súng sẽ được gắn trên một bộ chân đế có hai bánh xe, hai càng cố định chân súng và một tấm chắn bằng thép để bảo vệ cho xạ thủ.

Sau Thế chiến thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1946, phiên bản hiện đại hơn DShK 1938/46 hay DShKM đã ra đời. Sau Thế chiến, súng không chỉ được sử dụng tại Nga mà còn lan rộng ra các nước Đông Âu thuộc Khối Warszawa, Cộng hòa nhân dân Trung HoaPakistan. Một số kiểu xe tăng hiện đại sau Thế chiến thứ hai như T-55 đến T-72 vẫn sử dụng đại liên DShK làm hỏa lực phòng không. Nhiều phiên bản của kiểu súng này đã được sản xuất tại Cộng hòa Séc, Trung Quốc, Iran và Pakistan. Pakistan hiện là quốc gia duy nhất còn sản xuất phiên bản DShK của Trung Quốc, đại liên Kiểu 54.[1]

Năm 1950, DShK phiên bản phòng không được Cộng hòa nhân dân Trung Hoa viện trợ cho Việt Nam và nó trở thành hoả lực phòng không chính trong các đại đoàn chủ lực và các tiểu đoàn phòng không độc lập Quân đội Nhân dân Việt Nam trong Chiến tranh Đông DươngChiến tranh Việt Nam.

Như nhiều thứ vũ khí khác của Nga, tuy không còn được sử dụng ở trong nước, DShK vẫn còn được sử dụng trong chiến đấu ở một số khu vực, đặc biệt là ở Thế giới thứ ba, nơi vẫn còn những cuộc xung đột vũ trang và nội chiến. Năm 2004, tại Al-Amarah, Iraq, nó đã được sử dụng để chống lại lính Anh.[3] Tuy nhiên, hiện nay, kiểu đại liên này đã gần như bị thay thế hết bởi các kiểu súng mới hiện đại hơn như NSV hay súng máy Kord.

Nội chiến Trung QuốcChiến tranh Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Nội chiến Trung Quốc giai đoạn 1945 - 1949, đại liên DShK do Liên Xô viện trợ cho Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc được sử dụng rộng rãi. Trước năm 1945, Bát lộ quân và Tân tứ quân Trung Quốc chỉ có hơn chục khẩu DK (phiên bản đầu của DShK) và sử dụng phổ biến đại liên Marximtrung liên Browning làm hỏa lực chủ yếu yểm trợ cho bộ binh. Năm 1945, sau khi đánh bại đạo quân Quan Đông của Nhật Bản tại Mãn Châu, Liên Xô viện trợ cho Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc hàng chục nghìn tấn vũ khí, đạn dược; trong đó có hơn 3000 khẩu DShK đã qua sử dụng. Từ đó, loại súng máy này được trang bị đến cấp tiểu đoàn của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, có hơn 100 đại đội hỏa lực đại liên DShK chuyên trách được tổ chức. Ngoài ra, mỗi đại đội bộ binh nặng cũng được trang bị từ 1 đến 2 khẩu súng này. Cùng với chiến thuật biển người, hỏa lực đại liên DShK đã reo rắc nỗi kinh hoàng cho các đơn vị bộ binh, thiết giáp hạng nhẹ và các loại máy bay cánh quạt của Quân đội Trung Hoa dân quốc.

Trong Chiến tranh Triều Tiên, Chí nguyện quân Trung QuốcQuân đội Nhân dân Triều Tiên cũng sử dụng đại liên DShK làm hỏa lực yểm hộ cấp tiểu đoàn. Trước năm 1951, khi còn phải sử dụng các máy bay chiến đấu có động cơ cánh quạt như Yak-1, La-5,... đại liên DShK cũng được gắn trên cánh hoặc lắp đồng trục với động cơ cánh quạt của các loại máy bay này. Nó vẫn duy trì sự có mặt trong không quân Trung Quốc trên các máy bay oanh tạc cánh quạt. Mỗi chiếc IL-2 hoặc IL-12 được trang bị từ 2 đến 6 khẩu DShK để chống lại các máy bay tiêm kích của đối phương.

