Quân đội Nhân dân Việt Nam
|
|
Bài viết hoặc đoạn này cần thêm chú thích nguồn gốc để có thể kiểm chứng thông tin. Những nội dung không có nguồn có thể bị đặt vấn đề và xóa bỏ. Mời bạn bổ sung chú thích từ các nguồn đáng tin cậy để giúp cải thiện bài viết. |
| Quân đội Nhân dân Việt Nam | |
|---|---|
Quân kỳ Quân đội Nhân dân Việt Nam |
|
| Hoạt động | 1944-nay |
| Quốc gia | Việt Nam |
| Quân chủng | |
| Khẩu hiệu | Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.[1][2][3][4] |
| Lễ kỷ niệm | Ngày thành lập quân đội Nhân Dân Việt Nam: 22 tháng 12, 1944. Ngày chiến thắng Điện Biên Phủ: 7 tháng 5, năm 1954. Ngày giải phóng Miền Nam, thống nhất Đất nước: 30 tháng 4, 1975 |
| Tham chiến | Lịch sử Việt Nam
|
| Các tư lệnh | |
| Chỉ huy hiện thời |
|
| Chỉ huy nổi tiếng |
Võ Nguyên Giáp Hoàng Văn Thái Trần Văn Trà Nguyễn Chí Thanh Văn Tiến Dũng Chu Văn Tấn Vương Thừa Vũ Lê Đức Anh Nguyễn Thị Định Chu Huy Mân Lê Trọng Tấn Nguyễn Bình |
Quân đội Nhân dân Việt Nam, tiền thân là đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, là lực lượng quân đội chính quy của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, sau này là của chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Ngày truyền thống là ngày 22 tháng 12 hàng năm. Quân kỳ của Quân đội Nhân dân Việt Nam là lá quốc kỳ của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam có thêm dòng chữ "Quyết thắng" màu vàng ở phía trên bên trái.
Danh xưng [sửa]
Tên gọi "Quân đội Nhân dân" là do Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt với ý nghĩa "từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân dân phục vụ". Một tên khác được nhân dân yêu mến đặt cho là "bộ đội cụ Hồ". Trong báo chí Việt Nam thì Quân đội Nhân dân Việt Nam thường được viết tắt là QĐND. Chữ "Nhân dân" cũng có mặt trong nhiều tên gọi các tổ chức của Việt Nam như Công an Nhân dân, Tòa án nhân dân (Việt Nam), Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao (Việt Nam)...
Quá trình phát triển [sửa]
Trước Cách mạng tháng Tám [sửa]
Tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam là đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, được thành lập ngày 22 tháng 12 năm 1944 tại khu rừng Trần Hưng Đạo, thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, ban đầu gồm 34 chiến sỹ trong đó có 3 nữ với 34 khẩu súng các loại do Võ Nguyên Giáp chỉ huy chung; Hoàng Sâm được chọn làm đội trưởng; Xích Thắng, tức Dương Mạc Thạch, làm chính trị viên, Hoàng Văn Thái phụ trách tình báo và kế hoạch tác chiến; Lâm Cẩm Như, tức Lâm Kính, phụ trách công tác chính trị; Lộc Văn Lùng tức Văn Tiên làm quản lý.
Ngày 15 tháng 4 năm 1945, Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc Kỳ họp tại Hiệp Hòa, Bắc Giang quyết định Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân sát nhập với lực lượng Cứu quốc quân do Chu Văn Tấn chỉ huy, đổi tên thành Giải phóng quân, lực lượng quân sự chính của Việt Minh để giành chính quyền năm 1945. Lễ hợp nhất được tổ chức ngày 15 tháng 5 năm 1945 tại rừng Thàn Mát, xã Định Biên, huyện Định Hóa (Thái Nguyên).
Trận đánh đầu tiên của đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân là trận Phai Khắt, Nà Ngần ngày 25 và 26 tháng 12 năm 1944. Ngày 16 tháng 8 năm 1945, khi tiến đánh Thái Nguyên, quân số Giải phóng quân đã khoảng 450 người, biên chế thành một chi đội (tiểu đoàn), do Lâm Cẩm Như làm chi đội trưởng. Sau 7 ngày quân Nhật ở Thái Nguyên mới chịu chấp nhận giao nộp vũ khí cho Giải phóng quân.
Chiến tranh Đông Dương [sửa]
Từ năm 1945, Giải phóng quân của Việt Minh là lực lượng nòng cốt quân đội quốc gia của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Để đối phó với sức ép của quân Tưởng Giới Thạch đòi giải tán quân đội chính quy Việt Minh, tháng 11 năm 1945 Việt Nam giải phóng quân đổi tên thành Vệ quốc đoàn, còn gọi là Vệ quốc quân. Lúc này quân số khoảng 50.000 người, tổ chức thành khoảng 40 chi đội ở hầu hết các tỉnh Bắc Bộ và Trung Bộ. Một số chi đội đã "Nam tiến" để giúp quân dân miền Nam chống lại quân Pháp đang tấn công trở lại ở Nam Bộ.
Ngày 22 tháng 5 năm 1946, theo Sắc lệnh 71/SL của Chủ tịch nước, Vệ quốc đoàn đổi tên thành Quân đội Quốc gia Việt Nam[5], được đặt dưới sự chỉ huy tập trung thống nhất của Bộ Tổng tham mưu. Quân đội tổ chức biên chế thống nhất theo trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội... Cùng với việc xây dựng quân đội quốc gia, chính phủ đặc biệt coi trọng việc xây dựng lực lượng vũ trang quần chúng, lực lượng bán vũ trang, bao gồm: dân quân ở nông thôn và tự vệ ở đô thị. Đến cuối năm 1946, có khoảng 1 triệu dân quân tự vệ đã được tổ chức và huấn luyện quân sự.[6] Trong thời kỳ 1945-1950, có những người nước ngoài đã tình nguyện tham gia chiến đấu và các ngành khác như chỉ huy, tham mưu, kỹ thuật, huấn luyện, quân y, quân giới, tuyên truyền... Nhiều người được giao trọng trách và phong quân hàm sĩ quan cao cấp. Họ đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng quân đội Việt Nam trong thời kì non trẻ. (Xem bài Chiến sĩ "Việt Nam mới").
Năm 1949, hoàn thiện tổ chức tiểu đoàn bộ binh. Đơn vị này gồm 3 đại đội bộ binh, một đại đội hỏa lực mạnh. Có súng máy hạng nặng và súng cối.
Năm 1950, Quân đội Quốc gia Việt Nam đổi tên thành Quân đội Nhân dân Việt Nam. Cần lưu ý là cùng thời gian này, một lực lượng bản xứ đã được Pháp thành lập trong chiến lược Da vàng hóa chiến tranh, cũng mang tên Quân đội Quốc gia Việt Nam nhưng tham chiến cùng Pháp để chống lại Quân đội Nhân dân Việt Nam, và đây chính là tiền thân của Quân lực Việt Nam Cộng hòa sau này. Do vậy cần phân biệt rõ để tránh nhầm lẫn trong các giai đoạn sau.
Đầu năm 1950, bộ đội chủ lực đã có những trung đoàn hoàn chỉnh, cũng đã thành thạo việc đánh công kiên. Biên chế các trung đoàn này đến nay vẫn còn như vậy, rất đặc trưng Việt Nam.[7]. Cũng thời gian này, để chuẩn bị thời phản công, các sư đoàn quan trọng được thành lập, đến nay vẫn là khối cơ động chủ lực của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam. Nhóm các đơn vị thuộc khối quân cơ động trung ương (thành lập 1950-1951) gồm các đại đoàn 304, 308, 312, 316, 320, 351. Sau này có thêm các đơn vị pháo binh, phòng không, pháo phản lực trong sư đoàn 351 như trung đoàn 237 (Cối lớn, trung đoàn 367 (phòng không 37mm). Sư 351 còn dược gọi là bộ binh nặng, công pháo (công binh, pháo binh).
Năm 1954, với thắng lợi của trận Điện Biên Phủ, đây là đội quân đầu tiên của một đất nước thuộc địa đánh bại một quân đội thực dân cũ trong lịch sử thế giới của thế kỷ 20. Sau năm 1954, bộ phận Quân đội Nhân dân Việt Nam tại miền Nam (khoảng 140 ngàn người) tập kết về miền bắc Việt Nam, và được chính quy hóa. Cuối chiến tranh, Quân đội Nhân dân Việt Nam có khoảng 24 vạn quân chủ lực và gần 1 triệu du kích.
