Đạn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Đạn là một loại vũ khí dùng để sát thương đối phương. Đạn dược bắn tới mục tiêu, dùng để phá hủy mục tiêu. Đạn có thể được bắn từ các cung, nỏ, súng, máy phóng. Đạn cũng có thể được ném đi từ tay xạ thủ.

Thời cổ đại, những đạn đầu tiên được bắn đi từ nỏ hoặc máy bắn đá. Hồi đó đã có những đạn như thùng dầu trộn chất oxy hóa cháy rất mạnh (dầu trộn diêm sinh). Hay những khối đá lớn công thành, cũng đã có những đạn trái phá sơ khai nhồi thuốc nổ yếu, khi nổ bắn văng mảnh sát thương và phá vỡ công trình bằng sóng nổ. Đến khi có súng thần công đã có những đạn cầu gang hay đã bắn thẳng hay bắn nhảy đập đất, đạn trái phá nhồi thuốc nổ có ngòi cháy chậm, đạn trái phá mẫu tử chứa nhiều trái phá con.

Ngày nay, trong tiếng Việt, từ đạn hay được dùng lẫn. Có khi, "đạn" để chỉ khối liền bao gồm "vỏ đạn", "đầu đạn", "thuốc phóng" và các thành phần khác, tương tự từ "cartridge" trong tiếng Anh, trong trường hợp này, người ta dùng "đầu đạn" để chỉ phần cần bắn đi. Có khi, "đạn" lại chỉ phần "đầu đạn" của trường hợp trên, ví dụ dùng trong các loại súng bắn liều rời như súng cối hay pháo, hoặc văn học như "trúng đạn". Thông dụng nhất là trường hợp đầu, lúc đó, đạn tương đương với cartridge tiếng Anh, gồm cả "vỏ đạn", "hạt nổ", "đầu đạn". "Vỏ đạn" tương ứng với từ "case". "Đầu đạn" súng nhỏ tương ứng với từ "bullet", "đầu đạn" súng lớn tương ứng với từ "projectile".

Đạn thần công cận đại[sửa | sửa mã nguồn]

Thời cận đại, súng thần công bắn đạn có động năng lớn dùng đập vỡ thành trì; đạn được làm bằng gang đặc đúc hình cầu, hoặc đá mài hình cầu, sau cuộc chiến, người ta đi nhặt đạn gang về dùng lại. Đạn cầu để khi quay lộn trong không khí giảm tản mát. Lúc đó, chưa nhồi được nhiều thuốc nổ bắn trái phá góc thấp đi xa vì hình như chưa có biện pháp chống trái phá nổ ngoài ý muốn. Các pháo howitzer bắn trái phá góc thấp nhồi ít thuốc bắn kiểu đập đất nảy lên để thêm văng xa. Lúc đó còn có đạn ria, đạn gồm bi chì, mảnh gang nhỏ, đặt trong một cái hộp hở miệng, nhồi hộp vào pháo như nhồi đạn cầu, bắn xong nếu còn giữ được trận địa thì đi nhặt hộp về.

Paixhans người Pháp đã chế ra pháo bắn đạn trái phá nhồi nhiều thuốc đẩy vào giữa thế kỷ 19. Đến nay thì howitzer là các pháo nhồi nhiều thuốc nổ, bắn đạn hạng nặng đi xa. Đạn không còn hình cầu nữa mà dài ra giảm sức cản. Đạn dài giữ được hướng, không quay lộn nhờ hai cơ chế: ổn định cánh đuôi và xoáy. Đạn ổn định xoáy được làm sao cho tâm khí động cách xa tâm khối lượng, quay quanh trục như con quay, tương tác với không khí, luôn đẩy tâm khối lượng đi sau tâm khí động. Đạn ổn định cánh đuôi như mũi tên, cánh đuôi làm hoi xoắy để đạn hơi xoáy trong không khí, bù các sai số chế tạo. Thiết kế đạn nếu để đường kính lớn và xoáy nhanh quá thì đạn sẽ...lộn đuôi dí trước.

Ngày nay, đạn có rất nhiều loại.

