Nỏ
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
| Bài hoặc đoạn này cần được wiki hóa theo các quy cách định dạng và văn phong Wikipedia. Xin hãy giúp phát triển bài này bằng cách liên kết trong đến các mục từ thích hợp khác. |
Loại đơn giản là một cánh cung nằm ngang trên một cái báng có rãnh. Cái báng có thể làm bằng gỗ hay kim loại. Có một cơ chế máy móc đơn giản để khi nạp mũi nỏ (bolt) vào thì nó sẽ đứng yên tại vị trí ấy mà không cần giữ tay. Nỏ sẽ chỉ được bắn ra chừng nào bóp cò; cò thường ở gần tay cầm, dưới báng. Cơ cấu cò (lẫy nỏ) chính là tiền thân của cò các loại súng sau này.
Nỏ phát triển nhất vào thời Trung Cổ. Cùng với cung, nỏ được sử dụng rộng rãi trong săn bắn và cả chiến trận. Trong cuộc chiến tranh 100 năm giữa Anh và Pháp, những trận đánh nổi tiếng như Crécy, Poitiers, Agincourt đều được quyết định bởi các xạ thủ[cần dẫn nguồn]. Nỏ có sức đâm xuyên lớn và chính xác nhưng lắp tên chậm, khó bảo quản và chế tạo cũng tốn kém hơn. Một số loại nỏ lớn có tầm bắn xa đến 200 m (tầm bắn tối đa của cung chỉ là 90 m). Trong khi cung thường bắn cầu vồng thì nỏ lại hay được bắn thẳng. Mũi tên của nỏ thường bịt sắt và không có ngạnh.
[sửa] Bắn nỏ
- Đặt nỏ vào vị trí kéo căng bằng cách móc dây tời vào dây nỏ rồi quay tời cho đến vị trí hãm và nhả dây tời ra.
- Đặt mũi tên vào rãnh dọc trên thân nỏ rồi ngắm bắn bằng cách áp má vào đuôi của thân nỏ.
- Ấn vào đuôi của lẫy nỏ để phóng tên đi.
Vai trò của cung và nỏ chỉ thực sự chấm dứt khi cơ cấu điểm hoả của súng kíp được phát minh năm 1620 ở Pháp. Tuy vậy ở Châu Á nó vẫn được sử dụng cho đến tận thế kỷ 19. Trong cuộc Chiến tranh Đông Dương, nhiều lính Pháp đã bị hạ bởi nỏ của những người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên.
Không phải tất cả các loại nỏ đều bắn tên. Từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19, Châu Âu đã từng xuất hiện dạng nỏ bắn đá (đạn bi) dùng để luyện tập thể thao và săn những con thú nhỏ.
| Bài này còn sơ khai. Mời bạn góp sức viết thêm để bài được hoàn thiện hơn. Xem phần trợ giúp về cách sửa bài. |