Gia Định (tỉnh)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Gia Định (chữ Hán: 嘉定(省)) là tên một tỉnh cũ nay thuộc địa phận hành chính của Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Bình Dương, Long An, Tây Ninh.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Gia Định trong bản đồ Nam Kỳ Lục Tỉnh giai đoạn (1832-1862).
Hành chính tỉnh Gia định trong bản đồ hành chính Nam Kỳ Lục tỉnh (Basse Cochinchine) năm 1863.
Bản đồ các tỉnh Gia Định, Định TườngBiên Hòa trong bản đồ hành chính Cochin Chine khu vực thuộc Pháp kiểm soát năm 1863 (Basse Cochinchine Francaise) và trước đó là Nam Kỳ Lục tỉnh năm 1859 (Basse Cochinchine). (Henri Rieunier (1833-1918) vẽ năm 1863.)
Tỉnh Gia Định trong bản đồ Nam Kỳ Lục tỉnh (Basse Cochinchine).
Bản đồ xứ Nam Kỳ 1872 (thời Pháp Thuộc) với sáu tỉnh: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên (vẽ theo hành chính thời nhà Nguyễn độc lập).
Ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường) năm 1865, thời Pháp xâm chiếm miền Đông.
Tỉnh Gia Định nhà Nguyễn và việc chia tách kết thúc tồn tại của tỉnh này đầu thời Pháp thuộc.

Tỉnh được thành lập vào năm Minh Mạng thứ 13 (1832) trên cơ sở chia cắt Gia Định thành thành sáu tỉnh: Biên Hoà, Gia Định (ban đầu tên là tỉnh Phiên An (1832-1835)), Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, thường gọi là "Nam Kỳ lục tỉnh". Theo Hiệp ước Nhâm Tuất năm 1862, tỉnh bị cắt nhượng cho Pháp cùng với Biên HòaĐịnh Tường.

Theo Đại Nam nhất thống chí, thì tỉnh Gia Định nhà Nguyễn thời vua Tự Đức (1847-1862) gồm 3 phủ với 9 huyện là:

  • Phủ Tân Bình
  • huyện Bình Dương có 6 tổng: Dương Hòa Hạ, Dương Hòa Thượng, Dương Hòa Trung, Bình Trị Hạ, Bình Trị Thượng, Bình Trị Trung.[1]
  • huyện Bình Long
  • huyện Tân Long
  • Phủ Tân An
  • huyện Cửu An, phía Bắc giáp huyện Quang Hóa phủ Tây Ninh, phía Đông giáp huyện Phúc Lộc cùng phủ Tân An, phía Nam giáp huyện Kiến Hòa phủ Kiến An tỉnh Định Tường, phía Tây giáp huyện Kiến Hưng phủ Kiến An tỉnh Định Tường.
  • huyện Phúc Lộc
  • huyện Tân Hòa, năm 1863, có 4 tổng: Hòa Đồng Thượng (có 6 thôn), Hòa Đồng Hạ (có 8 thôn), Hòa Lạc Thượng (có 7 thôn), Hòa Lạc Hạ (có 10 thôn). Huyện Tân Hòa bao gồm vùng Gò Công tỉnh Tiền Giang ngày nay.[2]
  • huyện Tân Thịnh
  • Phủ Tây Ninh: phía Bắc giáp Cao Miên (qua núi Chiêng, tức núi Bà Đen), phía Đông giáp huyện Bình Long phủ Tân Bình, phía Nam giáp huyện Bình Dương phủ Tân Bình và huyện Cửu An phủ Tân An, nguyên là đạo Quang Phong. Năm Minh Mạng thứ 19 (1838), bỏ đạo lập phủ với tên gọi phủ Tây Ninh, quản lý 2 huyện (với 7 tổng có 56 làng xã):
  • huyện Tân Ninh, lỵ sở kiêm phủ thành nằm ở thôn Khang Ninh (nay thuộc thị xã Tây Ninh), phía Bắc giáp Cao Miên (qua núi Chiêng), phía Đông giáp giáp huyện Bình Long phủ Tân Bình, phía Nam giáp huyện Bình Long phủ Tân Bình và huyện Quang Hóa cùng phủ Tây Ninh, phía Tây giáp huyện huyện Kiến Hưng tỉnh Định Tường và giáp nước Cao Miên. Huyện Tân Ninh, được đặt ra năm Minh Mạng thứ 17 (1836), theo Đại Nam nhất là quản lý 2 tổng (nhưng có lẽ là 3 tổng), là tổng Hàm Ninh Thượng và tổng Kiếm Hoa với 24 làng xã[3]. Phần đất huyện Tân Ninh phủ Tây Ninh nhà Nguyễn nay có thể là địa phận phía Bắc của tỉnh Tây Ninh ngày nay (tức năm 2011) (thị xã Tây Ninh, huyện Tân Biên, huyện Châu Thành,...), và có thể bao gồm cả 1 phần đất phía Bắc của tỉnh Svay Rieng (khúc giữa tỉnh Svay Rieng) Campuchia, vì mô tả trên theo Đại Nam nhất thống chí: Tân Ninh còn tiếp giáp với cả huyện Kiến Hưng phủ Kiến An tỉnh Định Tường nhà Nguyễn, vốn chỉ nằm bên bờ Tây sông Vàm Cỏ Tây, cách địa bàn tỉnh Tây Ninh ngày nay (phần từng là đất huyện Tân Ninh) qua địa bàn tỉnh Svay Rieng. Năm 1890, sau khi lập Liên bang Đông Dương, người Pháp trích một phần đất hạt Tây Ninh (hạt Tây Ninh nguyên là toàn bộ phủ Tây Ninh) là phần đất dọc theo rạch Ngã Bát cho Campuchia thuộc Pháp[4], trong đó có lẽ gồm cả phần đất tỉnh Svay Rieng (tức tỉnh Soài Riêng) đề cập đến ở trên. Các bản đồ của người Pháp thể hiện xứ Nam Kỳ thuộc Pháp, vẽ với kỹ thuật Tây phương khá chính xác, vào các năm 18721886 (trước khi thành lập Liên bang Đông Dương năm 1887) đều thể hiện "vùng lồi" Svay Rieng thuộc đất Nam Kỳ (Cochinchine).
  • huyện Quang Hóa, phía Bắc giáp huyện Tân Ninh cùng phủ Tây Ninh, phía Đông giáp huyện Tân Ninh, phía Nam giáp huyên Tân Ninh và huyện Cửu An phủ Tân An, phía Tây giáp huyện Kiến Hưng phủ Kiến An tỉnh Định Tường nhà Nguyễn. Lỵ sở trước đặt ở thôn Cẩm Giang sau chuyển sang thôn Long Giang, quản lý 4 tổng (Hàm Ninh Hạ (Ham Ninh Ha tong), Mộc Hóa (Moc Hoa tong), Giải Hóa (Giải Hoa tong), Mỹ Ninh (Mi Nin tong)) với 32 làng xã[3]. Đất huyện Quang Hóa phủ Tây Ninh nhà Nguyễn nay có thể là địa phân các huyện phía Nam tỉnh Tây Ninh (như Bến Cầu, Gò Dầu, Trảng Bàng,...), các huyện Đông Bắc tỉnh Long An (như Đức Huệ, Hậu Nghĩa, Mộc Hóa[5],...) và phần phía Nam của tỉnh Svay Rieng Campuchia[4].