Đạn súng nhỏ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Đạn súng

Thời cổ dùng đầu đạn chì, đạn này mềm hạn chế mài nòng ngày đó vốn tồi. Đạn chì có tỷ khối lớn giảm lực cản. Nhưng đạn tản mát lớn, đầu thế kỷ 19, súng trường bắn trúng mục tiêu to bằng người thật với tỷ lệ chỉ vài phần trăm. Đầu thế kỷ 19 người ta chế ra súng nạp đạn sau thay cho súng nhồi miệng nòng, nhưng vẫn nhồi thuốc nổ rời đong từ đấu đong, rồi lèn bằng đạn rời.

Lúc đó cũng có đạn ria dùng nhiều đạn nhỏ, nhưng bắn không xa, ngày nay vẫn dùng cho súng săn.

Cũng trong thế kỷ 19, người ta chuyển dần súng trường sang nòng xoắn, bắn đầu đạn dài nhọn, liền vỏ. Mồi lửa thay bằng mồi đá lửa rồi mồi hạt nổ, ban đầu hạt nổ đặt cạnh khối thuốc. Sau dùng đạn "giữa", tức hạt nổ đặt giữa đáy vỏ đạn. Vỏ và đạn bằng đồng, vốn mềm và tỷ khối lớn. Sang thế kỷ 20, đồng chỉ còn dùng làm vỏ đầu đạn để tăng độ bền nòng. Cuối thế kỷ 20 thì nhiều vật liệu thay thế. Thường lõi đạn nhỏ làm bằng thép cứng. Cuối thế kỷ 20 cũng có một số đạn nhỏ dùng vật liệu mật độ cao.

Một số đầu đạn bắn tỉa tăng sát thương bằng cách tách làm hai khi vào trong cơ thể, một số đạn AK hiện đại làm lệch tâm để xoáy mạnh, phá tăng sát thương.

các đạn theo các tiêu chuẩn 7.62mm NATO (0,308 inch Winchester), 5.56mm NATO (0,223 Remington) và 9mm Parabellum.

Các nước và khối quân sự đưa ra các loại tiêu chuẩn đạn, để dễ trang bị, hậu cần. Các súng sẽ được thiết kế theo đạn tiêu chuẩn đó, tiêu chuẩn bao gồm hình dáng, kích thước, dày, nặng, thuốc và tốc độ cháy.... Ví dụ về các tiêu chuẩn như:

7.92x57mm Mauser Đức hồi thế chiến 2. Tiếng Anh

9x19mm Parabellum Ngày nay NATO dùng cho súng ngắn.

9x18mm Nga và Trung Quốc dùng cho súng ngắn.

7.62×51 NATO dùng cho súng trường hạng nặng.

Đạn súng lớn[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu thế kỷ 19, người ta sử dụng chủ yếu súng cối để bắn trái phá đi xa, howitzer bắn trái phá đi gần, còn các pháo mạnh bắn đạn đặc. Các súng lúc đó hầu như nòng trơn, đạn cầu. Đến đầu thế kỷ 20, người Đức mới hoàn thiện đại bác bắn đạn xuyên phá, nhồi nhiều thuốc đẩy và thuốc nổ trong trái phá, đạn không nổ trong nòng súng, không nổ khi đập vào giáp thép dịch, xuyên vào trong mới nổ. Bí quyết thuốc đẩy và thuốc nổ ổn định đó dựa vào hai chất TNTThuốc súng không khói. Chúng trộn thêm một số phụ gia sẽ rất rắn chắc, không võ viên tạo bột, thay đổi tốc dộ cháy ngoài ý muốn. Đạn dùng diệt bộ binh có thể lắp ngòi chạm nổ nhậy, để đạn không xuyên xuống đất rồi mới nổ. Ngòi này nhậy nhưng an toàn, không nổ trong nòng súng.

