Mộc Hóa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Mộc Hóa
Huyện
Địa lý
Diện tích 297,6425 km²[1]
Dân số (2013)  
 Tổng cộng 29.853 người[1]
 Mật độ 100 người/km²
Dân tộc Kinh
Hành chính
Quốc gia  Việt Nam
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Tỉnh Long An
Thành lập 15 tháng 5 năm 1917[2]
Phân chia hành chính
Website www.longan.gov.vn

Mộc Hóa là huyện thuộc tỉnh Long An. Cách Thành phố Tân An khoảng 70 km, là huyện thuộc vùng Đồng Tháp Mười, hàng năm chịu ảnh hưởng của lũ lụt.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2005, Mộc Hoá có 15.686 hộ dân với 69.107 nhân khẩu và 63 ấp, khu phố, mật độ dân số trung bình là 138 người/km², vẫn còn là huyện có mật độ dân số thưa so với các huyện khác trong tỉnh.

Theo Điều tra dân số năm 2009, huyện Mộc Hóa có diện tích = 501,829 km²[3] và dân số 69.164 người[3]

Từ tháng 3/2013, huyện Mộc Hoá có 7 xã với các ấp, khu phố (Trung tâm huyện lỵ tại khu vực ngã ba sông Vàm Cỏ Tây - Ba Hồng Minh thuộc xã Bình Phong Thạnh, Bình Hòa Đông và xã Tân Thành). Diện tích tự nhiên là 29.764,25 ha, dân số 29.853 nhân khẩu.

Năm Diện tích tự nhiên (km²) Số hộ dân Dân số trung bình (người) Mật độ dân số (người/km²) Số ấp, khu phố
2000 503,276 14.085 65.108 133 54
2001 502,812 14.142 65.941 129 54
2002 502,812 14.385 66.747 131 54
2003 502,812 14.484 67.087 133 58
2004 502,812 15.592 68.605 136 63
2005 501,829 15.686 69.107 138 63
  • Bảng phân chia theo xã, thị trấn:
Xã, Thị Trấn Diện tích (km²) Số hộ dân Dân số (người) Mật độ (người/km²) Số ấp
Bình Hoà Tây 45,332 1.082 4.660 103 5
Bình Hoà Đông 32,264 919 3.665 114 4
Tân Lập 53,174 1.303 4.755 89 6
Bình Phong Thạnh 46,242 1.079 4.374 95 3
Bình Hoà Trung 36,444 910 3.791 104 5
Tân Thành 35,467 812 3.773 106 5
Bình Thạnh 48,649 548 2.076 43 3

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời phong kiến[sửa | sửa mã nguồn]

Vào thời nhà Nguyễn, Mộc Hóa chỉ là tên gọi một tổng thuộc huyện Quang Hóa, phủ Tây Ninh, tỉnh Gia Định. Vùng đất Mộc Hóa ngày nay khi ấy vừa thuộc tổng Mộc Hóa, huyện Quang Hóa, phủ Tây Ninh, tỉnh Gia Định và thuộc tổng Hưng Long, huyện Kiến Hưng, tỉnh Định Tường. Tổng Mộc Hóa gồm cả vùng rộng lớn nằm hai bên sông Vàm Cỏ Tây.

Thời Pháp thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi chiếm được ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (gồm Biên Hòa, Gia ĐịnhĐịnh Tường), đến năm 1867 thực dân Pháp bãi bỏ phân chia hành chính cũ của thời nhà Nguyễn và đặt ra các hạt Thanh tra mới. Hai tổng Mộc Hóa (nguyên thuộc huyện Quang Hóa, tỉnh Gia Định) và Hưng Long (nguyên thuộc huyện Kiến Hưng, tỉnh Định Tường) khi đó cùng thuộc hạt Thanh tra Tân An. Năm 1872, tổng Hưng Long gồm 25 làng và tổng Mộc Hóa gồm 9 làng.