Thiếu tá Bi-gia, đã có kinh nghiệm chiến trường chín năm liền ở Đông Dương, tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ từ lúc xây dựng cứ điểm đến khi đầu hàng, đã bày tỏ sự kính trọng của mình đối với Quân đội Nhân dân Việt Nam:
- “Tôi đã thấy họ khởi sự từ những khẩu súng bất kỳ như súng săn và sau đó, tháng này qua tháng khác, họ được tổ chức thành những nhóm nhỏ, rồi từ các nhóm nhỏ thành trung đội, từ các trung đội lên đại đội, từ đại đội lên tiểu đoàn và lữ đoàn và cuối cùng là thành các sư đoàn đủ quân. Tôi đã thấy tất cả những điều này và tôi có thể nói với các vị rằng họ đã trở thành những người lính bộ binh vĩ đại nhất trên thế giới. Những người lính dẻo dai này có thể đi bộ 50 km trong đêm tối bằng sức của một bát cơm, trên những đôi giày ba-ta và hát vang trên đường ra trận. Theo quan điểm của tôi, họ đã trở thành những người lính bộ binh ngoại hạng và họ đã đánh bại được chúng ta”.[8]
Chiến tranh Việt Nam [sửa]
Sau 1954, Hoa Kỳ bắt đầu nhảy vào Đông Dương thế chân Pháp. Kế thừa chính sách Da vàng hóa chiến tranh của Pháp, Hoa Kỳ lập nên chế độ Việt Nam Cộng hòa để ngăn chặn việc thi hành hiệp định Geneve, nhằm chia cắt lâu dài Việt Nam. Với mục tiêu đánh đổ sự thống trị thực dân mới của Mỹ, ngày 15 tháng 2 năm 1961, tại Chiến khu Đ, Quân Giải phóng miền Nam, gọi tắt là Giải phóng quân, được thành lập trên cơ sở thống nhất các lực lượng vũ trang chống Mỹ ở miền Nam Việt Nam.
Người Mỹ thường phân biệt Quân Giải phóng miền Nam với Quân đội Nhân dân Việt Nam (mà Mỹ gọi là "Quân đội Bắc Việt Nam"). Cách gọi này xuất phát từ động cơ tuyên truyền, lợi dụng tên gọi vùng miền để gây chia rẽ nhân tâm người dân Việt Nam, nhằm gây lầm tưởng rằng nhân dân hai miền Việt Nam có sự chia rẽ và đối địch nhau, qua đó biện hộ cho lý do tham chiến của Mỹ là để "bảo vệ Nam Việt Nam" (tương tự như cách gọi Bắc kì - Nam Kì của Pháp trước kia). Nhưng thực tế, cũng như cuộc chiến chống Pháp trước đó, cuộc chiến chống Mỹ của người Việt Nam ngay từ ban đầu đã mang tính chất toàn quốc, với sự tham chiến của cả hai miền. Người miền Nam đã trực tiếp đánh Mỹ ở tuyến đầu, còn miền Bắc chi viện và bổ sung. Trong suốt chiến tranh, nhân dân cả hai miền Việt Nam luôn đoàn kết, ủng hộ và là hậu phương to lớn tiếp sức cho Quân đội Nhân dân Việt Nam chống lại Hoa Kỳ. Chính người dân miền Nam đã đóng góp hàng triệu chiến sĩ cho Quân đội Nhân dân Việt Nam, cũng như chịu những hy sinh lớn nhất với gần 2/3 số Bà mẹ Việt Nam anh hùng là người miền Nam[9], huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam (cũng thuộc miền Nam) là huyện có nhiều liệt sĩ nhất nước.[10]
Về tổ chức, Quân Giải phóng miền Nam cũng là một bộ phận của Quân đội Nhân dân Việt Nam, có lực lượng xuất thân từ mọi miền Việt Nam, không có gì phân biệt về vùng miền, tổ chức, chỉ huy. Đây thực chất là lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam đóng ở miền Nam Việt Nam, kết hợp cả bộ phận tăng viện từ miền Bắc cũng như chiêu mộ những người chống Mỹ tại miền Nam, tạo thành lực lượng quân sự của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Lãnh đạo, chỉ huy, cán bộ, chiến sĩ có đầy đủ cả người Nam và người Bắc. Quân đội Nhân dân Việt Nam khẳng định họ là lực lượng đại diện cho toàn dân tộc Việt Nam chứ không chỉ riêng vùng miền nào.
Với mục tiêu "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào"[11], Quân đội Nhân dân Việt Nam đã liên tiếp đánh bại 3 chiến lược chiến tranh của Mỹ, bất chấp việc Mỹ vào lúc cao điểm đã huy động hơn một nửa lực lượng quân đội cho chiến trường Việt Nam. Sau nhiều năm sa lầy và chịu những tổn thất lớn về người và của, Mỹ buộc phải rút quân viễn chinh khỏi Việt Nam qua hiệp định Paris năm 1973. Mất đi sự tham chiến của quân đội Mỹ và viện trợ quân sự dồi dào, chỉ 2 năm sau, hơn 1,2 triệu quân Việt Nam Cộng hòa cũng bị Quân đội Nhân dân Việt Nam đánh tan chỉ sau 55 ngày đêm của chiến dịch Mùa Xuân 1975. Đây là lần đầu tiên và cũng là duy nhất cho tới nay, quân đội Mỹ phải chấp nhận thất bại trong một cuộc chiến tranh.
Do phải chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn hỏa lực mạnh, Quân đội Nhân dân Việt Nam tập trung phát triển các chiến thuật bộ binh phù hợp với số vũ khí hạn chế có trong tay và đúc kết kinh nghiệm thu được trong quá trình chiến đấu. Kết quả là Quân đội Nhân dân Việt Nam đã có lực lượng bộ binh hạng nhẹ được coi là một trong những lực lượng thiện chiến hàng đầu trên thế giới. Trong một cuộc khảo sát sau cuộc chiến với các sỹ quan Hoa Kỳ từng phục vụ trong chiến tranh Việt Nam, 44% đánh giá Quân đội Nhân dân Việt Nam là "thiện chiến và gan góc". Một sỹ quan nhận xét "Có một khuynh hướng đánh giá thấp đối thủ. Trong thực tế, họ là địch thủ giỏi nhất mà chúng ta từng phải đối mặt trong lịch sử"[12].
Nhờ sự kiên trì xây dựng từng bước lực lượng cũng như viện trợ của khối xã hội chủ nghĩa, năm 1975, Quân đội Nhân dân Việt Nam là đạo quân đông thứ 4 trên Thế giới, với 1,26 triệu quân chủ lực và địa phương cung với hơn hàng triệu dân quân, du kích, tự vệ, so sánh với dân số VN lúc đó đứng hàng 15 trên thế giới. Quân đội cũng được tổ chức và xây dựng thành những quân đoàn chủ lực cơ động mạnh. Năm 1975, Quân đội Nhân dân Việt Nam có 4 quân đoàn chủ lực mang số thứ tự 1,2,3,4
Sau năm 1975 [sửa]
Năm 1975, đất nước Việt Nam thống nhất. Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam hợp nhất thành Quân đội Nhân dân Việt Nam. Do yêu cầu tình hình chính trị - quân sự trên bán đảo Đông Dương, lực lượng vũ trang Việt Nam lúc cao điểm được phát triển lên đến 1,6 - 2 triệu quân thường trực, xếp hạng thứ 3 hoặc thứ 4 thế giới. Quân đội được tổ chức thành nhiều quân đoàn chủ lực,8 quân khu và 2 bộ tư lệnh quân tình nguyện tại Lào và Campuchia. Theo C. Thayer, viện trợ quân sự của Liên Xô cho Việt Nam trong giai đoạn từ 1974 - 1989 lên đến chừng 14,5 tỷ đô la [13].
Sau năm 1990, với việc Việt Nam hoàn tất rút quân khỏi Campuchia và bắt đầu bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, Việt Nam thực hiện việc cắt giảm quân đội. Theo CIA, hiện nay quân đội Việt Nam có hơn 400.000 quân bộ binh, hơn 50.000 lính hải quân và hơn 30.000 lính không quân, chưa kể sự yểm trợ của 60.000 bộ đội biên phòng, 260.000 công an, cảnh sát, 5 triệu quân dự bị động viên và hàng triệu dân quân tự vệ được xây dựng rộng rãi trên khắp đất nước.