Đạn pháo phổ biến[sửa | sửa mã nguồn]

Đạn chống người (APERS)[sửa | sửa mã nguồn]

Đạn trái phá chống bộ binh anti-personnel APERS, còn gọi là HE-FRAG, đạn nổ mạnh bắn mảnh. Đạn chứa một lượng lớn thuốc nổ và vỏ vỡ thành nhiều mảnh, phá công sự tường gạch đất và vang mảnh sát thương. Thông thường đạn có ngòi chạm nổ ở đầu, có thể đặt vài chế độ, nổ tức thì, nổ khi xuyên vào tường một đoạn (dưới 1 mét) hay nổ bằng ngòi cháy chậm đảm bảo xuyên hết tường. Đạn 125mm bắn tù xe tăng Nga còn một ngòi nổ điện tử, khi đi qua hệ thống nạp đạn điện tử, hệ thống này lập trình cho ngòi, đảm bảo đạn phát nổ ở tầm cần thiết, rất lợi khi bắn máy bay. Các đạn bắn từ súng yếu có thể chứa bi, còn đạn bắn từ súng manh thường có vỏ hợp kim giòn. Như đạn 3Sh-7 125mm Nga nặng 23 kg chưa hơn 3 kg thuốc nổ RDX hốn hợp với bột nhôm, khi nổ tạo ra 4700-4800 mảnh 1,26g tốc độ 1 km/s.

Đạn nổ mạnh (HE)[sửa | sửa mã nguồn]

Đạn nổ mạnh, làm bằng thép tốt có ngòi nổ chậm. Đạn phải thiết kế sao cho không vỡ và không kích nổ khi gặp tường, giáp. Sau khi xuyên qua tường giáp mới nổ. Chỉ khác APERS ở đặc điểm nhiều thuốc nổ hơn. Còn gọi là đạn trái phá. Đạn trái phá có khối lượng lớn, nên súng bắn đạn này hay được dùng để bắn các loại đạn riêng như tạo khói, truyền đơn, hóa học, súng học, phóng xạ. Đạn nặng đường đạn cong.

Đạn lõm chống tăng (HEAT)[sửa | sửa mã nguồn]

Đạn nổ lõm xuyên phá. HEAT. Nhưng ngày nay, để chống tăng hiện đại, đạn này có nhiều tầng liều lõm thuốc nổ mạnh. Đạn có ngòi hết sức nhậy, mũ bảo vệ vững chắc để điểm hỏa ở tầm chính xác. 3BK-31 125mm Nga xuyên được hàng mét thép cán là một ví dụ.

HEAT có hai kiểu. Một kiểu ống và một kiểu dùng tấm tích năng lượng. Kiểu dùng tấm tích năng lượng có góc mở rộng, sức xuyên nhanh chóng phân tán, nhưng thuận tiện khi sử dụng, nhẹ, hay dùng cho các đầu đạn có động năng thấp. Đạn đại bác thường dùng liều nổ lõm kiểu ống nhiều tầng, sức xuyên rất mạnh.

Đạn nổ nén (HEP hay HESH)[sửa | sửa mã nguồn]

Đạn nổ nén. Đạn khi bắn vào mục tiêu phần chất dẻo ở phía trên đầu đạn khi gặp vật cứng như thép không xuyên qua mà chỉ ép vào thành thép đồng thời mở rộng ra để tạo hiệu ứng hopkinson. Chỉ dùng phá giáp mỏng.

Đạn xuyên thép[sửa | sửa mã nguồn]

Hình vẽ cắt bổ một quả đạn APC. 1 kim loại mềm nhẹ. 2 hợp kim thép cứng khoan mục tiêu. 3 liều nổ phá. 4 ngòi. 5 đai đạn (để miết vào rãnh xoắn).

Đạn xuyên thép bằng cỡ (AP)[sửa | sửa mã nguồn]

Đạn xuyên thép bằng cỡ loại này không có thuốc nổ, chỉ có liều vạch đường ở phía sau. đạn có thể có chóp gió hay không có chóp gió. Sức xuyên phá loại đạn này hoàn toàn do động năng và tính chất của thân đạn (còn gọi là lõi xuyên).

Đạn xuyên thép bằng cỡ có mũ đệm (APC)[sửa | sửa mã nguồn]

Đạn xuyên thép bằng cỡ có mũ đệm. Đạn là khối thép cứng đi sau, trước là một khối kim loại mềm tạo thành mũ đệm để bám giáp nghiêng. Trong khối thép cứng có một liều nổ phá. Đạn được dùng rộng rãi cho các loại đại bác trong Thế chiến 2. Đạn được người Đức phát kiến, sử dụng trong Hải quân đầu thế kỷ 20.

