Phạm Thanh Ngân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Phạm Thanh Ngân (sinh năm 1939) là một tướng lĩnh của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông từng là một phi công nổi tiếng với thành tích bắn hạ 8 máy bay Mỹ trong những cuộc không chiến trong Chiến tranh Việt Nam và được phong Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 1969. Cấp bậc cao nhất của ông là Thượng tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, từng giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam và Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 18 tháng 4 năm 1939 tại xã Lương Phú, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Tuy nhiên, quê gốc của ông là ở huyện Tiên Lữ, Hưng Yên.

Tháng 6 năm 1957, ông tham gia hoạt động Đoàn Thanh niên tại địa phương. Ngày 21 tháng 3 năm 1959, ông nhập ngũ, trở thành chiến sĩ trinh sát rồi Tiểu đội trưởng Đại đội 1 Tiểu đoàn 1 Lữ đoàn 374, Sư đoàn 351 Pháo binh.

Trở thành phi công[sửa | sửa mã nguồn]

Trong một đợt kiểm tra tuyển quân, ông trúng tuyển và được đưa đi huấn luyện tại Trường dự khóa bay[1] ở sân bay Cát Bi (Hải Phòng) vào tháng 4 năm 1961. Tháng 10 năm đó, ông được cử sang Liên Xô học lái máy bay MiG-17. Ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 8 tháng 12 năm 1963, kết nạp chính thức ngày 8 tháng 9 năm 1964, khi đang học tại Liên Xô. Tháng 10 năm 1964, ông trở về nước và trở thành sĩ quan lái máy bay MiG-17 tại Trung đoàn 921 Không quân.

Tuy nhiên, đến tháng 8 năm 1965, ông tiếp tục được cử đi học lái máy bay MiG-21 tại Liên Xô. Tháng 6 năm 1966, ông về nước và lần lượt giữ chức vụ Trung đội trưởng, Đại đội phó, Đại đội trưởng lái máy bay MiG-21 tại Đoàn không quân Sao Đỏ[2]. Từ đây, ông bắt đầu trực tiếp tham gia chiến đấu.

Thành tích trong chiến đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời gian từ 1966 đến 1968, ông đã cùng đồng đội tham gia chiến đấu và trực tiếp bắn rơi 8 máy bay của Không quân Hoa Kỳ và chỉ huy đơn vị bắn rơi 8 máy bay khác. Một số chiến thắng của ông được ghi nhận lại như sau:

Ông đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng 8 huy hiệu vì thành tích này.[2] Tháng 7 năm 1968, ông được đi dự Đại hội Chiến sĩ thi đua tiêu biểu hai miền Nam Bắc.[4] Cùng tháng 12 năm 1968, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng một chiếc đồng hồ vì thành tích bắn rơi nhiều máy bay Mỹ. Ông được tuyên dương Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân ngày 18 tháng 6 năm 1969 khi đang là Đại úy, Đại đội trưởng thuộc Trung đoàn Không quân 921.

Điều đặc biệt là hai trong số các máy bay MiG-21 mà ông từng điều khiển, mang số hiệu 4324 và 4326, đều là những chiếc máy bay có số lần bắn hạ đối phương cao nhất (4324 với 14 lần và 4326 với 13 lần), đồng thời cũng có số lượng phi công từng điều khiển đạt đẳng cấp phi công ách chủ bài nhiều nhất, được phong anh hùng nhiều nhất và trở thành tướng lĩnh nhiều nhất.[5]

Trở thành chỉ huy[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 9 năm 1970, ông lại được cử sang Liên Xô theo học tại Học viện Không quân Gagarin. Mãi đến tháng 9 năm 1975, ông mới trở về nước và tham gia viết tài liệu tại Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân. Tháng 6 năm 1977, ông được cử làm Sư đoàn phó Sư đoàn Không quân 371, thuộc Quân chủng Không quân vừa được thành lập.

Tháng 8 năm 1978, ông được cử đi học tại Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc Trung ương. Tháng 3 năm 1979, ông trở về làm Sư đoàn phó, sau đó thăng làm Sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân 371.

Tháng 8 năm 1982, lần thứ 4 ông đến Liên Xô học tập, Học viện Bộ Tổng tham mưu Voroshilov. Tháng 7 năm 1984, ông về nước và được cử giữ chức vụ Phó Tham mưu trưởng Quân chủng Không quân, đến tháng 2 năm 1985, được thăng làm Phó Tham mưu trưởng thứ nhất Quân chủng Không quân, tháng 9 năm 1986, thăng làm Phó Tư lệnh về Chính trị, Bí thư Đảng ủy Quân chủng kiêm Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Không quân cho đến tháng 10 năm 1987. Tháng 10 năm 1987, ông thôi chức Chủ nhiệm Chính trị, nhưng vẫn là Phó Tư lệnh về Chính trị, Bí thư Đảng ủy Quân chủng. Tháng 6 năm 1988, ông được thăng quân hàm Thiếu tướng.

Tháng 4 năm 1989, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Quân chủng Không quân. Tháng 9 năm 1991, ông được bầu làm ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VII với cương vị Tư lệnh Quân chủng Không quân. Tháng 6 năm 1992, ôngđược thăng hàm Trung tướng.

Tháng 1 năm 1996, ông được bầu tiếp làm ủy viên trung ương Đảng khóa VIII. Tháng 5 năm đó, ông được phân công làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Tháng 7 năm 1997, ông được bầu làm Đại biểu Quốc hội khóa X. Tháng 12 năm 1997, ông được bầu vào Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII. Từ tháng 1 năm 1998, ông được phân công làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam[2]. Tháng 11 năm 1999, ông được thăng hàm Thượng tướng.

Tháng 5 năm 2001, ông thôi chức vụ Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, được phân phụ trách Ban Tổng kết chiến lược về Quân sự và Quốc phòng trực thuộc Bộ Chính trị. Một năm sau, ông nghỉ hưu.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]