Trong Chiến tranh Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Chiến tranh Đông Dương (1946-1954), từ năm 1950, đại liên DShK được dùng làm hỏa lực cấp trung đoàn và tiểu đoàn bộ binh độc lập (quân chính quy) của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trước năm 1954, do số lượng viện trợ của loại súng này tương đối hạn chế, mỗi trung đoàn hoặc tiểu đoàn bộ binh độc lập chỉ có từ 1 đến 3 khẩu nhưng cũng không đủ để trang bị đồng loạt. Năm 1954, trong biên chế của trung đoàn phòng không 367 thuộc Đại đoàn 351 (hỗn hợp công binh - pháo binh) có sáu đại đội súng máy phòng không với 54 khẩu DShK 12,7 mm, đã tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ và hạ 13 máy bay trên tổng số 62 của quân viễn chinh Pháp bị bắn rơi trong chiến dịch này.[4]

Trong Chiến tranh Việt Nam (1954-1975), đại liên DShK được trang bị đồng loạt trong biên chế hỏa lực cấp trung đoàn và tiểu đoàn bộ binh độc lập của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Mỗi trung đoàn được trang bị từ ban đầu từ 3 đến 4 khẩu. Mỗi tiểu đoàn được trang bị từ 2 đến 3 khẩu Từ năm 1972 trở đi, biên chế hỏa lực súng DShK đối với cấp trung đoàn được tăng lên từ 5 đến 7 khẩu hoặc tổ chức riêng thành các đại đội hỏa lực súng máy hỗn hợp DShK 12,7 mm và ZPU-1 14,5 mm. Đến nay, đại liên DShK được biên chế trong trung đội hỏa lực thuộc đại đội bộ binh chính quy trong QĐNDVN từ 3 đến 5 khẩu nên thường được gọi là súng máy cấp đại đội.

Đối với binh chủng thiết giáp của QĐNDVN, DShK được gắn trên thùng xe bọc thép BTR-40, BTR-50, trên tháp pháo xe tăng T-34, PT-76 và sau này cũng gắn trên xe tăng T-54/55 do pháo thủ thứ hai hoặc trưởng xe trực tiếp điều khiển; vừa dùng làm hỏa lực yểm trợ tầm gần cho bộ binh, vừa dùng làm hỏa lực phòng không tầm thấp. Đối với các tàu tuần tiễu cỡ nhỏ hoặc xuồng phóng lôi, DShK cũng được gắn trên các giá đỡ, phối hợp với các loại súng pháo khác để tạo màn hỏa lực dày hơn về tầm bắn.

Trong tác chiến phòng không, nhiều đơn vị hỏa lực cấp đại đội đến tiểu đoàn phòng không sử dụng súng máy DShK 12,7 mm kết hợp với các loại súng máy cỡ lớn như ZPU-1, ZPU-2, ZPU-4. Điển hình là cụm tiểu cao 175, (đơn vị cấp tiểu đoàn) thuộc Trung đoàn cao xạ 252 (Sư đoàn phòng không 363 - Hải Phòng), trong biên chế có một đại đội 12 khẩu DShK 12,7 mm và 2 đại đội 18 khẩu ZPU-2, ZPU-4 đã chiến đấu tốt trong Chiến dịch phòng không 12 ngày đêm tháng 12 năm 1972, bắn rơi 5 máy bay các loại A-6, A-7, F-4H và một chiếc F-111B của Không lực Hoa Kỳ.[5]

Đối với các lực lượng dân quân, tự vệ trong Chiến tranh Việt Nam, đại liên DShK cũng được sử dụng rất rộng rãi. Trong hai cuộc chiến tại Miền Bắc Việt Nam chống chiến tranh phá hoại của Không lực Hoa Kỳ (1954-1968 và 1972), đại liên DShK được trang bị cho các trung đội và tiểu đội dân quân tạo dựng màn hỏa lực tầm thấp chống các máy bay Mỹ. Đêm 22 rạng ngày 23 tháng 12 năm 1972, ba trung đội tự vệ của Nhà máy Cơ khí Mai Động, Nhà máy Cơ khí Lương Yên và Xí nghiệp Gỗ Bạch Đằng phục kích tại cảng Vân Đồn (Hai Bà Trưng - Hà Nội) đã sử dụng 3 khẩu DShK 12,7 mm và 2 khẩu ZPU-1 14,5 mm đã bắn rơi tại chỗ một máy bay F-111A hiện đại của Không lực Hoa Kỳ.[6]