Năm 1876, Pháp đổi tên các hạt Thanh tra thành hạt tham biện. Đến ngày 1 tháng 1 năm 1900, lại đổi các hạt tham niện thành tỉnh. Hai tổng Hưng Long và Mộc Hóa khi đó cùng thuộc tỉnh Tân An. Năm 1910, hai tổng Hưng Long và Mộc Hóa có các làng trực thuộc như sau:

  • Tổng Hưng Long gồm 16 làng: Bình An, Bình An Đông, Bình Cư, Bình Quân, Đông An, Mỹ Phước, Ngãi Hòa, Ngãi Lợi, Nhơn Nhượng, Phú Khương, Phú Thượng, Tân Đông, Tân Hòa Đông, Tân Hòa Tây, Tường Khánh, Xuân Sanh;
  • Tổng Mộc Hóa gồm 20 làng: Bình Châu, Bình Định, Bình Giảng, Bình Hiệp, Bình Nguyên, Hưng Điền, Hưng Nguyên, Phong Hòa, Phong Thoại, Thái Bình Trung, Thạnh Hòa, Thuận Bình Đông, Tuyên Bình, Tân Lập, Thủy Đông, Thuận Ngãi Thượng, Tuyên Thạnh, Vĩnh Lợi, Vĩnh Trị, Vĩnh Thạnh.

Quận Mộc Hoá được thành lập từ ngày 15 tháng 05 năm 1917, thuộc tỉnh Tân An, gồm có 2 tổng: Thanh Hoà Thượng với 9 làng, Thanh Hoà Hạ với 8 làng. Hai tổng cũ là Mộc Hóa và Hưng Long đều bị giải thể. Quận lỵ Mộc Hóa đặt tại làng Tuyên Thạnh vốn trước đó thuộc tổng Mộc Hóa.

Giai đoạn 1956-1976[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 17 tháng 02 năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa ban hành số Sắc lệnh 21-NV về việc thành lập tỉnh Mộc Hóa. Đất đai tỉnh Mộc Hóa bao gồm toàn bộ quận Mộc Hóa (thuộc tỉnh Tân An), một phần quận Thủ Thừa (thuộc tỉnh Tân An), một phần đất tỉnh Sa Đéc và một phần đất tỉnh Mỹ Tho. Tỉnh lỵ đặt tại Mộc Hóa.

Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Tổng thống Ngô Đình Diệm lại ban hành Sắc lệnh 143-NV để "thay đổi địa giới và tên Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn cùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt Nam". Địa giới và địa danh các tỉnh ở miền Nam thay đổi nhiều, một số tỉnh mới được thành lập. Theo Sắc lệnh này, địa phận Nam Phần của Việt Nam Cộng Hoà gồm Đô thành Sài Gòn và 22 tỉnh. Lúc này, tỉnh Kiến Tường được thành lập do đổi tên từ tỉnh Mộc Hóa trước đó. Tỉnh lỵ tỉnh Kiến Tường vẫn giữ nguyên tên là "Mộc Hóa", về mặt hành chánh thuộc xã Tuyên Thạnh, quận Châu Thành.

Ngày 24 tháng 4 năm 1957, tỉnh Kiến Tường bao gồm ba quận: Châu Thành, Tuyên Bình và Ấp Bắc.

Ngày 7 tháng 6 năm 1958, tỉnh Kiến Tường bao gồm ba quận: Châu Thành, Tuyên Bình, Kiến Bình. Trong đó, quận Kiến Bình đổi tên từ quận Ấp Bắc.

Ngày 10 tháng 3 năm 1959, tỉnh Kiến Tường được lập thêm quận mới là quận Tuyên Nhơn, do tách từ quận Kiến Bình. Cho đến năm 1975, tỉnh Kiến Tường bao gồm bốn quận: Châu Thành, Kiến Bình, Tuyên Nhơn và Tuyên Bình.