Thời Pháp thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ Nam Kỳ thuộc Pháp năm 1884, khu vực nằm giữa đường biên giới với Campuchia (Frontière Franco-Cambodgienne) và với đường biên giới với An Nam (Frontière Franco-Annamite). Vùng lồi Svay Rieng (trong bản đồ ghi chú là (Khet[6]) Svai Teep vẫn nằm trong ranh giới Nam Kỳ thuộc Pháp (ở phía đông đường Frontière Franco-Cambodgienne) mà chưa được cắt cho Campuchia.
Nam Kỳ thuộc Pháp (Basse Cochinchine Francaise) khoảng năm 1881, nhưng vẽ theo hành chính của Nam Kỳ Lục tỉnh nhà Nguyễn (Basse CochinChine) trước năm 1861. Vùng bờ bắc kênh Vĩnh Tế (thuộc các tỉnh An GiangHà Tiên cũ) và vùng lồi Svay Rieng (trước là vùng rừng Quang Hóa phủ Tây Ninh tỉnh Gia Định, mà Pháp chưa chiếm được vào thời điểm năm 1861-1863) đều được cắt trả về cho lãnh thổ vương quốc Campuchia thuộc Pháp.
(Khet) Svai Teep (Soài Tiếp-Soài Riêng) năm 1884.

Tháng 12 năm 1889, Pháp chia tỉnh Gia Định thành bốn tỉnh mới: Gia Định, Chợ Lớn, Tân AnTây Ninh.

Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Phân chia hành chánh tỉnh Gia Định 1973. Đô thành Sài Gòn nằm giữa nhưng không phụ thuộc tỉnh Gia Định
Dân số tỉnh Gia Định 1967[7]
Quận Dân số
Bình Chánh 58.153
Cần Giờ 8.374
Gò Vấp 303.374
Hóc Môn 111.644
Nhà Bè 43.721
Quảng Xuyên 7436
Tân Bình 240.147
Thủ Đức 102.243
Tổng số 875.092

Năm 1956, dưới thời Việt Nam Cộng hòa, Gia Định là một trong 22 tỉnh của Nam phần (tức Nam Bộ), không kể Đô thành Sài Gòn. Năm 1957, tỉnh Gia Định gồm có 6 quận, 10 tổng và 61 xã:

  • Quận Gò Vấp có 1 tổng Bình Trị Thượng; quận lị: Hạnh Thông Xã.
  • Quận Tân Bình có 1 tổng Dương Hòa Thượng; quận lị: xã Phú Nhuận.
  • Quận Hóc Môn có 2 tổng: Bình Thạnh Trung, Long Bình; quận lị: Thới Tam Thôn.
  • Quận Thủ Đức có 2 tổng: An Bình, An Điền; quận lị: Linh Đông Xã.
  • Quận Nhà Bè có 1 tổng Bình Trị Hạ; quận lị: xã Phú Xuân Hội.
  • Quận Bình Chánh có 3 tổng: Long Hưng Thượng, Long Hưng Trung, Tân Phong Hạ; quận lị: xã Bình Chánh.

Năm 1970, Gia Định chia thành 8 quận, ngoài các quận trên còn có:

Năm 1974 tỉnh Gia Định có 8 quận, 74 xã, 351 ấp, với 1.422.653 dân.

Cộng hòa Miền Nam Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 5 năm 1975, tỉnh Gia Định (ngoại trừ 2 quận:Cần Giờ và Quảng Xuyên) được sáp nhập với Đô thành Sài Gòn thêm một phần các tỉnh Long An, Bình Dương, Hậu Nghĩa để trở thành thành phố Sài Gòn-Gia Định. Đến ngày 2 tháng 7 năm 1976 thành phố Sài Gòn-Gia Định được chính thức đổi tên là Thành phố Hồ Chí Minh.