Sử dụng chiến thuật ngụy trang đón lõng đường bay, nhiều chiến sĩ QĐNDVN đã hạ được nhiều máy bay đối phương (đặc biệt là trực thăng) bằng DShK. Trong 3 năm 1970-1972, chiến sĩ Lê Xuân Tưởng (sinh năm 1950, ngụ thôn Xuân Hồi, xã Liên Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình) đã cùng đồng đội tiêu diệt 37 chiếc máy bay Mỹ bằng DShK, trong đó có 2 chiếc phản lực F-4 Phantom (trong trận đánh ngày 02/07/1970 ở căn cứ Dốc Mây, chỉ trong 30 phút, Lê Xuân Tưởng đã bắn hạ 5 chiếc máy bay hiệu UH-1A của Mỹ)[7][8] Chiến sĩ Tạ Duy Sản (tổ 1B, phường Tân Thịnh, thành phố Hoà Bình) cùng với khẩu DShK đã hạ 4 máy bay Mỹ (trong 3 ngày 15, 16, 17/7/1968, trung đội của ông chốt tại sân bay Khe Sanh đã hạ 7 máy bay CH-47, trong đó Tạ Duy Sản tự bắn hạ 1 chiếc)[9]

Hiện nay, DShk trong biên chế QĐNDVN đang dần được thay thế bởi loại súng máy 12,7 ly tiên tiến hơn là NSV.

Thông số[sửa | sửa mã nguồn]

  • Khối lượng: 34 kg (không đạn, không giá đỡ)
  • Chiều dài: 1.625 mm
  • Cỡ nòng: 12,7 mm
  • Độ dài nòng: 1.070 mm
  • Nguyên lí hoạt động: cơ chế trích khí
  • Cỡ đạn: 12.7x108 mm
  • Nguyên tắc nạp đạn: Dây đạn 50 viên
  • Tốc độ bắn: 600 viên/phút
  • Vận tốc đạn: 850 m/s
  • Tầm bắn hiệu quả: 1000 m
  • Tầm bắn tối đa: đến 2000 m.[10]

Các phiên bản[sửa | sửa mã nguồn]

  • DShK-38: phiên bản nguyên gốc
  • DShK 1938/46: phiên bản đã được hiện đại hóa với cơ cấu giảm giật hiện đại và ống dầu có thể tháo ra để thay thế được
  • Kiểu 54: phiên bản của Trung Quốc, vẫn còn được Pakistan sản xuất
  • MGD-12.7: Phiên bản của Iran.

Các quốc gia sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

DShK gắn trên xe tại Afghanistan
DShK gắn trên xe tại Romania
DShK gắn trên xe tại Iraq

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Degtyarov - Shpagin DShK / DShKM 12.7 heavy machine gun (USSR)
  2. ^ Chuyện của một "Kiện tướng bắn máy bay" (kỳ 2)
  3. ^ a ă Mills, Dan (2007). “16”. Sniper One. Penguin Group. tr. 192. ISBN 978-0-718-14994-9. “They were Dshkes, a Russian-made beast of a thing that fires half-inch calibre rounds and was designed to bring down helicopters.” 
  4. ^ Lịch sử Sư đoàn phòng không 367. NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2006. trang 4-31.
  5. ^ Nguyễn Minh Tâm (chủ biên). Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không. NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2008. trang 106.
  6. ^ Nguyễn Minh Tâm (chủ biên). Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không. NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2008. trang 136-137.
  7. ^ http://www.nguoiduatin.vn/nhung-tran-danh-oanh-liet-cua-vua-diet-may-bay-my-a66472.html
  8. ^ http://citinews.net/xa-hoi/tran-tro-cua-dung-sy-37-lan-ban-roi-may-bay-my-EDTFT7I/
  9. ^ http://www.baohoabinh.com.vn/246/78263/Dung_si_ban_may_bay_va_uoc_m111ng_tiep_lua_truyen_thong.htm
  10. ^ Nguyễn Hữu Thăng. Vũ khí xưa và nay. NXB Khoa học kỹ thuật. Hà Nội. 2002. trang 67.
  11. ^ a ă Miller, David The Illustrated Directory of 20th Century Guns. page 464, ISBN 0-7603-1560-4, url:[1]
  12. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư v x y aa ab ac ad ae ag ah ai ak al am an ao ap aq ar as at au av ax ay ăa ăă Jones, Richard D.; Ness, Leland S. biên tập (27 tháng 1 năm 2009). Jane's Infantry Weapons 2009/2010 (ấn bản 35). Coulsdon: Jane's Information Group. ISBN 9780710628695. 
  13. ^ Gander, Terry J.; Hogg, Ian V. Jane’s Infantry Weapons 1995/1996. Jane’s Information Group; 21 edition (May 1995). ISBN 978-0-7106-1241-0.
  14. ^ a ă â G3 Defence Magazine August 2010
  15. ^ a ă â Miller, David (2001). The Illustrated Directory of 20th Century Guns. London: Salamander Books Ltd. ISBN 9781840652451. 
  16. ^ uncovering the irish republican army pbs.org

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]