Nguyễn Chí Vịnh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nguyễn Chí Vịnh
Nguyen Chi Vinh 2010.jpg
Tướng Nguyễn Chí Vịnh năm 2010
Tiểu sử
Biệt danh Năm Vịnh
Sinh

15 tháng 5, 1957 (57 tuổi)

Hà Nội, Việt Nam
Binh nghiệp
Thuộc Flag of Vietnam.svg Quân đội Nhân dân Việt Nam
Năm tại ngũ 1981 - nay
Cấp bậc Vietnam People's Army Colonel General.jpgThượng tướng
Khen thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì
Huân chương Chiến thắng hạng Nhì
...

Nguyễn Chí Vịnh (sinh năm 1957) là một chính khách và tướng lĩnh cấp cao của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Hiện ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam, hàm Thượng tướng. Ông từng giữ chức Tổng cục trưởng Tổng Cục 2[1], lãnh đạo công tác tình báo quân đội từ 2002 đến 2010.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 15 tháng 5 năm 1957[2] tại Hà Nội, nguyên quán ở thôn Niêm Phò, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Ông là con trai út của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Nguyên tên Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là Nguyễn Vịnh, vì vậy về sau ông lấy tên khai sinh của mình đặt tên cho con trai út là Nguyễn Chí Vịnh.[3]. Mẹ là bà Nguyễn Thị Cúc.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1964 đến 1974, học sinh trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi, trường Văn hóa Quân đội.

Năm 1974 đến 1976, Học sinh trường Cấp 3 Lý Thường Kiệt nay là trường Trung học phổ thông Việt Đức - Hà Nội

Năm 1976, Thi đỗ vào học Khóa 11, Học viện Kỹ thuật Quân sự. Nhưng chỉ được 1 năm, do nhiều lý do đến năm 1977, ông chuyển sang trường Sĩ quan Thông tin.

Năm 1981 (24 tuổi), tốt nghiệp khóa 11 Trường Sĩ quan Thông tin, ra trường phong hàm Trung úy, về nhận công tác tại Cục Nghiên cứu (Cục Tình báo- Bộ Quốc phòng).

Trong quá trình công tác, ông luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Vì vậy, chỉ trong vòng 10 năm, ông liên tục được thăng quân hàm vượt cấp.

Năm 1991 (34 tuổi), Bổ nhiệm chức vụ Trưởng phòng (thuộc Cục 12, Tổng cục 2). Thăng quân hàm Thượng tá.

Tháng 2 năm 1995, ông được giao nhiệm vụ Phụ trách Cục 12 Tổng cục 2 Bộ Quốc phòng.

Tháng 5 năm 1995 (38 tuổi), Bổ nhiệm chức vụ Phó Cục trưởng Cục 12, thăng quân hàm Đại tá.

Năm 1996, Bổ nhiệm chức vụ Cục trưởng Cục 12, Tổng cục 2.

Năm 1998, Bổ nhiệm chức vụ Phó Tổng cục trưởng Tổng cục 2.

Năm 1999, (42 tuổi), ông được Thủ tướng Chính phủ thăng quân hàm Thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Năm 2002 (45 tuổi), Bổ nhiệm giữ chức vụ Tổng cục trưởng Tổng cục 2 Bộ Quốc phòng.[1]

Năm 2003, bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Quan hệ Quốc tế.

Tháng 12 năm 2004 (47 tuổi), được Thủ tướng Chính phủ Thăng Quân hàm Trung tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Tháng 2 năm 2009 (52 tuổi), Bổ nhiệm giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.[4][5] Tháng 8 năm 2009, ông thôi kiêm nhiệm chức vụ Tổng cục trưởng Tổng cục 2.

Ngày 27 tháng 4 năm 2010, được Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước trao học hàm Phó Giáo sư chuyên ngành Quan hệ Quốc tế.

Tháng 12 năm 2011, (54 tuổi) được Chủ tịch nước thăng Quân hàm Thượng tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (2011-2016), được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.

Lịch sử thụ phong quân hàm[sửa | sửa mã nguồn]

Năm thụ phong 1981 1983 1985 1987 1989 1991 1995 1999 2004 2011
Quân hàm Vietnam People's Army Lieutenant.jpg Vietnam People's Army Senior Lieutenant.jpg Vietnam People's Army Captain.jpg Vietnam People's Army Major.jpg Vietnam People's Army Lieutenant Colonel.jpg Vietnam People's Army Colonel.jpg Vietnam People's Army Senior Colonel.jpg Vietnam People's Army Major General.jpg Vietnam People's Army Lieutenant General.jpg Vietnam People's Army Colonel General.jpg
Cấp bậc Trung úy Thượng úy Đại úy Thiếu tá Trung tá Thượng tá Đại tá Thiếu tướng Trung tướng Thượng tướng

Quan điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Về quan hệ 2 nước Xã hội Chủ nghĩa nhân Vụ giàn khoan Hải Dương 981:

Việt Nam cũng như Trung Quốc đang đi theo chế độ XHCN, dù muốn dù không thì vẫn có sự đồng cảm, tương đồng nhất định.[6]

Cống hiến[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ông là người góp phần lớn trong việc giữ vững sự tồn tại và phát triển của Tổng cục 2, Bộ Quốc phòng. Trong thời gian đảm nhiệm cương vị Tổng cục trưởng Tổng cục 2 (2002 - 2009), nhiều đơn vị dưới quyền được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân và nhiều danh hiệu cao quý khác [7]

Gia đình riêng[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Thế Vinh - Hà Trường (24 tháng 3 năm 2008). “Tình báo quốc phòng phải vững chắc, nhạy bén hơn nữa”. Báo Vietnamnet. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2010. 
  2. ^ Đồng chí Nguyễn Chí Vịnh
  3. ^ Nguyệt Tú - Nguyệt Tĩnh (4 tháng 2 năm 2006). “Chuyện tình yêu của đại tướng Nguyễn Chí Thanh”. Báo Tuổi trẻ online. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2010. 
  4. ^ “Việt Nam-Trung Quốc tăng cường quan hệ quốc phòng”. BBC. 2 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2010. 
  5. ^ Đức Thịnh (17 tháng 7 năm 2009). “Lãnh đạo Bộ Quốc phòng tặng nhà tình nghĩa gia đình chính sách”. Báo Quân đội Nhân dân. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2010. 
  6. ^ Trung Quốc sai lầm khi cưỡng đoạt chủ quyền của Việt Nam, tuoitre, 04.06.2014
  7. ^ Những chiến công thầm lặng - Tổng cục 2, Bộ Quốc phòng xuất bản tháng 3 năm 2008, Hà Nội

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]