Các trận đánh lớn [sửa]
Quân đội Nhân Dân Việt Nam đã chiến đấu liên miên từ 1940 đến 1989 với 4 trong số các cường quốc trên thế giới:
- Chiến tranh thế giới thứ hai (Chống lại Đế quốc Nhật Bản)
- Chiến tranh Đông Dương (Chống lại Cộng hòa Pháp và các đồng minh bản xứ)
- Chiến tranh Việt Nam (Chống lại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và các đồng minh bản xứ)
- Chiến tranh biên giới Việt Nam-Campuchia (Chống lại Kampuchea Dân Chủ - Khmer Đỏ)
- Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979 (Chống lại Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa)
- Xung đột biên giới Việt Nam-Trung Quốc 1979-1990 (Chống lại Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa)
- Xung đột Thái Lan-Việt Nam 1982-1988 (Chống lại Vương Quốc Thái Lan và Khmer Đỏ)
- Chiến tranh biên giới Lào-Thái Lan (Chống lại Vương Quốc Thái Lan xâm lược Lào bảo vệ đồng minh Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào)
- Xung đột năm 1997 tại Campuchia (Chống lại Khmer Đỏ và bảo vệ đồng minh Vương Quốc Campuchia)
- Xung đột tại Lào, xung đột tại Lào từ năm 1975 (Chống lại người Hmong nổi dậy và bảo vệ đồng minh Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào)
Các trận chiến quan trọng [sửa]
- Xô Viết Nghệ Tĩnh
- Cách mạng tháng Tám
- Trận Hà Nội 1946
- Chiến dịch Việt Bắc 1947
- Chiến dịch Cao - Bắc - Lạng 1949
- Chiến dịch Biên giới 1950
- Chiến dịch Hoàng Hoa Thám (Chiến dịch đường 18) 1951
- Chiến dịch Hòa Bình 1952
- Chiến dịch Tây Bắc 1952
- Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 (chấm dứt Chiến tranh Đông Dương)
- Ấp Bắc 1963
- Chiến dịch Bình Giã cuối 1964 đầu 1965
- Chiến dịch đánh bại cuộc hành quân Junction City 1967
- Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968
- Chiến dịch đường 9 - Khe Sanh 1968
- Chiến dịch đường 9 - Nam Lào 1971
- Chiến dịch Xuân hè 1972
- Trận cầu Hàm Rồng
- Chiến dịch phòng không Hà Nội - Hải Phòng (trận Điện Biên Phủ trên không) 1972
- Chiến dịch Tây Nguyên 1975
- Chiến dịch Hồ Chí Minh 1975 (chấm dứt Chiến tranh Việt Nam)
- Tây Nam 1978-1979 (Chiến tranh Việt-Campuchia)
- Chiến tranh biên giới Việt - Trung, 1979
- Xung đột biên giới Việt Nam-Trung Quốc 1979-1990
- Đột kích biên giới Thái Lan
- Hải chiến Trường Sa 1988
- Giao tranh biên giới Lào-Thái Lan
Các tướng lĩnh tiêu biểu [sửa]
- Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam
- Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đầu tiên
- Đại tướng Hoàng Văn Thái, Tổng tham mưu trưởng đầu tiên của quân đội nhân dân Việt Nam, tư lệnh quân giải phóng Miền Nam (1967-1973),Chủ nhiệm Ủy ban Thể dục Thể thao đầu tiên, Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng, Chủ nhiệm Tổng cục Quân huấn, Trưởng ban tổng kết chiến lược Quân ủy, Chỉ đạo ngành kỹ thuật quân sự, Hiệu trưởng Trường Quân chính kháng Nhật.
- Đại tướng Lê Trọng Tấn
- Đại tướng Chu Huy Mân, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, làm đến phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước.
- Đại tướng Văn Tiến Dũng
- Đại tướng Lê Đức Anh, nguyên Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam
- Đại tướng Phạm Văn Trà, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (1997-2006)
- Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đương nhiệm (từ 2006)
- Thượng tướng Chu Văn Tấn, chỉ huy Cứu quốc quân
- Thượng tướng Trần Văn Trà, tư lệnh Quân giải phóng miền Nam
- Thượng tướng Trần Văn Quang
- Thượng tướng Bùi Phùng
- Thượng tướng Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam
- Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên
- Thượng tướng Hoàng Cầm
- Thượng tướng Nguyễn Hữu An
- Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên
- Thượng tướng Nguyễn Chơn
- Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh
- Trung tướng Nguyễn Bình, Tư lệnh Nam Bộ - Trung tướng đầu tiên
- Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên
- Trung tướng Lê Quang Đạo
- Trung tướng Lê Hiến Mai
- Trung tướng Trần Độ
- Trung tướng Vương Thừa Vũ
- Thiếu tướng Dương Văn Dương, Tư lệnh Liên khu Bình Xuyên
- Thiếu tướng Hoàng Sâm, đội trưởng đầu tiên của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân
- Thiếu tướng Lê Thiết Hùng, vị tướng quân đầu tiên
- Thiếu tướng Nguyễn Sơn, Lưỡng quốc tướng quân
- Thiếu tướng Nguyễn Thị Định, nữ tướng đầu tiên, phó tư lệnh Quân giải phóng miền Nam
- Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa, cha đẻ của ngành quân giới
- Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện, vị tướng Chính ủy
- Thiếu tướng Trần Văn Trân
- Thiếu tướng Hoàng Đan
Xem thêm: Danh sách các tướng lĩnh Quân đội Nhân dân Việt Nam
Tổ chức [sửa]
Theo Luật Quốc phòng năm 2005 (luật số 39/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005), Quân đội nhân dân là một bộ phận và là lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân, bao gồm Lực lượng Thường trực và Lực lượng Dự bị Động viên. Lực lượng Thường trực của Quân đội nhân dân có Bộ đội Chủ lực, Bộ đội Địa phương và Bộ đội Biên phòng.
Cấp tổ chức của Quân đội Nhân dân Việt Nam từ thấp đến cao là Tiểu đội, Trung đội, Đại đội, Tiểu đoàn, Trung đoàn, Lữ đoàn, Sư đoàn (trước đây gọi là Đại đoàn). Cấp cao nhất là Quân đoàn , hiện nay có 4 quân đoàn là các quân đoàn 1, 2, 3, 4. Đây chính là quân chủ lực cơ động.
Từ cấp tiểu đoàn trở lên có ban chỉ huy gồm cấp trưởng, cấp phó, tham mưu trưởng và cấp phó phụ trách công tác chính trị, theo chế độ một thủ trưởng. Trước đây, khi thực hiện chế độ "2 thủ trưởng", thì ngoài thủ trưởng quân sự (đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng...), từ cấp đại đội trở lên còn có thủ trưởng chính trị, được gọi là chính trị viên (ở cấp đại đội và tiểu đoàn) hoặc chính ủy (ở cấp trung đoàn trở lên). Cấp thủ trưởng chính trị này từ sau Chiến tranh Việt Nam đã chuyển thành cấp phó phụ trách công tác chính trị. Theo nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ X, chế độ chính ủy - chính trị viên lại được khôi phục trong toàn quân từ năm 2006.
Tổ chức quân đội chia ra hai loại: Quân cơ động và Quân đồn trú. Quân cơ động là lực lượng chủ lực tiến công cơ động, không gắn cố định với địa dư đóng quân. Quân đồn trú để bảo vệ địa phương mình đồn trú và xây dựng quân sự địa phương.
|
||||||||
- Quân cơ động
- Quân đoàn 1, còn gọi là Binh đoàn Quyết Thắng với các sư đoàn bộ binh cơ giới 308, sư đoàn 312, sư đoàn 390 dự bị, được thành lập ngày 24 tháng 10 năm 1973 tại Ninh Bình.
- Quân đoàn 2, còn gọi là Binh đoàn Hương Giang với các sư đoàn 304,325 và sư đoàn 306 dự bị, được thành lập ngày 17 tháng 5 năm 1974 tại Thừa Thiên-Huế.
- Quân đoàn 3, còn gọi là Binh đoàn Tây Nguyên với các sư đoàn 10,320 và sư đoàn dự bị 31, được thành lập ngày 26 tháng 3 năm 1975 tại Tây Nguyên.
- Quân đoàn 4, còn gọi là Binh đoàn Cửu Long có các sư đoàn 7, 9, 309, được thành lập ngày 20 tháng 7 năm 1974 tại miền Đông Nam Bộ.
