Tân Bình

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quận Tân Bình
Quận
VN-F-HC-QTB position in city core.png
Vị trí Quận trong địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Địa lý
Tọa độ: 10°48′13″B 106°39′3″Đ / 10,80361°B 106,65083°Đ / 10.80361; 106.65083Tọa độ: 10°48′13″B 106°39′3″Đ / 10,80361°B 106,65083°Đ / 10.80361; 106.65083
Diện tích 22 km2[1]
Dân số (2010)  
 Tổng cộng 430.436 người[1]
 Mật độ 19.233 người/km2[1]
Dân tộc Kinh, Hoa...
Hành chính
Quốc gia  Việt Nam
Vùng Đông Nam Bộ
Thành phố Hồ Chí Minh
 Chủ tịch UBND Thái Thị Dư
Phân chia hành chính gồm 15 phường
Mã hành chính 766[2]
Website Quận Tân Bình

Tân Bình là một quận trong 24 quận huyện của Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam. Quận Tân Bình có địa lý bằng phẳng, cao trung bình là 4–5 m, cao nhất là khu sân bay khoảng 8 – 9 m, trên địa bàn còn có kênh rạch và còn đất nông nghiệp.

Nhà ga nội địa

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Tân Bình là một quận nội thành nằm ở Tây Bắc Thành phố Hồ Chí Minh.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn quận có tổng cộng 15 phường mang số từ 1 đến 15:

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Tân Bình được Nguyễn Hữu Cảnh đặt tên cho vùng đất phương Nam mới khai phá. Lúc đó, Tân Bình là huyện duy nhất của dinh Phiên Trấn, phủ Gia Định. Một thời gian sau đó sau được nâng lên thành phủ thuộc trấn Phiên An.

Năm 1836 trở thành vùng đất của tỉnh Gia Định. Năm 1957 trở thành quận của tỉnh Gia Định. Sau ngày giải phóng, Tân Bình trở thành quận của Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1977 quận có 26 phường, diện tích 38,5 km2.

Lầu 3 nhà ga quốc tế sân bay Tân Sơn Nhất

Năm 1988 sáp nhập lại còn 20 phường (đánh số thứ tự từ 1 đến 20). Ngày 05 tháng 11 năm 2003, tách phần phía Tây lập quận Tân Phú theo Nghị định 130/2003/NĐ-CP của Chính Phủ[3].

Đặc điểm chung[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quận Tân Bình có diện tích 22,38 km², bao gồm 15 phường (từ 1–15), nằm bên phía tây của sông Sài Gòn, xung quanh giáp liền với các quận 3, quận 10, quận 11, quận 12, quận Tân Phú, quận Gò Vấpquận Phú Nhuận.
  • Phía Bắc của quận là sân bay quốc tế lớn nhất của Việt Nam, sân bay Tân Sơn Nhất. Nó cũng là sân bay có nhiều chuyến bay mỗi năm nhất.[4]
  • Tân Bình có các trường tiểu học như Bình Giã, Bành Văn Trân, Nguyễn Viết Xuân, Đống Đa, Trần Văn Ơn, Trần Quốc Toản,Tân Sơn Nhất,...; các trường thpt là Nguyễn Thượng Hiền và Nguyễn Thái Bình, Nguyễn Chí Thanh, Lý Tự Trọng; các trường Trung học cơ sở là Nguyễn Gia Thiều, Quang Trung, Ngô Sĩ Liên, Phạm Ngọc Thạch, Hoàng Hoa Thám, Tân Bình, Ngô Quyền, Trường Chinh...
  • Quận có một chợ mang cùng tên là chợ Tân Bình nằm giữa đường Tân Tiến với Lý Thường Kiệt. Chợ Tân Bình có 9 cửa gồm 4 cửa lớn và 5 cửa nhỏ. Ngoài ra quận Tân Bình còn có nhiều chợ lớn nhỏ khác như chợ Phạm Văn Hai, chợ Hoàng Hoa Thám

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Quầy đăng ký đi máy bay (check-in)

Quận Tân Bình là một trong những quận có nền kinh tế mạnh và tích cực. Nó có nhiều xu hướng phát triển cao và luôn đáp ứng đúng nhu cầu phát triển của các thành phần kinh tế cần thiết.[5] Mỗi năm dịch vụ và giá trị sản xuất công nghiệp của quận đạt mức tăng trưởng 29,68%, vượt chỉ tiêu so với Nghị quyết Đại hội Đảng bộ quận đề xuất từ 20-25%. Tổng số tiền đầu tư của các doanh nghiệp lớn, nhỏ và tư nhân đặt tới 5.587 tỷ đồng.[5] Từ nhiều năm qua, quận Tân Bình đã và đang tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư lớn tham gia xây dựng các trung tâm thương mại và khu vui chơi lớn như Parkson Plaza, Trung tâm Thương mại - Văn hóa Lạc Hồng...[5] Quận còn quan tâm đến một số hoạt động trang hoàng, chỉnh tu lại quận như nâng cấp các vỉa hè và trồng cây xanh. Quận còn thúc đẩy mạnh các dịch vụ du lịch để thu hút nhiều khác du lịch trong và ngoài nước.[5] Đồng thời quận kiên quyết đấu tranh bài trừ các tệ nạn xã hội.[5]

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Quận còn có nhiều di tích lịch sử tôn giáo như: công viên Hoàng Văn Thụ, chùa Viên Giác, chùa Phổ Quang, chùa Hải Ấn, chùa Hải Quảng, chùa Phước Thạnh, chùa Giác Lâm, chùa Ân Tông, chùa Bửu Lâm Tịnh Uyển,...

Về dân tộcdân tộc Kinh chiếm 93,33%; Hoa 6,38%; Khmer 0,11%; các dân tộc khác là Tày 0,05%, Thái 0,01%, Nùng 0,03%, Mường 0,02%, Chăm 0,02% và người nước ngoài...

Về tôn giáo Phật giáo chiếm 19,62%, Công giáo 22,9%, Tin lành 0,37%, Cao đài 0,4%, Hòa Hảo 0,01; Hồi giáo 0,02%, không có đạo chiếm 56,68%[6]. Toàn quận có 140 cơ sở tôn giáo trong đó, Phật giáo 74, Công giáo 60, Tin lành 4, Cao đài 2.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Dân số và mật độ dân số năm 2010 phân chia theo quận, huyện, Theo Cục Thống kê thành phố Hồ Chí Minh.
  2. ^ “Mã số đơn vị hành chính Việt Nam”. Bộ Thông tin & Truyền thông. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2012. 
  3. ^ Nghị định số 130/2003/NĐ-CP ngày 05 tháng 11 năm 2003
  4. ^ Tạp chí Hàng không, số tháng 10 năm 2007 của Cục hàng không dân dụng Việt Nam, trong bài Có nên xây sân bay quốc tế mới ở tỉnh Hải Dương?
  5. ^ a ă â b c “KINH TẾ”. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2012. 
  6. ^ Theo số liệu tổng điều tra dân số 1999.