Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
State Bank of Vietnam.JPG
Trụ sở Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Hà Nội
 
Thành lập 6 tháng 5, 1951; 63 năm trước
Ngân sách -
Nhân lực -
 
Thống đốc Nguyễn Văn Bình
Phó Thống đốc Nguyễn Toàn Thắng
Đặng Thanh Bình
Nguyễn Đồng Tiến
Nguyễn Phước Thanh
Lê Minh Hưng
Đào Minh Tú
Địa chỉ 49 Lý Thái Tổ, Hà Nội
Điện thoại +84.4 39.343.327
Fax +84.4 39.349.569
E-mail webmaster@sbv.gov.vn
Web www.sbv.gov.vn

Ngân hàng Nhà nước Việt Namngân hàng trung ương của Việt Nam. Đây là cơ quan đảm trách việc phát hành tiền tệ, quản lý tiền tệ và tham mưu các chính sách liên quan đến tiền tệ cho Chính phủ Việt Nam như: phát hành tiền tệ, chính sách tỷ giá, chính sách về lãi suất, quản lý dự trữ ngoại tệ, soạn thảo các dự thảo luật về kinh doanh ngân hàng và các tổ chức tín dụng, xem xét việc thành lập các ngân hàng và tổ chức tín dụng, quản lý các ngân hàng thương mại nhà nước.

Người đứng đầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có chức danh là Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Thống đốc đương nhiệm từ ngày 3 tháng 8 năm 2011 là ông Nguyễn Văn Bình.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời kỳ Đông Dương thuộc Pháp, chính quyền thực dân Pháp đã quản lý và phát hành tiền tệ thông qua Ngân hàng Đông Dương, một ngân hàng có vai trò là ngân hàng trung ương và ngân hàng thương mại trên khu vực Đông Dương thuộc Pháp. Sau Cách mạng tháng 8, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã từng bước xây dựng nền tài chính tiền tệ độc lập. Ngày 6 tháng 5 năm 1951, chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam với các nhiệm vụ: phát hành giấy bạc, quản lý kho bạc, thực hiện chính sách tín dụng để phát triển sản xuất, phối hợp với mậu dịch để quản lý tiền tệ và đấu tranh tiền tệ với thực dân Pháp.

Ngày 21 tháng 1 năm 1960, Tổng Giám đốc Ngân hàng Quốc gia đã thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ ký Thông tư số 20/VP-TH đổi tên ngân hàng này thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Sau năm 1975, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã tiếp quản và "quốc hữu hóa" Ngân hàng Quốc gia Việt Nam của Việt Nam Cộng Hòa và thông qua danh nghĩa của chủ nhà băng này để thừa kế vai trò hội viên của Ngân hàng VNCH này trong các tổ chức tài chính quốc tế như: IMF, WB, ADB.[1] Tháng 7 năm 1976, Việt Nam thống nhất về phương diện nhà nước, đổi tên nước là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, về ngành ngân hàng, hợp nhất về mặt thể chế, tổ chức từ 1976 và hợp nhất Ngân hàng về mặt tiền tệ vào mùa xuân năm 1978 qua việc đổi tiền.[1]

Bộ máy[sửa | sửa mã nguồn]

Các lãnh đạo đương nhiệm[sửa | sửa mã nguồn]

Thống đốc: Nguyễn Văn Bình

Các Phó thống đốc:

  • Nguyễn Toàn Thắng
  • Đặng Thanh Bình
  • Nguyễn Đồng Tiến
  • Nguyễn Phước Thanh[2]
  • Lê Minh Hưng
  • Đào Minh Tú - nguyên chánh văn phòng ngân hàng Nhà Nước

Các cơ quan trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

(theo Nghị định 96/2008/NĐ-CP ngày 26 tháng 08 năm 2008 của Chính phủ Việt Nam[3])

1. Vụ chính sách tiền tệ

2. Vụ Quản lý ngoại hối

3. Vụ Thanh toán

4. Vụ Tín dụng

5. Vụ Dự báo, thống kê tiền tệ

6. Vụ Hợp tác quốc tế

7. Vụ Kiểm toán nội bộ

8. Vụ Pháp chế

9. Vụ Tài chính – Kế toán

10. Vụ Tổ chức cán bộ

11. Vụ Thi đua – Khen thưởng

12. Văn phòng

13. Cục Công nghệ tin học

14. Cục Phát hành và kho quỹ

15. Cục Quản trị

16. Sở Giao dịch

17. Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng

18. Các chi nhánh tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

19. Văn phòng đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh

20. Viện Chiến lược ngân hàng

21. Trung tâm Thông tin tín dụng

22. Thời báo Ngân hàng

23. Tạp chí Ngân hàng

24. Trường Bồi dưỡng cán bộ ngân hàng.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]