Các quân đoàn đã giải thể:
- Quân đoàn 5 (Binh đoàn Chi Lăng) thuộc quân khu 1
- Quân đoàn 6 thuộc quân khu 2
- Quân đoàn 7 / Quân đoàn 65(Binh đoàn Lý Thường Kiệt)thuộc Bộ quốc phòng
- Quân đoàn 8 (Binh đoàn Pắc Bó) thuộc quân khu 1
- Quân đoàn 68 thuộc quân khu 3
- Quân đoàn 34 thuộc quân khu Thủ đô
Quân đồn trú: Về mặt địa lý, đơn vị quân sự cao nhất là Quân khu, chỉ huy quân địa phương và một số binh đoàn, binh đội trực thuộc. Chức năng cơ bản của Quân khu là tác chiến bảo vệ lãnh thổ được phân cho mình, xây dựng nền quốc phòng toàn dân ở địa phương tại quân khu. Toàn quốc Việt Nam hiện nay chia thành 8 quân khu gồm:
- Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội một đơn vị tổ chức tương đương cấp quân khu phòng thủ Hà Nội gồm sư đoàn và các đơn vị độc lập
- quân khu 1 gồm các sư đoàn bộ binh (khu vực vùng núi phía Đông Bắc bộ),
- quân khu 2 (khu vực các tỉnh miền núi Tây Bắc),
- quân khu 3 (các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ),
- quân khu 4 (các tỉnh Bắc Trung bộ),
- quân khu 5 (các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên),
- quân khu 7 (Đông Nam Bộ),
- quân khu 9 (Tây Nam Bộ)
Quân binh chủng [sửa]
Theo cơ cấu ngành dọc, Quân đội Nhân dân Việt Nam có Quân chủng chia theo môi trường tác chiến và Binh chủng là loại đơn vị kỹ thuật. Hiện nay, Việt Nam có 3 quân chủng là: Lục quân, Hải quân, Phòng không-Không quân, trong đó quân chủng Lục quân không tổ chức thành bộ tư lệnh riêng mà trực thuộc trực tiếp Bộ quốc phòng. Lực lượng Bộ đội Biên phòng tương đương quân chủng. Các binh chủng trong Lục quân là: Công binh, Thông tin liên lạc, Đặc công, Hoá học, Tăng thiết giáp, Pháo binh.
Các binh chủng trong Hải quân: Hải quân đánh bộ, Tên lửa-Pháo bờ biển, Không quân Hải quân, Tàu ngầm.
Các binh chủng trong Phòng không - Không quân: Radar, Không quân, Tên lửa, Pháo phòng không...
Năm 1998, Cục Cảnh sát biển được thành lập, ban đầu trực thuộc Quân chủng Hải quân. Đến năm 2008, Lực lượng Cảnh sát biển được tổ chức độc lập trực thuộc trực tiếp Bộ Quốc phòng.
Các binh chủng của Lục quân [sửa]
| Bộ binh | Tăng-Thiết giáp | Pháo binh | Đặc công | Công binh | Quân y | Thông tin-Liên lạc | Vận tải |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Kỹ thuật | Hóa học | Hậu cần | Quân pháp | Quân nhạc | Văn công | Thể công | Bộ binh cơ giới |
Các binh chủng của Hải quân [sửa]
| Tàu chiến | Hải quân Đánh bộ | Không quân Hải quân | Tên lửa Bờ biển | Tàu ngầm |
|---|---|---|---|---|
Các binh chủng của Phòng không-Không quân [sửa]
| Tiêm kích | Tên lửa phòng không | Pháo phòng không | Nhảy dù | Radar |
|---|---|---|---|---|
|
||||||||||||||||
Lãnh đạo [sửa]
Quân đội đặt dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, và quản lý của Nhà nước.
Chủ tịch nước Việt Nam là Thống lĩnh (hoặc Tổng tư lệnh) Quân đội Nhân dân Việt Nam và là Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh Việt Nam.
Các chức vụ cao nhất trong Quân đội Nhân dân Việt Nam gồm Bộ trưởng Bộ quốc phòng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Tổng Tham mưu trưởng, có cấp bậc quân hàm cao nhất là Đại tướng. Ngoài ra, trước đây từng có chức vụ Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang do đại tướng Võ Nguyên Giáp nắm giữ.
Đảng ủy Quân sự Trung ương, gọi tắt là Quân ủy Trung ương, là cơ quan lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Quân đội Nhân dân Việt Nam, được thành lập vào tháng 1 năm 1946 do Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam trực tiếp làm Bí thư Quân ủy Trung ương.
Ngoài ra còn có Tòa án quân sự Trung ương và Viện Kiểm sát quân sự Trung ương là 2 cơ quan chức năng trực thuộc ngành Tư pháp và Kiểm sát hoạt động trong quân đội.
Quy định về chức vụ sĩ quan [sửa]
Theo nghị định số 44/2005/NĐ-CP do Thủ tướng Chính phủ ký ban hành ngày 5 tháng 4 năm 2005, quy định nhóm chức vụ chuẩn và cấp bậc quân hàm cao nhất tương ứng của sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam là:
- Chức vụ Bộ trưởng, Tổng Tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị có cấp bậc quân hàm cao nhất là Đại tướng;
- Chức vụ Thứ trưởng có quân hàm cao nhất là Thượng tướng;
- Chức vụ Tư lệnh Quân khu, Tư lệnh Quân chủng, Chủ nhiệm Tổng cục có cấp bậc quân hàm cao nhất là Trung tướng (Phó Đô đốc đối với Hải quân);
- Chức vụ Tư lệnh Quân đoàn, Tư lệnh Binh chủng có cấp bậc quân hàm cao nhất là Thiếu tướng (Chuẩn Đô đốc đối với Hải quân);
- Chức vụ Phó Tư lệnh Quân đoàn, Phó Tư lệnh Binh chủng, Sư đoàn trưởng, Lữ đoàn trưởng có cấp bậc quân hàm cao nhất là Đại tá;
- Chức vụ Trung đoàn trưởng, Trung đoàn phó có cấp bậc quân hàm cao nhất là Thượng tá;
- Chức vụ Tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn phó có cấp bậc quân hàm cao nhất là Trung tá;
- Chức vụ Đại đội trưởng, Đại đội phó có cấp bậc quân hàm cao nhất là Đại úy;
- Chức vụ Trung đội trưởng có cấp bậc quân hàm cao nhất là Thượng úy.
Quy chế về Quân nhân chuyên nghiệp được quy định lần đầu vào năm 1982 và sửa đổi bổ sung vào năm 1992. Quân nhân chuyên nghiệp là quân nhân có trình độ chuyên môn kỹ thuật nhất định cần cho công tác chỉ huy chiến đấu, do đó làm công tác chuyên môn nghiệp vụ dài hạn trong quân đội sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự. Quân nhân chuyên nghiệp không làm công tác chỉ huy, quản lý. Cấp hàm thấp nhất của quân nhân chuyên nghiệp là Thiếu úy và cao nhất là Thượng tá.
Cấp bậc quân hàm [sửa]
Xem thêm: Quân hàm Quân đội Việt Nam và một số quốc gia
Theo sắc lệnh số 33 ngày 22 tháng 3 năm 1946 do Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký, các cấp bậc của Quân đội Quốc gia Việt Nam được quy định thành 5 cấp 15 bậc. Tuy nhiên, do điều kiện chiến tranh, chế độ quân hàm chưa được áp dụng, trừ vài trường hợp ngoại lệ. Năm 1958, chế độ quân hàm mới chính thức được áp dụng đại trà và ổn định từ đó đến nay, trừ một vài thay đổi nhỏ.
Hệ thống quân hàm sĩ quan, Quân nhân chuyên nghiệp Quân đội Nhân dân Việt Nam hiện nay có 3 cấp: Tướng, Tá, Úy, mỗi cấp có 4 bậc được phân theo số sao: Đại (4 sao), Thượng (3 sao), Trung (2 sao) và Thiếu (1 sao). Dưới quân hàm sĩ quan là các quân hàm Học viên, Hạ sĩ quan và Chiến sĩ. Hạ sĩ quan (cấp sĩ) có 3 bậc: Thượng, Trung và Hạ. Cấp Binh (Chiến sĩ) có 2 bậc: Binh nhất và Binh nhì.
| Quân hàm cấp tướng | Lục quân | Không quân | Hải quân | Biên phòng | Cảnh sát biển |
|---|---|---|---|---|---|
| Đại tướng | |||||
| Thượng tướng/ Đô đốc |
|||||
| Trung tướng/ Phó Đô đốc |
|||||
| Thiếu tướng/ Chuẩn Đô đốc |
- Cấp Tướng (4 bậc)
- Đại tướng 4 sao vàng bằng kim loại
- Thượng tướng 3 sao vàng bằng kim loại
- Trung tướng 2 sao vàng bằng kim loại
- Thiếu tướng 1 sao vàng bằng kim loại
- Cấp Tá (4 bậc)
- Cấp uý (4 bậc)
- Cấp sĩ (3 bậc)
- Cấp binh (2 bậc)
Cấp hàm Thượng tướng, Thượng tá và Thượng úy được quy định từ năm 1958. Cấp hàm Thượng tá bị bãi bỏ năm 1983 rồi được khôi phục lại từ năm 1992. Các cấp hàm có tên gọi riêng trong hải quân: Đô đốc (tương đương Thượng tướng), Phó Đô đốc (tương đương Trung tướng), Chuẩn Đô đốc (tương đương Thiếu tướng) được quy định lần đầu tiên trong Luật sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam ban hành ngày 31 tháng 12 năm 1981.