Phân chia hành chánh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1910[sửa | sửa mã nguồn]

1. Tổng An Bình gồm 8 làng: An Phú, Bình Trưng, Bình Lợi, Bình Thạnh, Đông Phú, Phú Thọ, Mỹ Thủy, Tân Lập;

2. Tổng An Điền gồm 9 làng: Linh Chiểu Đông, Linh Chiểu Tây, Linh Chiểu Trung, Bình Qưới Đông, Bình Thới, Bình Thọ, Trường Thọ, Xuân Trường, Xuân Vinh;

3. Tổng An Thành gồm 9 làng: An Thạnh, Hưng Thạnh, Long Tân, Phước Khánh, Phước Trường, Tân Điền, Trường Cửu, Trường Lộc, Tuy Thạnh;

4. Tổng An Thít gồm 5 làng: An Thạnh, Bình Khánh, Khánh Độ, Sài Tân, Vạng Phước;

5. Tổng An Thổ gồm 10 làng: Bình Chánh, Bình Chiểu, Bình Đức, Bình Đường, Bình Phú, Bình Phước, Bình Thủy, Bình Triệu, Đông An, Dĩ An;

6. Tổng An Thủy gồm 14 làng: An Nhơn, Bình Thắng, Bình Thung, Đông Minh, Đông Tác, Đông An, Mỹ Hòa, Ngãi Hòa, Phong Phú, Tân Long, Tăng Phú, Tân Nhơn, Tân Ninh, Tân Qưới;

7. Tổng Bình Thạnh Hạ gồm 16 làng: Mỹ Hòa, Tân Đông Thượng, Tân Đông Trung, Tân Hội, Tân Hưng, Tân Thới Nhứt, Tân Thới Thượng, Thới An, Thới Hòa, Thuận Kiều, Trung Chánh, Trung Chánh Tây, Tân Hưng, Xuân Hòa, Xuân Thới Tây, Vinh Lộc;

8. Tổng Bình Thạnh Trung gồm 17 làng: An Hòa, Bình Lý, Bình Lý Đông, Bình Nhan, Bình Xuân, Hội Thạnh, Mỹ Thạnh, Phú Lợi, Tân Đông, Tân Mỹ Đông, Tân Thạnh Đông, Tân Thạnh Tây, Thạnh Hòa, Thạnh Phú, Thạnh Yên, Thới Thạnh, Thới Thuận;

9. Tổng Bình Trị Hạ gồm 9 làng: Phú Hội, Phú Mỹ Tây, Phước Hải, Phước Long Đông, Phước Thành, Phước Thới, Phú Xuân Đông, Tân Qui Đông, Tân Thuận Đông;

10. Tổng Bình Trị Thượng gồm 15 làng: An Hội, An Lộc, An Lộc Đông, An Nhơn, An Phước, An Thạnh Trung, An Xuân, Bình Hòa, Bình Lợi Trung, Bình Qưới Tây, Hanh Phú, Hanh Thông, Hanh Thông Tây, Qưới An, Thạnh Đa;

11. Tổng Bình Trị Trung gồm 5 làng: An Lợi, An Lợi Đông, Bình Khánh, Phú An, Phú Mỹ;

12. Tổng Cần Giờ gồm 6 làng: Cần Thạnh, Đông Hòa, Long Thạnh, Lý Nhơn, Tân Thạnh, Thạnh Thới;

13. Tổng Dương Hòa Hạ gồm 12 làng: Đức Hưng, Long Kiểng, Long Phước, Long Thạnh Tây, Long Thới, Mỹ Đức, Nhơn Mỹ, Nhơn Ngãi, Phong Lộc, Phú Lễ, Phước Thạnh, Thới Hiệp;

14. Tổng Dương Hòa Thượng gồm 13 làng: Bình Hưng, Bình Hưng Đông, Bình Thới, Hòa Hưng, Phú Nhuận, Phú Thọ, Tân Hòa, Tân Hòa Tây, Tân Sơn Nhì, Tân Sơn Nhứt, Tân Thới, Tân Trụ, Thạnh Hòa;

15. Tổng Long Tuy Hạ gồm 11 làng: Mỹ Khánh, Phước An, Phước Mỹ, Tân Thông, Tân Thông Đông, Tân Thông Tây, Tân Thông Trung, Thái Bình Hạ, Thái Bình Thượng, Trung Lập, Vĩnh An Tây;

