Giáo sư (Việt Nam)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Giáo sư Việt Nam hoặc đơn giản là Giáo sư là tên gọi một học hàm, hoặc chức danh hoặc chức vụ khoa học dành cho các cán bộ giảng dạy cao cấp ở các bộ môn thuộc trường đại học hoặc viện nghiên cứu, được nhà nước Việt Nam phong tặng vì đáp ứng đủ các tiêu chí do luật định trong các hoạt động (lĩnh vực) đào tạo và nghiên cứu khoa học.

Từ năm 1976, ở Việt Nam đã chủ trương đào tạo trên đại học trong cả nước. Một số trường, cơ sở đào tạo lớn bắt đầu đào tạo phó Tiến sĩ (nay là Tiến sĩ) là mốc đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của nền giáo dục đại học ở Việt Nam. Để đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực bậc cao. Nhà nước Việt Nam chủ trương phong hàm giáo sư, phó giáo sư cho đội ngũ nhà giáo và các nhà khoa học. Điều này có ý nghĩa lớn đối với sự nghiệp đào tạo sau đại học

Lần phong đầu tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 11 tháng 9 năm 1976, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 162/CP về việc phong hàm giáo sư, phó giáo sư cho 29 nhà giáo, nhà khoa học tiêu biểu đã được nhà nước tôn vinh phong hàm giáo sư đầu tiên của Việt Nam là:

Sử học[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Đào Duy Anh
  2. Trần Văn Giàu
  3. Nguyễn Văn Huyên
  4. Phạm Huy Thông
  5. Nguyễn Khánh Toàn

Văn học[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Đặng Thai Mai
  2. Nguyễn Mạnh Tường
  3. Trương Tửu

Triết học[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Trần Đức Thảo

Toán học[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Tạ Quang Bửu
  2. Lê Văn Thiêm
  3. Ngô Bảo Châu

Vật lý[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Ngụy Như Kon Tum

Hóa học[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Nguyễn Văn Hoán

Y học[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Đặng chung
  2. Hồ Đắc Di
  3. Vũ Công Hòe
  4. Đỗ Xuân Hợp
  5. Đặng Vũ Hỷ
  6. Nguyễn Xuân Nguyên
  7. Đặng Văn Ngữ
  8. Đặng Văn Nội
  9. Trương Công Quyền
  10. Phạm Ngọc Thạch
  11. Đinh Văn Thắng
  12. Hoàng Tích Trí
  13. Tôn Thất Tùng
  14. Trần Hữu Tước

Nông học[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Lương Định Của

Cơ khí[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Trần Đại Nghĩa

Những lần phong sau[sửa | sửa mã nguồn]

Sau đợt phong hàm giáo sư đầu tiên, Chính phủ đã tổ chức xét và công nhận học hàm giáo sư, phó giáo sư nhiều đợt vào các năm: 1980, 1984, 1988, 19911996. Tong các đợt này, gần 4000 nhà giáo và nhà khoa học đã được phong hàm giáo sư, phó giáo sư.

  1. Năm 1980, giáo sư 83, phó giáo sư 347
  2. Năm 1984, giáo sư 117, phó giáo sư 664
  3. Năm 1986, giáo sư 6, phó giáo sư 10
  4. Năm 1988, giáo sư 14, phó giáo sư 87
  5. Năm 1989, giáo sư 2,
  6. Năm 1991, giáo sư 247, phó giáo sư 727
  7. Năm 1992, giáo sư 140, phó giáo sư 719
  8. Năm 1996, giáo sư 210, phó giáo sư 771
  9. Năm 1997, giáo sư 2 [1]

Ngày 17 tháng 5 năm 2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 20/2001/NĐ-CP "Quy định tiêu chuẩn, thủ tục bổ nhiệm và miễn nhiệm các chức danh giáo sư, phó giáo sư". Theo nghị định này, việc xét và phong hàm giáo sư, phó giáo sư được thực hiện theo từng năm.

  1. Năm 2001, giáo sư 96, phó giáo sư 391
  2. Năm 2002, giáo sư 115, phó giáo sư 553
  3. Năm 2003, giáo sư 62, phó giáo sư 388
  4. Năm 2004, giáo sư 38, phó giáo sư 302
  5. Năm 2005, giáo sư 41, phó giáo sư 312
  6. Năm 2006, giáo sư 44, phó giáo sư 411
  7. Năm 2007, giáo sư 54, phó giáo sư 445 [1]
Đội ngũ giáo sư, phó giáo sư được phong nhiều nhất ở các ngành: Y, Kinh tế, Toán, Lý, Hóa, Nông nghiệp...

Những giáo sư là lãnh đạo cấp cao[sửa | sửa mã nguồn]

Tiêu chuẩn và quy trình xét phong[sửa | sửa mã nguồn]

Một người sẽ được xét chức danh Giáo sư khi đạt một số tiêu chuẩn về nghiên cứu, hướng dẫn, và giảng dạy. Người đó sẽ phải làm hồ sơ nộp lên Hội đồng Chức danh giáo sư Nhà nước. Sau đó hội đồng sẽ thẩm định hồ sơ, phỏng vấn các ứng viên và quyết định có phong hay không qua hình thức bỏ phiếu kín lấy đa số.[2]

Hội đồng Chức danh giáo sư Nhà nước[sửa | sửa mã nguồn]

Hội đồng Chức danh giáo sư Nhà nước Việt Nam là 1 hội đồng quan trọng của ngành giáo dục Việt Nam, là cơ quan có nhiệm vụ, vai trò như trọng tài đề cử, xem xét, và phong tặng chức danh giáo sư của Việt Nam.

Thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

Thành viên hội đồng đều là những giáo sư trong các ngành giáo dụckhoa học Việt Nam hiện nay, đứng đầu là chủ tịch hội đồng

Thành viên hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Thành viên Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước nhiệm kỳ 2009-2014[3]

  • Chủ tịch hội đồng

GS. TS. Phạm Vũ Luận (Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo)

  • Phó chủ tịch hội đồng

GS. TSKH. Bùi Văn Ga (Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)

  • Tổng thư kí hội đồng

GS TSKH. Trần Văn Nhung (Nguyên thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)

  • Các uỷ viên hội đồng
  1. GS. TS. Nguyễn Trọng Giảng, Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa Hà Nội.
  2. GS. TS. Mai Trọng Nhuận, Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội.
  3. GS. TSKH. Dương Ngọc Hải, Viện trưởng Viện Cơ học, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
  4. GS. TS. Võ Xuân Minh, Trường Đại học Dược Hà Nội.
  5. GS. TSKH. Nguyễn Xuân Quỳnh, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Viện Nghiên cứu Điện tử - Tin học - Tự động hoá, Bộ Công Thương.
  6. GS. TS. Vũ Dũng, Viện trưởng Viện Tâm lý học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam.
  7. GS. TS. Nguyễn Xuân Đào, Viện Khoa học Công nghê Giao thông vận tải.
  8. GS. TSKH. Đặng Ứng Vận, Hiệu trưởng Trường Đại học Hòa Bình.
  9. GS. TS. Nguyễn Xuân Yêm, Thiếu tướng, Giám đốc Học viện Cảnh sát Nhân dân.
  10. GS. TS. Nguyễn Văn Đĩnh, Viện trưởng Viện Đào tạo sau đại học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.
  11. GS. TS. Nguyễn Ngọc Thanh, Trung tướng, Học viện Quốc phòng.
  12. GS. TS. Nguyễn Văn Nam, Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
  13. GS. TSKH. Đào Trí Úc, Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Khoa học xã hội Việt Nam.
  14. GS. TS. Từ Quang Hiển, Giám đốc Đại học Thái Nguyên.
  15. GS. TSKH. Trần Ngọc Thêm, Chủ nhiệm Khoa, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.
  16. GS. TSKH. Vũ Quang Côn, Viện Sinh thái tài nguyên sinh học, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
  17. GS. TSKH. Vũ Minh Giang, Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội.
  18. GS. TS. Đào Xuân Học, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
  19. GS. TSKH. Hoàng Kiếm, Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ thông tin, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.
  20. GS. TSKH. Hà Huy Khoái, Viện Toán học, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
  21. GS. TS. Lê Hữu Nghĩa, Giám đốc Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.
  22. GS. TS. Trần Thị Thu Hà, Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam.
  23. GS. TS. Lê Chí Quế, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
  24. GS. TS. Bạch Thành Công, Chủ nhiệm Khoa Vật lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội.
  25. GS. TSKH. Nguyễn Văn Liên, Bộ Xây dựng.
  26. GS. TS. Phạm Gia Khánh, Học viện Quân y.

Một số cựu thành viên của hội đồng[sửa | sửa mã nguồn]

Ý kiến/Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Theo GS Hoàng Tụy:"Trước hết, có một tiến bộ đáng ghi nhận là cách gọi học hàm GS thành chức danh GS. Thật ra, chỉ có ở nước ta và cũng chỉ từ giữa năm 80 trở đi mới coi GS là phẩm hàm để phong thưởng, chứ các nước khác, GS là chức vụ khoa học, với nội dung chức trách cụ thể, cần tuyển chọn người đủ năng lực để đảm nhiệm. Sự khác biệt không chỉ ở ngôn từ, mà ở mục đích và nội dung công việc. Do quan niệm học hàm theo kiểu phong kiến nên nhiều người chỉ có chức quyền dễ dàng được phong GS, cho dù chẳng có trình độ gì.[4].

Chức danh giáo sư cần được cải cách theo tiêu chuẩn quốc tế.[5]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Nguyễn Ngọc Điệp, Vài nét về phong hàm giáo sư, phó giáo sư ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học giáo dục Biên phòng sô 4; 9-2008
  2. ^ “TIÊU CHUẨN CÁC CHỨC DANH GS, PS VÀ CÁC QUY ĐỊNH, VỀ XÉT CÔNG NHẬN CÁC CHỨC DANH GS, PHÓ GIÁO SƯ” (Microsoft Word Document). Trích hội nghị Tập huấn công tác xét công nhận chức danh giáo sư, phó giáo sư (06/2006) (bằng Tiếng Việt). Đại học Cần Thơ. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2008. 
  3. ^ Giới thiệu Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước
  4. ^ 1/3 giáo sư, phó giáo sư "xứng đáng" bị miễn nhiệm chức danh
  5. ^ http://tuoitre.vn/Giao-duc/425452/Chuc-danh-%E2%80%9Cgiao-su%E2%80%9D-can-cai-cach.html

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]