Cấp hiệu Quân đội Nhân dân Việt Nam có 2 hình thức chính là cấp hiệu chính thức và cấp hiệu kết hợp. Cấp hiệu chính thức là cấp hiệu đeo ở trên vai áo. Cấp hiệu kết hợp là phù hiệu binh chủng kết hợp cấp hiệu đeo ở trên ve áo (còn gọi là quân hàm dã chiến). Hình dáng cấp hiệu còn cho biết quân nhân là sĩ quan chỉ huy hay quân nhân chuyên nghiệp.
Màu viền của cấp hiệu thể hiện các quân chủng:
- Lục quân: màu đỏ tươi
- Không quân và Phòng không: màu xanh da trời
- Hải quân: màu tím than.
Màu nền là màu vàng.
Riêng cấp hiệu Bộ đội biên phòng có màu viền là màu đỏ tươi tương tự như Lục quân, nhưng có màu nền xanh lá cây.
Hệ thống cấp hiệu của Lực lượng Cảnh sát biển có màu nền là màu tím than nhưng có viền màu vàng. Đối với chiến sĩ và hạ sĩ quan sử dụng vạch màu vàng.
Kể từ năm 2009, cấp hiệu Quân nhân Chuyên nghiệp sẽ sử dụng vạch kim loại thẳng tương tự như sĩ quan chỉ huy (thay cho vạch kim loại hình >). Tuy nhiên, sẽ có một vạch màu hồng nhạt giữa cầu vai cấp hiệu để phân biệt.
Xem thêm: Quân hàm Quân đội Nhân dân Việt Nam
Phù hiệu [sửa]
Theo quy định năm 2009 thì Quân đội Nhân dân Việt Nam có 25 loại phù hiệu ngành, quân chủng, binh chủng sau đây[14]:
- Binh chủng hợp thành - Bộ binh: hình thanh kiếm và khẩu súng đặt chéo.
- Cơ giới: hình xe bọc thép đặt trên thanh kiếm và khẩu súng đặt chéo.
- Đặc công: hình dao găm đặt trên khối bộc phá, dưới có mũi tên vòng.
- Tăng - Thiết giáp: hình xe tăng nhìn ngang.
- Pháo binh: hình hai nòng pháo thần công đặt chéo.
- Hóa học: hình tia phóng xạ trên hình nhân ben-zen.
- Công binh: hình cuốc, xẻng trên nửa bánh xe răng.
- Thông tin: Hình sóng điện.
- Biên phòng: hình thanh kiếm và khẩu súng đặt chéo, trên vòng tròn không khép kín, dưới hình vòng cung có ký hiệu đường biên giới quốc gia.
- Phòng không - Không quân: hình sao trên đôi cánh chim.
- Nhảy dù: hình máy bay trên dù đang mở.
- Tên lửa: hình tên lửa trên nền mây.
- Cao xạ: hình khẩu pháo cao xạ.
- Radar: hình cánh ra-đa trên bệ.
- Hải quân: hình mỏ neo.
- Hải quân đánh bộ: hình mỏ neo trên thanh kiếm và khẩu súng đặt chéo.
- Cánh sát biển: hình tròn, xung quanh có hai bông lúa dập nổi màu vàng, ở giữa có hình mỏ neo màu xanh dương và chữ CSB màu đỏ.
- Hậu cần - Tài chính: hình thanh kiếm và khẩu súng đặt chéo, dưới có bông lúa.
- Quân y, thú y: hình chữ thập đỏ trong hình tròn.
- Kỹ thuật: hình com-pa trên chiếc búa.
- Lái xe: hình tay lái trên nhíp xe.
- Quân pháp: hình mộc trên hai thanh kiếm đặt chéo.
- Quân nhạc: hình chiếc kèn và sáo đặt chéo.
- Thể dục thể thao: hình cung tên.
- Văn hóa nghệ thuật: hình biểu tượng âm nhạc và cây đàn.
Trang phục [sửa]
Ngày 26 tháng 8 năm 2009, Thủ tướng Việt Nam ra Quyết định số 109/2009/QĐ-TTg quy định về quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu lễ phục của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Từ ngày 22 tháng 12 năm 2009, các sĩ quan Việt Nam cũng sử dụng quân phục mới kiểu K-08.[15]
Vũ khí, khí tài quân sự [sửa]
Quân đội nhân dân Việt Nam không công khai các thông tin về vũ khí, khí tài của mình nên việc biết chính xác các thông tin này dường như là điều không thể. Hiện nay Quân đội nhân dân Việt Nam đang sở hữu một lượng vũ khí lớn, một phần là từ thời Chiến tranh Việt Nam[cần dẫn nguồn]. Vũ khí được sử dụng chủ yếu là từ Liên Xô, Trung Quốc và Hoa Kỳ (Do năm 1975, Quân đội nhân dân Việt Nam đã tịch thu một số lượng vũ khí tương đối lớn do Hoa Kỳ viện trợ cho quân đội Sài Gòn trước đó). Từ năm 1990 trở đi, các bạn hàng vũ khí của Việt Nam được mở rộng, cả với Ấn Độ, Pháp, Israel, Triều Tiên[cần dẫn nguồn]... [2]
Phát triển và hiện đại hóa vũ khí trang bị [sửa]
Trong suốt Chiến tranh Việt Nam (1965-1975) và Chiến tranh biên giới Tây Nam (1979-1989), Việt Nam hầu như dựa hoàn toàn vào các hệ thống vũ khí trang bị có nguồn gốc từ Liên bang Xô viết. Kể từ sau khi Liên Xô sụp đổ năm 1991, đã kết thúc giai đoạn "bán rẻ như cho" và Việt Nam bắt đầu phải thanh toán tiền mua vũ khí trang bị bằng ngoại tệ mạnh hoặc bằng hàng đổi hàng.
Việt Nam đã đặt việc phát triển kinh tế lên hàng đầu và chỉ duy trì mức tăng chi tiêu quốc phòng một cách nhỏ giọt. Việt Nam không tiến hành các đợt mua sắm hay nâng cấp vũ khí lớn. Phải tới tận cuối những năm 1990, Chính phủ Việt Nam công bố một loạt các chương trình mua sắm các hệ thống vũ khí trang bị hiện đại. Theo đó, Việt Nam chậm rãi phát triển hải quân và không quân để kiểm soát các vùng nước nông và vùng đặc quyền kinh tế.
Hầu hết các chương trình mua sắm quốc phòng chủ yếu được thực hiện để đảm bảo ưu tiên này. Ví dụ, Việt Nam đã mua một số máy bay chiến đấu và tàu chiến có khả năng tác chiến khá cao. Việt Nam cũng lên kế hoạch phát triển nền công nghiệp quốc phòng với ưu tiên cho hải quân, có sự kết hợp với các đồng minh cũ (Nga, các nước Đông Âu) và Ấn Độ.
