Trương Hòa Bình

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trương Hòa Bình
Chức vụ
Nhiệm kỳ 25 tháng 7, 2007 – nay
&0000000000000006.0000006 năm, &0000000000000363.000000363 ngày
Tiền nhiệm Nguyễn Văn Hiện
Kế nhiệm đương nhiệm
Khu vực Hà Nội
Phó chánh án[1] Đặng Quang Phương
Trần Văn Độ
Trần Văn Tú
Từ Văn Nhũ
Bùi Ngọc Hòa
Tưởng Duy Lượng
Tống Anh Hào
Nguyễn Sơn
Nhiệm kỳ 2006 – 2007
Khu vực Hà Nội
Thông tin chung
Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam
Sinh 13 tháng 4, 1955 (59 tuổi)
Cần Giuộc, Long An
Họ hàng Trương Văn Bang (cha)
Nguyễn Thị Một (mẹ)
Trang web truonghoabinh.com
Binh nghiệp

Trương Hòa Bình (sinh 1955) là một chính trị gia tại Việt Nam. Từ 25 tháng 7 năm 2007, ông là Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao Việt Nam, thành viên ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI, Đại biểu Quốc hội khóa XIIXIII. Ông cũng từng là một cựu sĩ quan Công an Nhân dân Việt Nam, cấp bậc Trung tướng.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên tên ông là Nguyễn Văn Bình, còn gọi là Sáu Đạt, sinh ngày 13 tháng 4 năm 1955, quê tại Long Đước Đông, Cần Giuộc, tỉnh Long An. Cha ông là Trương Văn Bang, nguyên Bí thư Xứ ủy Nam kỳ,Bí thư Sài gòn Gia định...là một trong những Trung đoàn trưởng đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng ở Nam bộ, tham gia cướp chính quyền năm 1945 và khởi đầu kháng chiến chống Pháp tại Miền Đông mà người dân Nam bộ khi đó thường gọi là Bộ đội Ba Bang.

Mẹ ông là Nguyễn Thị Nho (tức Nguyễn Thị Một)[2], Đảng viên Cộng sản trong khoảng năm 1935 - 1936, đã kinh qua các chức vụ Quận ủy viên Cần Giuộc, Thường vụ Tỉnh ủy Tây Ninh, Phó Hội trưởng Hội Phụ nữ miền Đông. Năm 1955, bà được phân công làm Chánh văn phòng Xứ ủy Nam Bộ, giúp việc trực tiếp cho ông Lê Duẩn khi ông Lê Duẩn còn là Bí thư Xứ ủy Nam Bộ. Năm 1959 bà bị Mật vụ Việt Nam Cộng hòa bắt giam, tra tấn nhưng bà vẫn trung thành, khí tiết với Đảng. Sau này, bà là đại biểu Quốc hội tỉnh Long An khóa IV.

Trước năm 1975, ông tham gia cách mạng tại quê nhà và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 15 tháng 11 năm 1973 (chính thức: 15 tháng 8 năm 1974). Năm 1977, ông theo học khoa Xây dựng trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh và tốt nghiệp ngành Công trình Thủy lợi năm 1982. Trong thời gian học Đại học Bách khoa ông là Đảng ủy viên Đảng bộ trường phụ trách công tác sinh viên. Ông bắt đầu thăng tiến kể từ khi chuyển sang ngành an ninh.

Hoạt động trong ngành Công an[sửa | sửa mã nguồn]

Ông bắt đầu công tác tại Phòng An ninh Nội bộ PA 17, Công an Thành phố Hồ Chí Minh, 1985 giữ chức Phó phòng(PA17), tham gia nhiều vụ án lớn tại khu vực phía Nam. 1988 làm Thư ký cho Thứ trưởng Bộ Nội vụ kiêm Giám đốc Công an Thành phố Hồ Chí Minh Lâm Văn Thê. Khi tướng Thê đột ngột mất 1990, ông Bình về chờ công tác khác tại phòng tổ chức Công an Thành phố Hồ Chí Minh. Trong thời gian này, ông học bổ túc và sau đó tốt nghiệp Đại học An ninh Nhân dân; ông được điều về Tổng cục An ninh, giữ chức Cục phó Cục An ninh văn hóa A25 năm 1991, là Cục phó An ninh trẻ tuổi nhất ở thời điểm đó. Tháng 6 năm 1997, sau khi ông Bùi Quốc Huy đương nhiệm Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh được điều động làm Giám đốc Công an Thành phố Hồ Chí Minh, thì ông Bình được điều về làm Phó giám đốc Công an Thành phố Hồ Chí Minh kiêm thủ trưởng Cơ quan An ninh điều tra với quân hàm Thượng tá. Năm 2000, ông được thăng quân hàm Đại tá.

