Ngô Xuân Lịch

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ngô Xuân Lịch
Colonel General Ngo Xuan Lich.jpg
Tiểu sử
Quốc tịch Flag of Vietnam.svg Việt Nam
Sinh

20 tháng 4, 1954 (60 tuổi)

Duy Tiên, Hà Nam, Việt Nam
Binh nghiệp
Thuộc Flag of Viet Nam Peoples Army.svg Quân đội nhân dân Việt Nam
Năm tại ngũ 1972-nay
Cấp bậc Vietnam People's Army Colonel General.jpgThượng tướng
Chỉ huy FNL Flag.svg Quân Giải phóng Miền Nam
Flag of Vietnam.svg Quân đội nhân dân Việt Nam
Tham chiến Chiến dịch Hồ Chí Minh
Chiến tranh biên giới Tây Nam

Ngô Xuân Lịch (sinh năm 1954) là một tướng lĩnh Quân đội Nhân dân Việt Nam chức vụ Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, hàm Thượng tướng.

Thân thế và binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 20 tháng 4 năm 1954, quê tại thôn Lương Xá, xã Yên Bắc, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Ông nhập ngũ vào giai đoạn cuối Chiến tranh Việt Nam và được biên chế vào Sư đoàn 341, Quân đội Nhân dân Việt Nam (còn gọi là Đoàn Sông Lam) Quân khu 4, mới thành lập trước đó không lâu tại Nghệ An. Sau đó, ông cùng đơn vị tham chiến trong chiến dịch Hồ Chí Minh, sau đó là Chiến tranh biên giới Tây Nam, đi lên từ chiến sĩ lên chức vụ Chính trị viên Tiểu đoàn.

Sau chiến tranh, ông vẫn tiếp tục công tác trong quân đội. Trước khi nhậm chức Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, ông là Phó tư lệnh Chính trị (từ năm 2006 đổi thành Chính ủy) Quân khu 3, Quân đội Nhân dân Việt Nam, hàm Thiếu tướng. Năm 2006, ông được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá X.

Ngày 31 tháng 12 năm 2007, ông được Thủ tướng bổ nhiệm làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, hàm Trung tướng. Tại Đại hội Đảng toàn quốc XI, ông tái đắc cử chức vụ Ủy viên Trung ương Đảng và được bầu vào Ban Bí thư.

Ngày 1 tháng 3 năm 2011, ông chính thức được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị thứ 8 của Quân đội Nhân dân Việt Nam, kế nhiệm tướng Lê Văn Dũng.

Ngày 5 tháng 12 năm 2011, ông được thăng quân hàm Thượng tướng.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]