Trần Đại Quang

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trần Đại Quang
Chức vụ
Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương
Nhiệm kỳ 19 tháng 1, 2011 – 
Khu vực Hà Nội
Bộ trưởng Bộ Công an
Trưởng ban Ban Chỉ đạo Tây Nguyên
Nhiệm kỳ 3 tháng 8, 2011 – nay
&0000000000000003.0000003 năm, &0000000000000137.000000137 ngày
Tiền nhiệm Lê Hồng Anh
Kế nhiệm Đương niệm
Khu vực Hà Nội
Quân hàm Đại tướng
Phó Chủ tịch thường trực Ủy ban Phòng chống HIV/AIDS
Nhiệm kỳ 3 tháng 8, 2011 – nay
&0000000000000003.0000003 năm, &0000000000000137.000000137 ngày
Tiền nhiệm Lê Hồng Anh
Thông tin chung
Đảng phái Đảng Cộng sản Việt Nam
Sinh 12 tháng 10, 1956 (58 tuổi)
Quang Thiện, Kim Sơn, Ninh Bình
Nơi ở Hà Nội
Dân tộc Kinh
Trang web Cổng Thông tin điện tử Bộ Công an

Trần Đại Quang (sinh 12 tháng 10 năm 1956 tại xã Quang Thiện, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình) là một chính khách, tướng lĩnh Công An Nhân Dân Việt Nam với quân hàm Đại tướng; Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X. Bộ trưởng Bộ Công an [1], Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Trưởng ban chỉ đạo Tây Nguyên[2]. Ông là Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XIII.

Tiểu sử và quá trình công tác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Học hàm, học vị: Giáo sư – Tiến sỹ
  • Ủy viên Trung ương Đảng khóa X, XI
  • Ủy viên Bộ Chính trị khóa XI
  • Đại biểu Quốc hội khóa XIII

Quá trình công tác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Từ tháng 7 năm 1972 đến tháng 10 năm 1972: học viên trường Cảnh sát Nhân dân
  • Từ tháng 10 năm 1972 đến tháng 10 năm 1975: học viên Trường Văn hóa Ngoại ngữ Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an)
  • Từ tháng 10 năm 1975 đến tháng 11 năm 1976: cán bộ Cục Bảo vệ chính trị I, Bộ Nội vụ.
  • Từ tháng 12 năm 1978 đến tháng 9 năm 1982: cán bộ Cục Bảo vệ chính trị II, Bộ Nội vụ
  • Từ tháng 9 năm 1982 đến tháng 6 năm 1987: Phó trưởng phòng Nghiệp vụ, Cục Bảo vệ chính trị II, Bộ Nội vụ; học Đại học An ninh (1981 - 1986).
  • Từ tháng 6 năm 1987 đến tháng 6 năm 1990: Trưởng phòng Tham mưu, Trưởng phòng nghiệp vụ, Cục Bảo vệ chính trị II, Bộ Nội vụ; học lý luận cao cấp tại Học viện Nguyễn Ái Quốc (10 năm 1989-4 năm 1991)
  • Từ tháng 6 năm 1990 đến tháng 9 năm 1996: Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Cục trưởng Cục Tham mưu An ninh rồi Phó Cục trưởng phụ trách Cục Tham mưu An ninh, Tổng cục An ninh; học Đại học Luật Hà Nội (1991-1994)
  • Từ tháng 9 năm 1996 đến tháng 10 năm 2000: Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Tổng cục An ninh, Bí thư Đảng ủy, Cục trưởng Cục Tham mưu An ninh, nghiên cứu sinh tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (1994-1997)
  • Từ tháng 10 năm 2000 đến tháng 4 năm 2006: Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, Bộ Công an, Thiếu tướng (2003); được phong hàm phó Giáo sư năm 2003
  • Từ tháng 4 năm 2006 đến tháng 1 năm 2011: Trung tướng (4 năm 2007), Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Thứ trưởng Bộ Công an; được phong hàm Giáo sư năm 2009. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần X của Đảng Cộng sản thì được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng.
  • Từ tháng 1 năm 2011 đến tháng 12 năm 2011: Trung tướng, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Thứ trưởng Bộ Công an. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần XI của Đảng được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng, được Trung ương bầu vào Bộ Chính trị; đại biểu Quốc hội khóa XIII. Tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội Khóa XIII, được Quốc hội phê chuẩn làm Bộ trưởng Bộ Công an.[3]
  • Ngày 30 tháng 8 năm 2011: được Bộ Chính trị chỉ định là Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương nhiệm kỳ 2010-2015.
  • Ngày 5 tháng 12 năm 2011: được Chủ tịch nước phong hàm Thượng tướng Công an Nhân dân.
  • Ngày 29 tháng 12 năm 2012: được Chủ tịch nước phong hàm Đại tướng Công an Nhân dân.[4]

Phong tặng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Huân chương Quân công hạng Nhất (2011).[5]
  • Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhì (2011).[6]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Em trai là Thiếu tướng Trần Quốc Tỏ, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát phòng chống tội phạm - Bộ Công an từ tháng 3/2014 là Phó Bí thư tỉnh ủy Thái Nguyên nhiệm kỳ 2010-2015.

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thiếu tướng, GS.TS Nguyễn Văn Ngọc, Giám đốc Học viện An ninh Nhân dân: "Đó là con người trưởng thành từ người lính, đã trải qua nhiều cương vị công tác và đều trưởng thành; luôn bản lĩnh cao và trí tuệ. Tôi đặc biệt quý anh ấy ở tình cảm gần gũi, bao dung, có trước có sau, là một tấm gương sáng trong hoạt động khoa học và học tập nâng cao trình độ. Bộ trưởng cũng là người rất tâm huyết với việc xây dựng hệ thống lý luận nghiệp vụ Công an."[7]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG, BỘ CHÍNH TRỊ, BAN BÍ THƯ
  2. ^ Bộ trưởng Trần Đại Quang kiểm tra công tác tại Tây Nguyên, Báo Công an nhân dân điện tử, Chủ Nhật, 25/12/2011 - 9:03 AM
  3. ^ Công Gôn - A.Hiếu (8 tháng 5 năm 2011). “Hội nghị bàn giao công tác giữa đồng chí Lê Hồng Anh và đồng chí Trần Đại Quang”. Báo Công an nhân dân điện tử - CAND Online. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2011. 
  4. ^ “Bộ trưởng Công an được thăng hàm đại tướng”. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2012. 
  5. ^ Công Gôn - Việt Hưng (7 tháng 12 năm 2011). “Bộ Công an tổ chức đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh và kỷ niệm 65 năm Ngày truyền thống lực lượng ANND”. Báo Công an nhân dân điện tử - CAND Online. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2011. 
  6. ^ Công Gôn - Đăng Trường (21/12/2011). “Xây dựng lực lượng - nhiệm vụ trọng tâm quyết định mọi thắng lợi”. Báo Công an nhân dân điện tử - CAND Online. Bản gốc lưu trữ 21/12/2011. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2012. 
  7. ^ “Cán bộ An ninh phải rất nhân văn”. CAND. 14 tháng 2 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]