Lăng Cha Cả

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chính diện lăng xưa
Lăng Cha Cả nay là vòng xoay giao thông, ở giữa đặt quả địa cầu lớn

Lăng Cha Cả là ngôi mộ của Giám mục Bá Đa Lộc (tục gọi là "Cha Cả", tức Pierre Joseph Georges Pigneau de Béhaine). Ngôi mộ xưa là một di tích lịch sử ở vùng Sài Gòn. Lăng Cha Cả còn được dùng gọi khu vực gần mộ, nay là phường 2, quận Tân Bình.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Giám mục Bá Đa Lộc mất năm 1799Thị Nại trong trận vây thành Quy Nhơn. Vì được vua Gia Long trọng vọng, coi là "Giám mục Thượng sư", ông được đưa về an táng ở gần ngôi nhà cũ tỉnh Gia Định. Khu vực đó là khu Vườn Xoài, Tân Sơn Nhứt phía tây bắc Sài Gòn.

Triều đình giao việc xây mộ cho linh mục Barthélémy Sang. Tuy Giám mục Bá Đa Lộc là người Pháp, nhưng kiến trúc mộ ông theo kiểu Việt Nam, có bình phong, bái đường và hậu cung. Lăng Cha Cả là khu đất rộng khoảng 2000 m2, gồm một nhà lợp ngói, cột và vách bằng gỗ quý, ở trước có bia đá lớn [1].

Khu Tân Sơn Nhứt sang thế kỷ 20 xây cất lên, hoà nhập vào khu ngoại ô Sài Gòn. Xế về phía bắc lăng là phi trường quốc tế Tân Sơn Nhứt và Bộ Tổng tham mưu Việt Nam Cộng hòa. Về phía tây là bến xe lớn. Với những thay đổi đó ngôi lăng bị thu hẹp lại làm điểm tròn nằm lọt giữa đường Võ Tánh. Tuy vậy khu mộ được giữ gìn đến hết thời Việt Nam Cộng hòa.

Sang năm 1980, Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra lệnh giải tỏa, đến năm 1983, thì việc cải táng hoàn tất. Di hài của Giám mục Bá Đa Lộc được giao lại cho tổng lãnh sự Pháp đưa về Pháp. Mấy nếp nhà cũ bị san bằng. Còn lại là điểm tròn làm vòng xoay (bùng binh) lưu thông trên đường Hoàng Văn Thụ ngày nay. Tại đây, một cầu vượt thép được khởi công vào ngày 5 tháng 2 năm 2013.

Kiến trúc[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Phạm Quỳnh nhân chuyến du ngoạn Nam Kỳ năm 1918 thì Lăng Cha Cả được mô tả như sau:

Lăng xây kín như kiểu một cái đình lối ta. Chính mộ Ca Cả là cái sập đá to ở giữa, xung quanh đặt cửa bức bàn. Hai cái mộ nhỏ hai bên thì bên tả là mộ cha Charbonnier, bên hữa là mộ cha Miche, mới phụ-táng về sau. Trong đình trước mộ có tấm bia đá kỷ-niệm cái công-đức của Cha Cả...

Sau lưng lăng Cha Cả có cái mộ-địa chôn các cố đạo.[2]

Thông tin thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Theo bài viết Bá Đa Lộc, mộ ông hiện nay ở đâu? của Vương Gia Bật, đăng tải trên Nam Phong tạp chí vào tháng 2 năm 1925[3] thì Giám mục Bá Đa Lộc được chôn lần đầu tại Nha Trang.

Tóm lược theo lời kể của tác giả bài viết:

Làng Ngọc Hội, cách thành phố Nha Trang ba cây số có một ngôi mộ và một cái miếu nhỏ. Hai bên miếu có khắc hai con rồng và hai câu đối bằng chữ Hán:

Minh tâm thù đại đức,
Khắc cốt báo thâm ân.
Tro của Bá Đa Lộc hiện được lưu tại Pháp.

Ở giữa đôi rồng có đề “Bá Đa Lộc chi mộ”, cũng bằng chữ Hán. Và ở phía sau ngôi miếu này, có khắc một cây thánh giá. Ngay sau ngôi miếu là một bức bình phong. Mặt tiền bức bình phong có khắc hình hai con chim phượng, hai câu đối và mấy dòng chữ Hán:

Thượng đế nhơn từ cứu hạt Bá Đa Lộc linh hồn kim dĩ văn thế khiết thăng thiên quốc hưởng chân phước vô cùng.

Ở mặt hậu bức bình phong cũng có khắc hai câu đối và một bài thơ chữ Hán, theo thể thất ngôn luật Đường.

Sau khi Nam Phong tạp chí đăng tải nghi vấn trên, ngày 13 tháng 3 năm 1925, quan công sứ và linh mục nhà thờ Bình Can (Nha Trang) đã cho khai quật mộ để xét. Đào thấu bên dưới, thì chỉ góp nhặt được một ít xương mục, một cái hàm còn dính ba cái răng và hai, ba cái răng khác nữa đã rơi ra ngoài...Đăng lại đoạn tin này, Phan Thứ Lang, tác giả Sài Gòn vang bóng, nêu giả thuyết:

Thời đó, Nguyễn Ánh còn phải chống đỡ nhà Tây Sơn, nên rất có thể sợ Tây Sơn có ngày chiến thắng, khiến ông phải bôn tẩu lần nữa. Vì vậy việc chôn cất Bá Đa Lộc phải giấu kín, cho làm đám tang Bá Đa Lộc thật lớn và cho dựng lăng ở Gia Định để đánh lạc hướng. Mãi đến năm 1925, người Pháp mới đem chút xương cốt còn lại của Ba Đa Lộc từ ngôi mộ thực ở Nha Trang về cải táng nơi lăng ở Gia Định.[4]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Theo Lăng Cha Cả (Bá Đa Lộc): Thực và hư
  2. ^ Phạm Quỳnh. Hành trình nhật ký': mười ngày ở Huế, một tháng ở Nam Kỳ, Pháp du hành trình nhật ký. Yerres: Ý Việt, 1997. tr 117-8.
  3. ^ Nam Phong tạp chí, số quyển XVI, 92, phát hành tháng 2 năm 1925, tr. 157-160.
  4. ^ Phan Thứ Lang, Sài Gòn vang bóng, Nxb TP. HCM, 2001, tr. 47-49.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]