16. Tổng Long Tuy Thượng gồm 14 làng: Phước Ninh, Tân Phú Trung, Tân Thới Đông, Tân Thới Nhì, Tân Thới Tam, Tân Thới Tây, Tân Thới Trung, Tân Thới Tứ, Thới Sơn, Thới Tam Đông, Vĩnh Cư, Vĩnh Phước, Xuân Thới, Xuân Thới Đông;

17. Tổng Long Tuy Trung gồm 6 làng: An Nhơn Tây, Mỹ Hưng, Nhuận Đức, Phú Đức, Phú Hòa Đông, Phú Thạnh;

18. Tổng Long Vĩnh Hạ gồm 11 làng: Chí Thạnh, Ích Thạnh, Long Đại, Long Hậu, Long Sơn, Long Tuy, Mỹ Thạnh, Phước Hậu, Phước Thiện, Phước Thới, Vĩnh Thuận.

Năm 1940[sửa | sửa mã nguồn]

1. Quận THỦ ĐỨC có 19 làng:

  • Tổng An Bình có 05 làng: Bình Trưng (sáp nhập Tân Lập vào Bình Trung), Thạnh Mỹ Lợi (hợp nhất Hưng Thạnh, Bình Thạnh, Mỹ Thủy và Bình Lợi), Phú Hữu (hợp nhất Tân Điền, An Thạnh và Tuy Thạnh), An Phú (sáp nhập Đông Phú vào An Phú) và An Khánh Xã (hợp nhất An Lợi Xã, An Lợi Đông và Bình Khánh);
  • Tổng An Điền có 04 làng: Linh Xuân Thôn (hợp nhất Linh Chiểu Trung, Xuân Vinh xà Xuân Trường), Phước Long Xã (hợp nhất Phú Thọ và Bình Thái) và Linh Đông Xã (hợp nhất Linh Chiểu Đông, Linh Chiẻu Tây, Trường Thọ, Bình Thọ và Bình Qưới Đông);
  • Tổng An Thổ có 03 làng: An Bình Xã (hợp nhất Dĩ An và Bình Đường), Hiệp Bình Xã (hợp nhất Bình Thủy, Bình Chánh, Bình Phước và Bình Triệu) và Tam Bình Xã (hợp nhất Bình Đức, Bình Phú và Bình Chiểu);
  • Tổng An Thủy có 04 làng: Bình An, Đông Hòa Xã (hợp nhất Đông Minh và Mỹ Hòa), Tăng Nhơn Phú (hợp nhất Tăng Phú, Tân Nhơn và Phong Phú) và Tân Đông Hiệp (hợp nhất An Nhơn, Tân Ninh, Tân Long, Đông An và Đông Tác);
  • Tổng Long Vĩnh Hạ có 04 làng: Long Thạnh Mỹ (hợp nhất Long Hậu, Chí Thạnh, Ít Thạnh và Mỹ Thạnh), Long Trường (hợp nhất Long Tân, Phước Trường và Trường Lộc), Long Phước Thôn (hợp nhất Trường Cửu, Long Đại, Phước Thới, Phước Khánh và Phước Hậu) và Long Bình (hợp nhất Long Sơn, Long Tuy, Vĩnh Thuận và Phước Thiện);

2. Quận NHÀ BÈ có 19 làng:

  • Tổng Bình Trị Hạ có 05 làng: Phú Mỹ Tây, Phú Xuân Hội (hợp nhất Phú Xuân Đông, Phú Hội và Phước Hải), Phước Long Đông (sáp nhập Phước Thành và Phước Thới vào Phước Long Đông), Tân Quy Đông và Tân Thuận Đông;
  • Tổng Dương Hòa Hạ có 06 làng: Long Kiểng (sáp nhập Long Thạnh Tây vào Long Kiểng), Phước Lộc Thôn (hợp nhất Phước Thạnh và Phong Lộc), Nhơn Đức (hợp nhất Nhơn Ngãi và Mỹ Đức), Long Đức (hợp nhất Long Thới và Đức Hưng), Hiệp Phước (hợp nhất Thới Hiệp và Long Phước) và Phú Lễ;
  • Tổng An Thít có 03 làng: Bình Khánh, An Thới Đông và Tam Thôn Hiệp (hợp nhất An Thạnh, Khánh Độ, Sài Tân và Vạng Phước);
  • Tổng Cần Giờ có 05 làng: Lý Nhơn, Tân Thạnh, Cần Thạnh, Đông Hòa và Long Thạnh;