Trang bị của Quân chủng Lục quân [sửa]
Xe tăng [sửa]
Liên Xô T-54/55 Xe tăng chiến đấu chủ lực (990)
Liên Xô T-62 Xe tăng chiến đấu chủ lực (220)
Liên Xô PT-76 Xe tăng lội nước (khoảng 300)
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Type-59 Xe tăng chiến đấu chủ lực (360)
Liên Xô T-34 Chủ yếu dùng để huấn luyện (rất ít)
Liên Xô SU-100 Pháo tự hành chống tăng 100mm (100)
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Type 62 Xe tăng hạng nhẹ (300)
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Type-63 Xe tăng lội nước (500)
Liên Xô PT-76 Xe tăng lội nước hạng nhẹ (300)
CHDCND Triều Tiên PT-85 Xe tăng lội nước hạng nhẹ (100)
Vũ khí loại bỏ [sửa]
Hoa Kỳ M41 Walker Bulldog Xe tăng hạng nhẹ (dự bị)
Hoa Kỳ M48 Patton Xe tăng hạng trung (nghỉ hưu,dự bị)
Xe bộ binh [sửa]
Liên Xô BMP-1 Xe chiến đấu bộ binh (600)
Liên Xô BMP-2 Xe chiến đấu bộ binh (600)
Liên Xô BTR-40 Xe thiết giáp chở quân
Liên Xô BTR-50 Xe thiết giáp chở quân (800)
Liên Xô BTR-60 Xe thiết giáp chở quân (500)
Liên Xô BTR-70 Xe thiết giáp chở quân (200)
Liên Xô BTR-80 Xe thiết giáp chở quân (10-15)
Liên Xô BTR-152 Xe thiết giáp chở quân
Liên Xô BRDM-1 Xe thiết giáp trinh sát (200)
Liên Xô BRDM-2 Xe thiết giáp trinh sát (480)
Hoa Kỳ M-113 Xe thiết giáp chở quân (500)
Israel RAM-2000 Xe thiết giáp chống mìn (100)
Hoa Kỳ V-100 Xe thiết giáp hạng nhẹ (300)
Hoa Kỳ V-150 Xe thiết giáp hạng nhẹ (200)
Vũ khí loại bỏ [sửa]
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Type-63 Xe thiết giáp chở quân
Súng cối - Pháo [sửa]
Liên Xô 2S1 Gvozdika Pháo tự hành 122mm (300)
Liên Xô 2S3 Akatsiya Pháo tự hành 152mm (200)
Liên Xô ZSU-57-2 Pháo phòng không tự hành 57mm 2 nòng (200)
Liên Xô ZSU-23-4 Shilka pháo phòng không tự hành 23mm 4 nòng (100)
Liên Xô S-60 Pháo phòng không 57mm
Liên Xô 61-K Pháo phòng không 37mm (1 hoặc 2 nòng)
Liên Xô ZU-23-2 Pháo phòng không 23mm 2 nòng
Việt Nam Súng cối giảm âm 50mm
Liên Xô Súng cối 60mm (nhiều phiên bản)
Liên Xô Súng cối 82mm (nhiều phiên bản)
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Súng cối 100mm
Liên Xô 120-PM-43 Súng cối 120mm
Liên Xô M160 Súng cối hạng nặng 160mm
Liên Xô SPG-9 Pháo không giật 73mm
Liên Xô B-10 Pháo không giật 82mm
Liên Xô B-11 Pháo không giật 107mm
Liên Xô D-44 Pháo bắn thẳng 85mm
Liên Xô BS-3 Lựu pháo 100mm
Hoa Kỳ M2A1 Lựu pháo 105mm
Liên Xô D-74 Lựu pháo 122 mm
Liên Xô D-30 Lựu pháo 122mm (900)
Liên Xô M-46 130mm Lựu pháo nòng dài 130mm (500)
Liên Xô D-20 Pháo bức kích 152mm (700)
Hoa Kỳ M-114 Pháo bức kích 155mm (100)
Liên Xô BM-14 Pháo phản lực phóng loạt 140mm 16 ống (400)
Liên Xô BM-21 Pháo phản lực phóng loạt 122mm 40 ống (700)
Liên Xô ĐKB Pháo phản lực mang vác 122mm (1 ống phóng đơn phóng đạn BM-21 để trang bị cho bộ binh mang vác)
Vũ khí loại bỏ [sửa]
Liên Xô BM-13 Pháo phản lực phóng loạt 132mm 16 ống
Hoa Kỳ M107 Đại bác tự hành 175mm
Hoa Kỳ M-40 Pháo không giật 106mm
Tên lửa mặt đất [sửa]
Liên Xô Nudelman AT-2 Swatter Tên lửa chống tăng (sử dụng trên trực thăng Mi-24)
Liên Xô Kolomna AT-3 Sagger Tên lửa chống tăng
Liên Xô AT-4 Spigot Tên lửa chống tăng
Liên Xô AT-5 Spandrel Tên lửa chống tăng
Nga 9K114 Shturm Tên lửa chống tăng (sử dụng phiên bản hải quân SHTURM-Ataka trang bị cho các Tàu tuần tra cao tốc Mirage mua của Nga)
Liên Xô SS-1 Scud B/C/D Tên lửa đường đạn chiến thuật đất đối đất
CHDCND Triều Tiên Hwasong-6 Tên lửa đường đạn chiến thuật đất đối đất .
Vũ khí bộ binh [sửa]
Súng ngắn [sửa]
Liên Xô TT-33 Súng ngắn 7,62x25mm
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Type-54 Phiên bản TT-33 do Trung Quốc sao chép.
Liên Xô K-67 Súng ngắn giảm thanh
Việt Nam Súng ám sát 2 nòng 7,62mm MCP [16]
Liên Xô PM (K59) Súng ngắn 9x18mm
Liên Xô Stechkin APS Súng ngắn tự động 9x18mm (trang bị cho đặc công)
Đức Walther PP Súng ngắn tự động 9x18 mm
Tiệp Khắc CZ 52 Súng ngắn 7,62x25mm
Tiệp Khắc CZ 83 Súng ngắn (biến thể xuất khẩu của CZ 82 , CZ 82 lại là phiên bản của PM (K59) nhưng tăng số đạn trong hộp tiếp đạn lên 12 viên)
Hoa Kỳ M-1911A1 Súng ngắn .45ACP
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Súng ngắn Type 59 (Trung Quốc) Sao chép súng ngắn Makarov PM của Liên Xô.
Súng trường [sửa]
Liên Xô/
Việt Nam AK-47 Súng trường tấn công
Liên Xô AK-74 Súng trường tấn công (trang bị cho hải quân)
Liên Xô/
Việt Nam AKM Súng trường tấn công
Liên Xô AKS Súng trường tấn công (phiên bản báng gập của AK-47 , trang bị cho đặc công)
Liên Xô APS Súng trường tấn công dưới nước (trang bị cho lực lượng đặc công nước, đặc công người nhái)
Israel IMI Galil Súng trường tấn công (trang bị cho đặc công biệt động, hải quân đánh bộ)
Hoa Kỳ M-16 Súng trường tấn công
Hungary AMD 65 Phiên bản của AKM do Hungary sản xuất
Israel TAR-21 Súng trường tấn công[17] (trang bị cho hải quân đánh bộ)
Liên Xô AKS-74U Súng carbine, nhưng phân loại kỹ chiến thuật chính xác là tiểu liên (trang bị cho đặc công)
Hoa Kỳ CAR-15 Súng carbine, nhưng phân loại kỹ chiến thuật chính xác là tiểu liên (trang bị cho đặc công, cảnh sát biển, đặc nhiệm quân báo)
Việt Nam M-18 Súng carbine, biến thể của CAR-15 được Việt Nam cải tiến sản xuất.
Liên Xô Mosin Nagant Súng trường chiến đấu (mẫu carbine M44 (K44), trang bị cho dân quân địa phương, quân chủ lực không còn sử dụng.
Liên Xô CKC Súng trường bán tự động (trang bị cho dân quân tự vệ)
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Type 56 loại khác của CKC/SKS (trang bị cho dân quân tự vệ)
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa/
Việt Nam Type 56 1 kiểu khác của AK-47
Tiệp Khắc vz. 58 Súng trường tấn công
Súng tiểu liên [sửa]
Việt Nam K-50M súng tiểu liên (sao chép PPSh-41 và sử dụng phụ kiện của PPS-43, trang bị cho dân quân)
Liên Xô PPSh-41 Súng tiểu liên (trang bị cho dân quân, lưu trữ)
Liên Xô PPS-43 Súng tiểu liên (trang bị cho dân quân, lưu trữ)
Israel Uzi Súng tiểu liên (trang bị cho đặc công)
Ba Lan PM-63 Súng tiểu liên
Tây Đức MP-5 Súng tiểu liên(Các đơn vị cảnh sát và đặc công là chủ yếu)
Súng bắn tỉa [sửa]
Israel IMI Galatz Súng bắn tỉa 7,62mm
Tây Đức PSG-1 Súng bắn tỉa 7,62 mm (Các đơn vị cảnh sát đặc nhiệm) [18]
Liên Xô Mosin-Nagant Biến thể bắn tỉa chuyên dụng của phiên bản M91/30, chất lượng nòng tốt hơn, tay kéo khóa nòng cong gập xuống, dùng kính ngắm PU.
Liên Xô SVD Súng bắn tỉa 7,62mm
Nga SVU Phiên bản khóa nòng sau cò của SVD (trang bị cho đặc công)
Việt Nam Súng bắn tỉa hạng nặng 12,7mm (Phát triển, cải tiến từ mẫu KSVK của Nga)
Romania PSL Phiên bản SVD của Romania .
Súng hạng nặng [sửa]
Liên Xô Súng máy hạng nặng KPV Súng máy hạng nặng 14,5 mm
Liên Xô DShK Súng máy hạng nặng 12,7mm
Liên Xô NSV Súng máy hạng nặng 12,7mm
Hoa Kỳ M2-HB Súng máy hạng nặng 12,7mm
Liên Xô PK/PKM Súng máy đa năng 7,62mm
Liên Xô/
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa RPD Súng máy cá nhân 7,62mm
Liên Xô RPK Súng máy cá nhân 7,62mm
Liên Xô RPK-74 Súng máy cá nhân 7,62mm
Israel IMI Negev Súng máy cá nhân 5,56mm (trang bị cho hải quân đánh bộ)
Hoa Kỳ M-60 Súng máy đa năng 7,62mm
Súng phóng lựu [sửa]
Liên Xô RPG-7V Súng phóng lựu chống tăng .
