Nguyễn Phú Trọng
| Nguyễn Phú Trọng | |
![]() |
|
| Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam | |
|---|---|
| Nhiệm kỳ | 19 tháng 1, 2011 – nay 1 năm, 12 ngày |
| Tiền nhiệm | Nông Đức Mạnh |
| Kế nhiệm | đương nhiệm |
| Chủ tịch Quốc hội Việt Nam | |
| Nhiệm kỳ | 26 tháng 6, 2006 – 23 tháng 7, 2011 5 năm, 219 ngày |
| Tiền nhiệm | Nguyễn Văn An |
| Kế nhiệm | Nguyễn Sinh Hùng |
| Bí thư Thành ủy Hà Nội | |
| Nhiệm kỳ | 1 năm 2000 – 26 tháng 6, 2006 |
| Kế nhiệm | Phạm Quang Nghị |
| Bí thư Quân ủy Trung ương | |
| Nhiệm kỳ | 19 tháng 1, 2011 – nay 1 năm, 12 ngày |
| Tiền nhiệm | Nông Đức Mạnh |
| Kế nhiệm | đương nhiệm |
| Đảng | Đảng Cộng sản Việt Nam |
| Sinh | 14 tháng 4, 1944 xã Đông Hội, huyện Đông Anh, Hà Nội |
| Học trường | Đại học Tổng hợp Hà Nội, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh |
| Dân tộc | Kinh |
Nguyễn Phú Trọng (sinh năm 1944) là một chính khách Việt Nam. Trước khi được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ ngày 19 tháng 1 năm 2011, ông từng giữ chức Chủ tịch Quốc hội Việt Nam từ ngày 26 tháng 6 năm 2006 đến ngày 23 tháng 7 năm 2011. Ông cũng là một Giáo sư, Tiến sĩ Chính trị học (chuyên ngành Xây dựng Đảng), Cử nhân Văn - Đại học Tổng hợp Hà Nội.
Mục lục |
[sửa] Tiểu sử
Ông sinh ngày 14 tháng 4 năm 1944 tại xã Đông Hội, huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội. Từ năm 1957 đến năm 1963, ông học trường cấp II rồi cấp III Nguyễn Gia Thiều đóng tại huyện Gia Lâm nay là quận Long Biên Hà Nội.
Năm 1963, ông học Khoa Văn, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (từ năm 1965 đến năm 1967, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội sơ tán lên huyện Đại Từ, tỉnh Bắc Thái - nay là Thái Nguyên). Ông tốt nghiệp bằng Cử nhân Văn chương.
Năm 1967, ông trở thành đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông công tác tại tạp chí Học tập (tiền thân của tạp chí Cộng sản), một trong ba cơ quan tuyên truyền quan trọng và chuyên chính nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam (cùng với báo Nhân Dân và Quân Đội Nhân Dân).
Năm 1973, ông được cử đi học lớp nghiên cứu sinh về kinh tế chính trị tại Trường Nguyễn Ái Quốc (nay là Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh).
Năm 1981, ông được cử sang Liên Xô làm thực tập sinh, học tập và bảo vệ luận án tiến sĩ tại Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Liên Xô (thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô).
Tháng 8 năm 1983, ông về nước, tiếp tục công tác ở Ban Xây dựng Đảng của tạp chí Cộng sản. Được đề bạt làm Phó trưởng ban (tháng 10 năm 1983), Trưởng ban (tháng 9 năm 1987), Uỷ viên Ban biên tập (tháng 3 năm 1989), Phó tổng biên tập (tháng 5 năm 1990) rồi Tổng biên tập tạp chí Cộng sản (tháng 8 năm 1991).
Năm 1992, ông được phong học hàm Phó giáo sư và 10 năm sau (2002) ông được phong học hàm Giáo sư.
Từ ngày 20 đến ngày 25 tháng 1 năm 1994, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ của Đảng Cộng sản Việt Nam, họp tại Hà Nội, ông cùng với 19 người khác được bầu bổ sung vào Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VII.
Tháng 8 năm 1996, ông làm Phó bí thư Thành uỷ Hà Nội, kiêm Trưởng Ban Đại học[1], phụ trách công tác tuyên giáo của Thành ủy.
Tháng 2 năm 1998, ông phụ trách công tác tư tưởng - văn hóa và khoa giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương. Hiệu phó trường KHXH và Nhân Văn.
Từ tháng 8 năm 1999 cho tới hết nhiệm kì của Đại hội VIII, ông tham gia Thường trực Bộ Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII; trực tiếp chỉ đạo việc biên soạn Văn kiện Đại hội IX của Đảng.
Tháng 1 năm 2000, ông làm Bí thư Thành uỷ Hà Nội. Tháng 11 năm 2001, ông kiêm nhiệm Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, phụ trách công tác lý luận của Đảng. Từ đầu năm 2003, ông trực tiếp chỉ đạo công tác tổng kết 20 năm đổi mới, chuẩn bị và biên soạn văn kiện Đại hội X của Đảng.
Ngày 26 tháng 6 năm 2006, ông đảm nhận chức vụ Chủ tịch Quốc hội thay ông Nguyễn Văn An, xin từ nhiệm. Hai ngày sau, Bộ Chính trị đã chỉ định ông Phạm Quang Nghị, người vừa được Quốc hội miễn nhiệm chức Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin, làm Bí thư Thành ủy Hà Nội kế nhiệm.
Tại kì họp đầu tiên của Quốc hội khóa XII, ông tái đắc cử chức Chủ tịch Quốc hội.
Tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam XI, ông được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ ngày 19 tháng 1 năm 2011.
[sửa] Xem thêm
- Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VII
- Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
[sửa] Chú thích
- ^ Trong 3 nhiệm kì Đảng bộ Thành phố Hà Nội gần đây nhất, người nắm chức danh Trưởng ban Đại học Thành ủy luôn được bầu vào Thường vụ Thành ủy. Trưởng ban Đại học đương nhiệm của Thành ủy là ông Nguyễn Đình Tân, nguyên Hiệu trưởng trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong
[sửa] Liên kết ngoài
- Website chính thức
- Video công bố ông Nguyễn Phú Trọng trở thành Tổng Bí thư khóa XI
- Tiểu sử tóm tắt ông Nguyễn Phú Trọng trên trang web Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
- Ông Nguyễn Phú Trọng được bầu làm Chủ tịch Quốc hội
- Đại hội VII của Đảng
- Ông Nguyễn Phú Trọng được bầu làm Chủ tịch Quốc Hội
- GS. Nguyễn Phú Trọng, từ sinh viên Đại học Tổng hợp đến Bí thư Thành uỷ Hà Nội
| Tiền nhiệm: Nông Đức Mạnh |
Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam 2011-nay |
Kế nhiệm: đương nhiệm |
| Tiền nhiệm: Nguyễn Văn An |
Chủ tịch Quốc hội Việt Nam 2006-2011 |
Kế nhiệm: Nguyễn Sinh Hùng |
|
||||||||||
|
|||||||||||||
|
||||||||||
|
||||||||||
|
||||||||||
|
|||||||||||