3. Quận HÓC MÔN có 28 làng:

  • Tổng Bình Thạnh Hạ có 07 làng: Xuân Thới Thượng, Tân Hòa, Mỹ Hòa, Trưng Mỹ Tây, Tân Thới Nhứt, Đông Hưng Thuận và Tân Thới Hiệp;
  • Tổng Bình Thạnh Trung có 07 làng: An Phú, Tân Hòa Thôn, Tân Thạnh Đông, Mỹ Bình, Bình Tân, Nhị Bình và Đông Thạnh;
  • Tổng Long Tuy Thượng có 06 làng: Phước Vĩnh Ninh, Tân Phú Trung, Tân Hiệp, Tân Thới Nhì, Thới Hiệp và Thới Tam Thôn;
  • Tổng Long Tuy Trung có 04 làng: An Nhơn Tây, Nhuận Đức, Phú Hòa Đông và Phú Mỹ Hưng;
  • Tổng Long Tuy Hạ có 04 làng: Tân An Hội, Phước Hiệp, Thái Mỹ và Trung Lập;

4. Quận GÒ VẤP có 14 làng:

  • Tổng Bình Trị Thượng có 08 làng: An Nhơn Xã, An Phú Đông (hợp nhất An Lộc Đông và Hanh Phú), Bình Hòa Xã, Thạnh Lộc Thôn (hợp nhất An Phước, An Thạnh Trung và An Lộc), Hanh Thông Xã, Thạnh Mỹ Tây (hợp nhất Thạnh Đa, Bình Qưới Tây, Phú Mỹ và Phú An), Thông Tây Hội (hợp nhất Hanh Thông Tây và An Hội) và Quới Xuân (hợp nhất Qưới An và An Xuân);
  • Tổng Dương Hòa Thượng có 06 làng: Bình Hưng Hòa (hợp nhất Bình Hưng, Bình Hưng Đông và Thới Hòa), Phú Nhuận, Phú Thọ Hòa (hợp nhất Phú Thọ, Tân Hòa và Tân Hòa Tây), Tân Sơn Hòa (hợp nhất Tân Sơn Nhứt và Thạnh Hòa), Tân Sơn Nhì (sáp nhập Tân Thới và Tân Trụ vào Tân Sơn Nhì) và Vĩnh Lộc.

Năm 1955[sửa | sửa mã nguồn]

1. Quận THỦ ĐỨC có 19 làng:

  • Tổng An Bình có 05 làng: Bình Trưng, Thạnh Mỹ Lợi, Phú Hữu, An Phú và An Khánh Xã;
  • Tổng An Điền có 04 làng: Linh Xuân Thôn, Phước Long Xã, Linh Đông Xã và Tăng Nhơn Phú;
  • Tổng An Thổ có 03 làng: An Bình Xã, Hiệp Bình Xã và Tam Bình Xã;
  • Tổng An Thủy có 03 làng: Bình An, Đông Hòa Xã và Tân Đông Hiệp;
  • Tổng Long Vĩnh Hạ có 04 làng: Long Thạnh Mỹ, Long Trường, Long Phước Thôn và Long Bình;

2. Quận NHÀ BÈ có 11 làng:

  • Tổng Bình Trị Hạ có 05 làng: Phú Mỹ Tây, Phú Xuân Hội, Phước Long Đông, Tân Quy Đông và Tân Thuận Đông;
  • Tổng Dương Hòa Hạ có 06 làng: Long Kiểng, Phước Lộc Thôn, Nhơn Đức, Long Đức, Hiệp Phước và Phú Lễ;