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Type 69 RPG Súng phóng lựu chống tăng .
Nga RPG-29 Súng phóng lựu chống tăng
Hoa Kỳ M-72 Súng chống tăng, hiện đã cải biến thành súng phóng đạn cháy
Hoa Kỳ M79 Súng phóng lựu chống bộ binh
Liên Xô/
Nga GP-25 Súng phóng lựu (trang bị cho đặc công, được lắp trên súng trường tấn công và súng carbine)
Liên Xô AGS-17 Súng phóng lựu tự động
Nga DP-64 Súng phóng lựu chống mục tiêu ngầm (trang bị trên Tàu tuần tra cao tốc Mirage nhằm chống tàu ngầm và người nhái)
Việt Nam Milkor MGL Súng phóng lựu ổ quay 6 viên, được tổng cục công nghiệp quốc phòng chế tạo theo mẫu của Nam Phi[19]
Khác [sửa]
Vũ khí loại bỏ [sửa]
Hoa Kỳ Browning Hi-Power Súng ngắn 9x18 mm
Hoa Kỳ Smith & Wesson Model 10 Súng ngắn .38/200
Pháp MAT-49 Súng tiểu liên
Hoa Kỳ Thompson Súng tiểu liên.
Anh Quốc Lee-Enfield Súng trường chiến đấu (loại bỏ)
Đức Quốc Xã Karabiner 98k Súng trường chiến đấu
Hoa Kỳ M1903 Springfield Súng trường chiến đấu
Hoa Kỳ M-1 Súng Carbine
Hoa Kỳ M1 Garand Súng trường chiến đấu
Hoa Kỳ M-14 Súng trường chiến đấu.
Hoa Kỳ M1919 Súng máy hạng nặng 12,7 mm
Hoa Kỳ Browning M1917 Súng máy hạng nặng 12,7 mm
Liên Xô SG-43 Súng máy hạng nặng 7,62mm
Liên Xô DP Súng máy cá nhân 7,62mm
Liên Xô SVT-40 Súng trường bán tự động
Liên Xô SVT-38 Súng trường bán tự động
Anh Quốc Bren Súng máy cá nhân 7,62 mm (loại bỏ)
Hoa Kỳ M1918 BAR Súng máy cá nhân 7,62 mm (loại bỏ)
Đức Quốc Xã MG-34Súng máy cá nhân 7,92mm (loại bỏ)
Liên Xô RPG-2 Súng phóng lựu chống tăng
Trang bị của Quân chủng Phòng Không-Không Quân [sửa]
Máy bay [sửa]
Nga Sukhoi Su-30MK2V Flanker-C Máy bay tiêm kích đa chức năng (24 chiếc)
Nga Sukhoi Su-27SK/UB Flanker Máy bay tiêm kích đa chức năng (12 chiếc)
Liên Xô Sukhoi Su-22M3/4 Fitter-J/K Máy bay tiêm kích/tấn công mặt đất
Liên Xô Mikoyan-Gurevich MiG-21Bis Fishbed L/N Máy bay tiêm kích
Tiệp Khắc Aero L-39 Albatros Máy bay phản lực huấn luyện (~34 chiếc)
Liên Xô Yakovlev Yak-52 Máy bay huấn luyện cánh quạt
Nga Yakovlev Yak-130 Máy bay phản lực huấn luyện (~6 cái). Đã đặt hàng thêm 6-12 chiếc, giao hàng 2015-2025
Nga Antonov An-30 Máy bay vận tải/do thám
Liên Xô Antonov An-28 Máy bay vận tải
Liên Xô Antonov An-26 Curl Máy bay vận tải hạng nhẹ
Ba Lan PZL M-28 Skytruck Máy bay vận tải
Canada DHC-6 Twin Otter Máy bay tuần tra biển (6 chiếc, đang đóng)
Tây Ban Nha CASA C-212 Aviocar Máy bay trinh sát (2 chiếc)
Liên Xô Mil Mi-24 Hind Trực thăng chiến đấu
Liên Xô Mi-8 Hip Trực thăng đa năng
Liên Xô Mi-17 Hip-H Trực thăng đa năng
Ba Lan PZL W-3 Sokol Trực thăng vận chuyển nhân vật quan trọng/Trực thăng cứu hộ
Liên Xô Kamov Ka-32S Helix-C Trực thăng cứu hộ/chống ngầm
Liên Xô Ka-27 Helix Trực thăng chống ngầm/cảnh báo sớm trên không
Liên Xô/
Nga Kamov Ka-28 Trực thăng chống ngầm/cảnh báo sớm trên không[20]
Pháp Eurocopter Dauphin Trực thăng chống ngầm
Pháp Eurocopter Ecureuil Trực thăng đa chức năng hạng nhẹ
Pháp Eurocopter EC225 Super Puma Trực thăng trinh sát vận tải
Pháp Aérospatiale Puma Trực thăng dân dụng
Pháp Aérospatiale Super Puma Trực thăng dân dụng
Hoa Kỳ UH-1H Huey Trực thăng đa chức năng
Việt Nam VNS-41 Thủy phi cơ hạng nhẹ
Việt Nam M-400 UAV Máy bay trinh sát không người lái
Việt Nam HL-1 Máy bay huấn luyện
Hoa Kỳ P-3C Orion Máy bay do thám/chống ngầm (6 chiếc, đang đàm phán)
Tên lửa [sửa]
Liên Xô Lavochkin SA-2 Guideline Hệ thống tên lửa đất đối không
Liên Xô S-125 Neva/Pechora Hệ thống tên lửa đất đối không
Liên Xô SA-6 Gainful Hệ thống tên lửa đất đối không tự hành
Liên Xô SA-7 Grail Hệ thống tên lửa đất đối không vác vai
Liên Xô SA-16 Gimlet Hệ thống tên lửa đất đối không vác vai
Liên Xô SA-18 Grouse Hệ thống tên lửa đất đối không vác vai
Liên Xô SA-9 Gaskin Hệ thống tên lửa đất đối không tự hành
Liên Xô SA-13 Gopher Hệ thống tên lửa đất đối không tự hành
Nga Almaz SA-20A Gargoyle Tên lửa đất đối không tầm xa/đánh chặn
Liên Xô Vympel R-3S Tên lửa không đối không
Liên Xô Molniya R-60 Tên lửa không đối không
Nga R-27 Tên lửa không đối không
Nga R-73 Tên lửa không đối không
Nga Kh-25 Tên lửa không đối đất.[21]
Nga Kh-41 Moskit Tên lửa chống hạm (phiên bản phóng từ trên không của P-270)
Nga Kh-31 Tên lửa chống hạm (Kh-31A) hoặc chống radar (Kh-31P)
Nga Kh-35 Uran/SS-N-25 Switchblade 3M-24E Tên lửa chống hạm
Nga Kh-59 Tên lửa không đối đất
Nga Kh-29 Tên lửa không đối đất[22]
Vũ khí loại bỏ [sửa]
Liên Xô Kamov Ka-25 Hormone Trực thăng chống ngầm
Liên Xô Mi-6 Hook-A Trực thăng vận tải hạng nặng
Hoa Kỳ Boeing CH-47 Chinook - Trực thăng vận tải hạng nặng
Liên Xô Yakovlev Yak-11 Máy bay huấn luyện cánh quạt
Liên Xô Yakovlev Yak-18 Máy bay huấn luyện cánh quạt
Tiệp Khắc Aero L-29 Delfín Máy bay huấn luyện phản lực
Liên Xô Antonov An-24 Coke Máy bay vận tải đường bay nội địa (chuyển giao cho Vietnam Airlines)
Liên Xô Ilyushin Il-14 Máy bay vận tải
Hoa Kỳ Douglas C-47 Skytrain Máy bay vận tải
Hoa Kỳ Lockheed Martin C-130 A/B Hercules - Máy bay vận tải bán phản lực
Liên Xô Ilyushin Il-28 Máy bay ném bom hạng trung
Liên Xô Beriev Be-12 Máy bay săn ngầm
Liên Xô Mikoyan-Gurevich MiG-17 Máy bay tiêm kích cận âm
Liên Xô Mikoyan-Gurevich MiG-19 Máy bay tiêm kích siêu âm
Liên Xô Sukhoi Su-7 Máy bay cường kích siêu âm
Hoa Kỳ A-1 Skyraider Máy bay cường kích cánh quạt
Hoa Kỳ F-5E Freedom Fighter Máy bay tiêm kích siêu âm
Hoa Kỳ A-37 Dragonfly Máy bay cường kích siêu âm
Trang bị của Quân chủng Hải quân [sửa]
Tàu ngầm - Tàu chiến [sửa]
Nga Tàu ngầm lớp Kilo Tàu ngầm tấn công. Đã đặt hàng 6 tàu, dự kiến nhận chiếc đầu tiên vào năm 2013
Nga Gepard Hộ tống hạm, khu trục hạm tàng hình
Liên Xô Petya II Hộ tống hạm hạng nhẹ
Hà Lan Sigma Hộ tống hạm
Nga BPS-500 Hộ tống hạm
Nga Tarantul I Hộ tống hạm
Nga/
Việt Nam Tarantul V Hộ tống hạm
Liên Xô Osa II Tàu tuần tra
Liên Xô Turya Tàu phóng lôi
Liên Xô Turya PTF Tàu phóng lôi
Liên Xô Shershen PTF Tàu phóng lôi
Nga Svetlyak Tàu tuần tra
Liên Xô Yurka Tàu quét mìn
Liên Xô Sonya Tàu quét mìn
Liên Xô Yevgenya Tàu quét mìn
Việt Nam Tàu pháo TT400 TP Tàu tuần tra
Nga Tàu tuần tra cao tốc Mirage Tàu tuần tra
Ba Lan Tàu đổ bộ lớp Polnocny Tàu đổ bộ
Việt Nam Tàu đổ bộ hạng nhẹ 600 tấn Việt Nam.