Chính quyền Cách mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Về phía chính quyền Mặt trận Dân Tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, để đối phó kịp thời với âm mưu địch và chỉ đạo sát đúng với thực tế tình hình địa phương, tháng 7 năm 1957 tách Mộc Hóa ra khỏi tỉnh Tân An, lập đơn vị hành chính cấp tỉnh, vẫn lấy tên là tỉnh Kiến Tường như bên chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Tuy nhiên, bên dưới tỉnh Kiến Tường chia làm bốn vùng, mỗi vùng tương ứng với một quận của phía Việt Nam Cộng hòa:

  • Vùng 2: tương ứng với quận Châu Thành.
  • Vùng 4 (vùng tư): tương ứng với quận Kiến Bình.
  • Vùng 6: tương ứng với quận Tuyên Nhơn.
  • Vùng 8: tương ứng với quận Tuyên Bình.

Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975, chính quyền quân quản Cộng hòa miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ vẫn duy trì tên gọi tỉnh Kiến Tường cho đến đầu năm 1976. Lúc này, chính quyền Cách mạng cũng bỏ danh xưng "quận" có từ thời Pháp thuộc và lấy danh xưng "huyện" (quận và phường dành cho các đơn vị hành chánh tương đương khi đã đô thị hóa).

Bên cạnh đó, chính quyền Cách mạng cũng tách một phần đất đai xã Tân Bình (thuộc quận Kiến Bình cũ) và một phần đất đai xã Tân Đông (thuộc quận Tuyên Nhơn cũ) cùng thuộc tỉnh Kiến Tường để sáp nhập vào địa bàn tỉnh Mỹ Tho lúc bấy giờ (ngày nay là tỉnh Tiền Giang). Hiện nay, vùng đất này tương ứng với các xã Tân Hòa Đông, Thạnh Mỹ, Thạnh Tân, Thạnh Hòa cùng thuộc huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.

Ngày 20 tháng 9 năm 1975, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 245-NQ/TW về việc bỏ khu, hợp tỉnh trong toàn quốc "nhằm xây dựng các tỉnh thành những đơn vị kinh tế, kế hoạch và đơn vị hành chính có khả năng giải quyết đến mức cao nhất những yêu cầu về đẩy mạnh sản xuất, tổ chức đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân, về củng cố quốc phòng, bảo vệ trị an, và có khả năng đóng góp tốt nhất vào sự nghiệp chung của cả nước". Theo Nghị quyết này, tỉnh Long Châu Tiền, tỉnh Sa Đéc và tỉnh Kiến Tường sẽ hợp nhất lại thành một tỉnh, tên gọi tỉnh mới cùng với nơi đặt tỉnh lỵ sẽ do địa phương đề nghị lên.

Nhưng đến ngày 20 tháng 12 năm 1975, Bộ Chính trị lại ra Nghị quyết số 19/NQ điều chỉnh lại việc hợp nhất tỉnh ở miền Nam Việt Nam cho sát với tình hình thực tế, theo đó tỉnh Long An và tỉnh Kiến Tường được tiến hành hợp nhất lại thành một tỉnh.

Từ năm 1976 đến nay[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 3 năm 1976, tỉnh Kiến Tường bị giải thể, sáp nhập vào tỉnh Long An. Ban đầu, toàn bộ đất tỉnh Kiến Tường cũ được chuyển thành một huyện mới với tên gọi là huyện Mộc Hóa của tỉnh Long An. Huyện Mộc Hoá lúc đó bao gồm 5 huyện và 1 thị xã vùng Đồng Tháp Mười ngày nay (thuộc tỉnh Long An) và có diện tích tự nhiên 2.296 km² với 21.390 hộ và khoảng 130.000 dân[2].

Tháng 03 năm 1978, huyện Mộc Hoá được tách ra thành 2 huyện Mộc Hoá và Vĩnh Hưng, huyện Mộc Hoá lúc này còn 18 xã và 1 thị trấn.

Ngày 19 tháng 09 năm 1980, Hội đồng Chính phủ Nhà nước Việt Nam ban hành Quyết định số 298-CP, chia huyện Mộc Hoá thành hai huyện lấy tên là huyện Mộc Hoá và huyện Tân Thạnh. Huyện Mộc Hoá lúc này còn 14 xã và 1 thị trấn[2].