3. Quận HÓC MÔN có 27 làng:

  • Tổng Bình Thạnh Trung có 07 làng: Đông Hưng Thuận, Tân Đông Thượng, Đông Thạnh, Nhị Bình, Tân Thới Hiệp, Thới Tam Thôn và Trung Mỹ Tây;
  • Tổng Long Bình có 06 làng: Tân Hiệp, Tân Thới Nhứt, Tân Thới Nhì, Tân Thới Trung, Xuân Thới Sơn và Xuân Thới Thượng;
  • Tổng Long Tuy Thượng có 06 làng: Phước Vĩnh Ninh, Tân Phú Trung, Bình Mỹ, Tân Hòa, Tân Thạnh Đông và Trung An;
  • Tổng Long Tuy Trung có 04 làng: An Nhơn Tây, Nhuận Đức, Phú Hòa Đông và Phú Mỹ Hưng;
  • Tổng Long Tuy Hạ có 04 làng: Tân An Hội, Phước Hiệp, Thái Mỹ và Trung Lập;

4. Quận GÒ VẤP có 15 làng:

  • Tổng Bình Trị Thượng có 08 làng: An Nhơn Xã, An Phú Đông, Bình Hòa Xã, Thạnh Lộc Thôn, Hanh Thông Xã, Thạnh Mỹ Tây, Thông Tây Hội và Quới Xuân;
  • Tổng Dương Hòa Thượng có 07 làng: Bình Hưng Hòa, Phú Nhuận, Phú Thọ Hòa, Tân Hòa, Tân Sơn Hòa, Tân Sơn Nhì và Vĩnh Lộc.

Năm 1974[sửa | sửa mã nguồn]

1. Quận BÌNH CHÁNH gồm 15 xã: An Lạc, An Phú, An Phú Tây, Bình Chánh, Bình Hưng, Bình Trị Đông, Đa Phước, Hưng Long, Phong Đước, Qui Đức, Tân Kiên, Tân Nhựt, Tân Quý Tây, Tân Tạo, Tân Túc;

2. Quận CẦN GIỜ gồm 5 xã: Cần Thạnh, Đồng Hòa, Long Thạnh, Thạnh An, Tân Thạnh;

3. Quận GÒ VẤP gồm 7 xã: An Nhơn Xã, An Phú Đông, Bình Hòa Xã, Thạnh Lộc Thôn, Hanh Thông Xã, Thạnh Mỹ Tây, Thông Tây Hội;

4. Quận HÓC MÔN gồm 12 xã: Đông Hưng Tân, Đông Thạnh, Nhị Bình, Tân Hiệp, Tân Thới Hiệp, Tân Thới Nhứt, Tân Thới Nhì, Tân Thới Trung, Thới Tam Thôn, Trung Mỹ Tây, Xuân Thới Sơn, Xuân Thới Thượng;

5. Quận NHÀ BÈ gồm 9 xã: Phú Mỹ Tây, Phú Xuân Hội, Phước Long Đông, Tân Quy Đông, Tân Thuận Đông, Long Kiểng, Phước Lộc Thôn, Nhơn Đức, Long Đức;

6. Quận QUẢNG XUYÊN gồm 4 xã: An Thới Đông, Bình Khánh, Lý Nhơn, Tam Thôn Hiệp;

7. Quận TÂN BÌNH gồm 7 xã: Bình Hưng Hòa, Phú Nhuận, Phú Thọ Hòa, Tân Phú, Tân Sơn Hòa, Tân Sơn Nhì, Vĩnh Lộc;

8. Quận THỦ ĐỨC gồm 15 xã: Tam Bình Xã, Long Bình, Long Phước Thôn, Long Thạnh Mỹ, Bình Trưng, Thạnh Mỹ Lợi, Phú Hữu, An Phú, Linh Xuân Thôn, Phước Long Xã, Linh Đông Xã, Long Trường, Tăng Nhơn Phú, Hiệp Bình Xã, Phước Bình

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]