Hoa Kỳ Tàu đổ bộ lớp LST LST-1/542 Tàu đổ bộ
Tên lửa phòng thủ bờ biển [sửa]
Liên Xô 4K51 RUBEZH Hệ thống tên lửa phòng thủ bờ biển di động, sử dụng P-15 Termit, tầm bắn 80 km.
Liên Xô 4K44 REDUT Hệ thống tên lửa phòng thủ bờ biển di động, sử dụng P-5 Pyatyorka, tầm bắn 500 km.[23]
Nga K-300P Bastion-P Hệ thống tên lửa chống hạm phòng thủ bờ biển, sử dụng tên lửa P-800 Yakhont, tầm bắn 300 km.[24]
Tên lửa chống hạm [sửa]
Liên Xô P-15M Tên lửa chống hạm cận âm
Liên Xô P-5 Pyatyorka Tên lửa chống hạm siêu âm
Nga Kh-35 Tên lửa chống hạm cận âm
Nga P-800 Yakhont Tên lửa chống hạm siêu âm
Nga 3M-54E Tên lửa chống hạm siêu âm phóng từ tàu ngầm Kilo Project 636M
Ngư lôi [sửa]
Nga VA-111 Shkval Ngư lôi dành cho tàu ngầm Kilo
Liên Xô/
Nga 53-65 Ngư lôi
Các lớp tàu ngừng sử dụng [sửa]
Liên Xô Tàu tên lửa lớp Komar Ngừng sử dụng thập niên 1980.[25]
CHDCND Triều Tiên Tàu ngầm lớp Yugo Tàu ngầm mini, ngừng sử dụng 2012.
Chú thích [sửa]
- ^ Trích phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại lễ kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (1964). Chú ý không nhầm với câu "Trung với nước, hiếu với dân" trên lá cờ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng cho trường võ bị Trần Quốc Tuấn vào năm 1946.
- ^ Hình ảnh báo cũ: http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7692.msg123488#msg123488
- ^ http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Viet-nam-tren-duong-doi-moi/2012/16162/Mai-mai-lam-theo-loi-Bac-xung-danh-Bo-doi-Cu-Ho.aspx
- ^ http://www.qdnd.vn/qkqd/vi-vn/118/337/trung-voi-dang-hieu-voi-dan-truyen-thong-cuc-ky-quy-bau-cua-quan-doi-nhan-dan-viet-nam/221758.html
- ^ Sắc lệnh 71/SN về tổ chức Quân đội Quốc gia Việt Nam
- ^ Đại cương lịch sử Việt Nam – NXB Giáo dục, dẫn tại
- ^ Organisation militaire Viêt Minh, Etat du Viêtnam, Ministère de la Défense Nationale, Etat-Major Général, 2e Bureau, N°09266/T.T.M/2-S, S.P. 4.002, le 15 sep 1953, SHAT 10H990
- ^ Phim tài liệu: Việt Nam, cuộc chiến tranh mười ngàn ngày. Michael McLair. Tập 1
- ^ http://www.phunu.hochiminhcity.gov.vn/web/tintuc/default.aspx?cat_id=521&news_id=285
- ^ http://www.vietnamplus.vn/Home/Den-voi-Dien-Banhuyen-co-nhieu-liet-sy-nhat-nuoc/20117/99038.vnplus
- ^ Thơ chúc tết của chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1969
- ^ Kinnard, Douglas, The War Managers. Wayne NJ: Avery Publishing Group, 1988. tr. 67
- ^ Carlyle A. Thayer, The Soviet Union and IndoChina, IV World Congress for Soviet & East European Studies, Harrogate, England, July 21-26 1990.
- ^ [1]
- ^ Quyết định số 109/2009/QĐ-TTg
- ^ http://ttvnol.vcmedia.vn/images/56601/h39_1334736483.jpg
- ^ http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Hai-quan-danh-bo-Viet-Nam-lot-xac/20123/196179.datviet
- ^ http://www.mediafire.com/conv/05864bfe0e112bb816675a3fcc9480c6a2de72bfce2a260ed1e9943507fa059c6g.jpg
- ^ http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/4/38/38/174375/Default.aspx
- ^ http://bee.net.vn/channel/1984/201202/diem-danh-nhung-thanh-vien-dau-cua-Khong-quan-Hai-quan-VN-1826462/
- ^ http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Tiem-kich-Viet-Nam-nhan-them-ten-lua-moi/20126/215614.datviet
- ^ http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-Quoc-phong/Chuyen-gia-Hoa-kieu-so-sanh-Su2730-cua-Viet-Nam-va-Trung-Quoc/142278.gd
- ^ http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Hai-quan-Viet-Nam-Tinh-gon-co-dong-linh-hoat/20122/191534.datviet
- ^ http://biendaovietnam.com/tag/k300p-bastion-p/
- ^ Chuyện ít biết về tàu tên lửa đầu tiên của VN
Xem thêm [sửa]
Liên kết ngoài [sửa]
- Đài Tưởng Niệm Anh Hùng Liệt Sĩ Trực Tuyến
- Số viện trợ quân sự cho Quân đội Nhân dân Việt Nam trong chiến tranh
- Trang thông tin khoa học kỹ thuật quân sự quốc phòng Việt Nam
- Báo Quân đội Nhân dân - Tiếng nói của lực lượng vũ trang và nhân dân Việt Nam
- Diễn đàn Quân sử Việt Nam
- Mỗi sĩ quan quân đội sẽ có một giấy chứng minh
- Luật Sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam năm 1999
- Công bố Sách trắng về Quốc phòng Việt Nam
- North Vietnamese Aces:MiG-17 and MiG-21 pilots, Phantom and "Thud" Killers
- Trực thăng Không quân Nhân dân Việt Nam
- Người phi công hàng binh tham gia ném bom Tân Sơn Nhất (Bức ảnh trong bài báo bị chú thích sai, đây không phải là ảnh chụp sau trận không kích mà là ảnh chụp các phi công tham gia phi vụ đó họp mặt lại)
- Trực thăng Không quân Nhân dân Việt Nam
- Thống kê về các trận không chiến phần 1 www.acig.org
- Hồi ức kỷ niệm 50 năm thành lập Không quân Nhân dân Việt Nam
- Hải quân nhân dân Việt Nam Những ngày đầu xây dựng trên Báo Quân đội Nhân dân điện tử
- Lịch sử Hải quân Nhân dân Việt Nam 1955-2005
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về Quân đội Nhân dân Việt Nam. |
| Quân đội ở châu Á | |
|---|---|
|
Afghanistan | Ai Cập | Armenia1 | Azerbaijan1 | Ả Rập Saudi | Ấn Độ | Bahrain | Bangladesh2 | Brunei | Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất | Campuchia2 | Đài Loan (Quân đội Trung Hoa Dân Quốc)4 | Đông Timor | Gruzia1 | Hàn Quốc 3 | Indonesia | Iran | Iraq | Israel | Jordan | Kazakhstan1 | Kuwait | Kyrgyzstan | Lào | Liban3 | Malaysia | Maldives | Mông Cổ | Myanma | Nepal | Nga1 | Nhật Bản | Oman | Pakistan | Palestin | Philippines | Qatar | Singapore | Síp1 | Sri Lanka | Syria | Tajikistan | Thái Lan | Thổ Nhĩ Kỳ1 | Triều Tiên | Trung Quốc | Turkmenistan | Uzbekistan | Việt Nam | Yemen |