Ngày 26 tháng 06 năm 1989, Hội đồng Bộ trưởng Nhà nước Việt Nam ban hành Quyết định số 74/HĐBT, điều chỉnh địa giới hành chánh huyện như sau:

  • Chia xã Thạnh Phước thành hai xã lấy tên là xã Thạnh Phước và xã Tân Hiệp.
  • Tách thị trấn Thạnh Hoá và các xã Tân Đông, Tân Tây, Thủy Đông, Thủy Tây, Thuận Nghĩa Hoà, Thuận Bình của huyện Tân Thạnh; các xã Thanh Phước, Tân Hiệp và Thạnh Phú của huyện Mộc Hoá để thành lập huyện Thạnh Hoá. Huyện Mộc Hoá lúc này còn 12 xã và 1 thị trấn[2].

Ngày 24 tháng 3 năm 1994, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 27-CP, điều chỉnh địa giới hành chánh huyện như sau:

  • Thành lập xã Bình Thạnh thuộc huyện Mộc Hoá trên cơ sở 837 ha diện tích tự nhiên với 108 nhân khẩu của xã Bình Phong Thạnh, 2.726,8 ha diện tích tự nhiên với 642 nhân khẩu của xã Bình Hoà Đông.
  • Thành lập xã Tuyên Bình Tây trên cơ sở 4.125 hécta diện tích tự nhiên với 2.602 nhân khẩu của xã Tuyên Bình.
  • Chuyển các xã Tuyên Bình, Tuyên Bình Tây thuộc huyện Mộc Hoá về huyện Vĩnh Hưng quản lý.

Ngày 18 tháng 3 năm 2013, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết số 33/NQ-CP, điều chỉnh địa giới hành chánh huyện Mộc Hóa như sau:

  • Thành lập thị xã Kiến Tường thuộc tỉnh Long An trên cơ sở điều chỉnh 20.428,20 ha diện tích tự nhiên và 64.589 nhân khẩu của huyện Mộc Hóa, bao gồm toàn bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu của thị trấn Mộc Hóa và các xã Tuyên Thạnh, Bình Hiệp, Bình Tân, Thạnh Hưng và Thạnh Trị.
  • Điều chỉnh địa giới hành chính thị trấn Mộc Hóa và một phần của xã Tuyên Thạnh để thành lập các phường thuộc thị xã Kiến Tường
  • Thành lập phường 1 thuộc thị xã Kiến Tường trên cơ sở điều chỉnh 806,22 ha diện tích tự nhiên và 19.544 nhân khẩu của thị trấn Mộc Hóa.
  • Thành lập phường 2 thuộc thị xã Kiến Tường trên cơ sở 946,50 ha diện tích tự nhiên và 17.208 nhân khẩu còn lại của thị trấn Mộc Hóa.
  • Thành lập phường 3 thuộc thị xã Kiến Tường trên cơ sở điều chỉnh 796,04 ha diện tích tự nhiên và 4.239 nhân khẩu của xã Tuyên Thạnh.
  • Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính huyện Mộc Hóa để thành lập thị xã Kiến Tường và huyện Mộc Hóa còn lại; thành lập các phường thuộc thị xã Kiến Tường.
  • Thị xã Kiến Tường có 20.428,20 ha diện tích tự nhiên và 64.589 nhân khẩu; có 08 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm: Phường 1, phường 2, phường 3 và các xã Tuyên Thạnh, Bình Hiệp, Bình Tân, Thạnh Hưng và Thạnh Trị. Trong đó, xã Tuyên Thạnh còn lại 3.463,77 ha diện tích tự nhiên và 5.020 nhân khẩu.
  • Huyện Mộc Hóa còn lại 29.764,25 ha diện tích tự nhiên, 29.853 nhân khẩu và có 07 đơn vị hành chính cấp xã, gồm các xã Tân Lập, Bình Hòa Tây, Bình Hòa Đông, Bình Phong Thạnh, Bình Hòa Trung, Tân Thành và Bình Thạnh.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]