Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
| Ngân hàng Nhà nước | |
Trụ sở Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Hà Nội |
|
| Thành lập | ngày 6 tháng 5 năm 1951 |
| Ngân sách | - |
| Nhân lực | - |
| Thống đốc | Nguyễn Văn Bình |
| Phó Thống đốc | Nguyễn Toàn Thắng Đặng Thanh Bình Nguyễn Đồng Tiến Trần Minh Tuấn Lê Minh Hưng Đào Minh Tú |
| Địa chỉ | 49 Lý Thái Tổ, Hà Nội |
| Điện thoại | +84.4 39.343.327 |
| Fax | +84.4 39.349.569 |
| webmaster@sbv.gov.vn | |
| Web | www.sbv.gov.vn |
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là một cơ quan quản lý nhà nước về tiền tệ tại Việt Nam. Đây là cơ quan đảm trách việc phát hành tiền tệ, quản lý tiền tệ và tham mưu các chính sách liên quan đến tiền tệ cho Chính phủ Việt Nam như: phát hành tiền tệ, chính sách tỷ giá, chính sách về lãi suất, quản lý dự trữ ngoại tệ, soạn thảo các dự thảo luật về kinh doanh ngân hàng và các tổ chức tín dụng, xem xét việc thành lập các ngân hàng và tổ chức tín dụng, quản lý các ngân hàng thương mại nhà nước...
Người đứng đầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có chức danh là Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Thống đốc đương nhiệm từ ngày 3 tháng 8 năm 2011 là ông Nguyễn Văn Bình.
Mục lục |
Lịch sử[sửa]
Trong thời kỳ Đông Dương thuộc Pháp, chính quyền thực dân Pháp đã quản lý và phát hành tiền tệ thông qua Ngân hàng Đông Dương, một ngân hàng có vai trò là ngân hàng trung ương và ngân hàng thương mại trên khu vực Đông Dương thuộc Pháp. Sau Cách mạng tháng 8, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã từng bước xây dựng nền tài chính tiền tệ độc lập. Ngày 6 tháng 5 năm 1951, chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam với các nhiệm vụ: phát hành giấy bạc, quản lý kho bạc, thực hiện chính sách tín dụng để phát triển sản xuất, phối hợp với mậu dịch để quản lý tiền tệ và đấu tranh tiền tệ với thực dân Pháp.
Ngày 21 tháng 1 năm 1960, Tổng Giám đốc Ngân hàng Quốc gia đã thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ ký Thông tư số 20/VP-TH đổi tên ngân hàng này thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Sau năm 1975, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã tiếp quản và "quốc hữu hóa" Ngân hàng Quốc gia Việt Nam của Việt Nam Cộng Hòa và thông qua danh nghĩa của chủ nhà băng này để thừa kế vai trò hội viên của Ngân hàng VNCH này trong các tổ chức tài chính quốc tế như: IMF, WB, ADB.[1] Tháng 7 năm 1976, Việt Nam thống nhất về phương diện nhà nước, đổi tên nước là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, về ngành ngân hàng, hợp nhất về mặt thể chế, tổ chức từ 1976 và hợp nhất Ngân hàng về mặt tiền tệ vào mùa xuân năm 1978 qua việc đổi tiền.[1]
Bộ máy[sửa]
Các lãnh đạo đương nhiệm[sửa]
Thống đốc: Nguyễn Văn Bình
Các Phó thống đốc:
- Nguyễn Toàn Thắng
- Đặng Thanh Bình
- Nguyễn Đồng Tiến
- Trần Minh Tuấn
- Lê Minh Hưng
- Đào Minh Tú - nguyên chánh văn phòng ngân hàng Nhà Nước
Các cơ quan trực thuộc[sửa]
(theo Nghị định 96/2008/NĐ-CP ngày 26 tháng 08 năm 2008 của Chính phủ Việt Nam[2])
1. Vụ chính sách tiền tệ
2. Vụ Quản lý ngoại hối
3. Vụ Thanh toán
4. Vụ Tín dụng
5. Vụ Dự báo, thống kê tiền tệ
6. Vụ Hợp tác quốc tế
7. Vụ Kiểm toán nội bộ
8. Vụ Pháp chế
9. Vụ Tài chính – Kế toán
10. Vụ Tổ chức cán bộ
11. Vụ Thi đua – Khen thưởng
12. Văn phòng
13. Cục Công nghệ tin học
14. Cục Phát hành và kho quỹ
15. Cục Quản trị
16. Sở Giao dịch
17. Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng
18. Các chi nhánh tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
19. Văn phòng đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh
20. Viện Chiến lược ngân hàng
21. Trung tâm Thông tin tín dụng
22. Thời báo Ngân hàng
23. Tạp chí Ngân hàng
24. Trường Bồi dưỡng cán bộ ngân hàng.
Chú thích[sửa]
Liên kết ngoài[sửa]
| Wikisource tiếng Việt có toàn văn tác phẩm về: |
- Website chính thức
- Nguyên thống đốc Ngân hàng Nhà nước: 'Chúng ta từng sai sót'
- Khái quát những đóng góp của hệ thống ngân hàng Việt Nam nhìn qua lịch sử sơ lược về tiền tệ Việt Nam.
|
||||||||||