Đạn xuyên thép bằng cỡ có chóp gió, mũ đệm (APCBC)[sửa | sửa mã nguồn]

Loại đạn này có kết cấu tương tự loại APC nhưng có thêm chóp gió mũi nhọn ở phía đầu để tạo hình dạng khí động cho đạn, làm lực cản không khí lên đạn giảm do đó tăng tốc độ của đạn.

Đạn xuyên thép dưới cỡ (APCR)[sửa | sửa mã nguồn]

Xuất hiện năm 1941 trong quân Đức. Đạn gồm một lõi cứng mật độ cao đặt trong một vỏ mềm nhẹ. Lõi cứng làm bằng vonphram. Loại đạn này không có thuốc nổ, phần lõi cứng xuyên qua mục tiêu. sau khi xuyên qua mục tiêu do tính chất đặc biệt của vật liệu làm lõi này gây ra vụ nổ ở trong xe tăng hay xe bọc thép.

APCNR[sửa | sửa mã nguồn]

Đạn có lõi mật độ cao không cứng. Ví dụ như đạn bắn từ súng có nòng hình côn, tóp lại ở mũi. Đạn đến mũi súng vị bóp bé lại, giảm đường kính, giảm sức cản. Chỉ được dùng ít ỏi hồi thế chiến 2.

Đạn xuyên thép thoát vỏ (APDS)[sửa | sửa mã nguồn]

Đạn xuyên thép thoát vỏ ổn định bằng cánh của Pháp

Đạn xuyên thép thoát vỏ dưới cỡ. Đạn này có phần lõi thép ở trong một quả đạn để bắn trong nòng lớn hơn lõi thép. Việc sử dụng vỏ thoát nhằm làm tăng tốc độ cho lõi xuyên so với tốc độ của đạn xuyên thép bằng cỡ không thoát vỏ. Lõi giảm cỡ đỡ thanh xuyên (KE).

Đạn xuyên thép thoát vỏ ổn định bằng cánh (APFSDS)[sửa | sửa mã nguồn]

Đạn xuyên thép thoát vỏ ổn định bằng cánh (APFSDS) trên đường bay tại thời điểm các vỏ bọc đang tách ra khỏi lõi thép.

Đạn xuyên giáp có lõi xuyên dưới cỡ, ổn định bằng cánh đuôi. Đạn cũng có thể bắn từ pháo nòng xoắn, nhưng lắp trong cối quay chống xoáy trong nòng.

Lõi xuyên (KE)[sửa | sửa mã nguồn]

Các đạn APDS và APFSDS có một bộ phận là KE. Thực chất đây mới chính là phần chiến đấu của đầu đạn. KE là mũi tên đục giáp đối phương. KE có thể làm từ vật liệu cứng nặng, như vật liệu gốc volphram, uran. KE thường không mang theo liều nổ phá, chỉ mang theo liều dẫn đường. Đạn có KE dưới cỡ nòng thường nhẹ hơn các đạn nổ khác, sơ tốc cao, đường đạn tốt. Nhờ khả năng bay nhanh đến mục tiêu nên chống mục tiêu di động tốt.

Một loại đạn APFSDS của Liên Xô cỡ đạn 125 mm và lõi xuyên dưới cỡ của nó

Đạn súng cối[sửa | sửa mã nguồn]

Đạn súng cối phổ biến nòng trơn ổn định cánh đuôi. Đạn súng cối đơn giản, rất rẻ. Liều phóng của đạn chứa ngay trong cán đuôi định hướng, bọc bởi ống giấy hay vậy liệu mềm. Khi bắn có thể bổ sung thêm liều phóng bằng cách quấn thuốc phóng đựng trong ống mềm quanh cán đuôi. Một số đạn súng cối bắn trên pháo cối nòng xoắn, ổn định bằng phương pháp quay. Loại đạn này không có hình giọt nước, không có cánh đôi, bề ngoài trông như đạn pháo thông thường nhưng phần đuôi có kết cấu đặc biệt để có thể bắn trên pháo nòng xoắn.

Gần đây[sửa | sửa mã nguồn]

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Theo cỡ đạn và phương pháp bắn[sửa | sửa mã nguồn]

Một viên đạn súng cỡ 0.303

Theo công dụng[sửa | sửa mã nguồn]

a, Đạn công dụng chung

b, Đạn công dụng đặc biệt

Theo chất nổ nhồi trong bom[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]