Tháng 4 năm 2001 ông được điều sang làm Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân TP. Hồ Chí Minh. Trong thời gian này, ông thụ lý vụ án Năm Cam,là vụ án mà ông trực tiếp tham gia chỉ đạo điều tra khi làm Thủ trưởng cơ quan An ninh điều tra. Năm 2005 ông được điều trở lại Bộ Công an, giữ chức Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng Lực lượng, hàm Đại tá.

Năm 2006, ông được thăng hàm Thiếu tướng và được bổ nhiệm giữ chức Thứ trưởng Bộ Công an. Chỉ một năm sau, năm 2007, ông được thăng quân hàm Trung tướng.

Tại Đại hội 10 Đảng Cộng sản Việt Nam, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ông Bình là Đại biểu Quốc hội khóa 10, 11 và trúng cử đại biểu Quốc hội khóa 12 tại Long An với tỷ lệ phiếu 71%. Ngày 25 tháng 7 năm 2007, ông được bầu giữ chức Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao Việt Nam.

Theo trang web của Quốc hội Việt Nam thì trình độ học lực của ông là Tiến sĩ Luật học, Cao học khoa học lịch sử, Đại học Bách khoa (khoa Công trình Thủy lợi)[3].

Trong nghị quyết Số: 373/NQ-HĐBC ngày 24 tháng 4 năm 2007 của Hội đồng bầu cử công bố danh sách người ứng cử Đại biểu QH khóa XII thì ông có trình độ học vấn là Tiến sĩ Luật. Tuy nhiên, cũng Nghị quyết của cơ quan này sau 4 năm (Nghị quyết Số: 351 /NQ-HĐBC ngày 26/4/2011) khi công bố người ứng cử Quốc hội khóa XIII thì học vị của ông đã lùi một bậc và chỉ còn là Thạc sĩ Luật.

Học vấn[sửa | sửa mã nguồn]

Thưở nhỏ khi Cha cùng 2 người anh lớn đi tập kết, Mẹ hoạt động cách mạng tại Sài gòn rồi bị bắt, tù đày chuồng cọp Côn đảo hàng chục năm, ông cùng chị ruột là Trương Thu Tâm (tức Trương Ngọc Thủy) được người dì ruột thường gọi Má Năm nuôi dưỡng rồi theo anh em bạn bè ra chiến khu khi còn ở tuổi thiếu niên,sau đó hoạt động phong trào học sinh sinh viên Sài gòn cùng Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Hiếu Đằng, Lê Thanh Hải...Chị ông, bà Trương Ngọc Thủy cũng tham gia lưc lượng Biệt động Sài Gòn đầy huyền thoại.

Sau năm 1973 ông được đưa ra Miền Bắc học trường An Ninh Nội Chính Miền Nam tại Vĩnh Yên. Tháng 4-1975 ông về Sài gòn công tác tại Sở Công an tpHCM và đươc tổ chức cho đi học tiếp phổ thông tại trường Marie Curie, tp HCM, tốt nghiệp phổ thông năm 1977 rồi thi đậu vào Đại học Bách khoa tpHCM khoa Công trình Thủy cùng năm. Năm 1982 ông tốt nghiệp với bằng Kỹ sư hệ Chính qui về công tác tại Công an tpHCM.

Sau đó ông theo học khóa đào tạo của Học viện An ninh tổ chức tại Hà nội và tp HCM với học vị Thạc Sĩ Luật. Trong thời gian công tác tại Cục An ninh Nội bộ và Van Hóa tư tưởng ông theo học và lấy thêm bằng Cao học Sử tại Đại học Tổng hợp tp HCM.


Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]