Ngân hàng Đông Dương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ngân hàng Đông Dương
Banque de l'Indochine
Loại hình Ngân hàng tư nhân [1]
Thành lập 21/1/1875
Giải thể 1974
Trụ sở chính Paris
Tờ giấy bạc trị giá 20 piastre tức đồng bạc Đông Dương do Ngân hàng Đông Dương phát hành năm 1898, Sài Gòn.
Trụ sở Sài Gòn của Ngân hàng Đông Dương, sau là Ngân hàng Quốc gia Việt Nam của Việt Nam Cộng hòa
Trụ sở Ngân hàng Đông Dương ở Hà Nội, nay là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Ngân hàng Đông Dương tức Banque de l'Indochine (viết tắt BIC) là một ngân hàng và cơ sở tài chính thành lập ngày 21 tháng 1 năm 1875Paris để phát hành giấy bạc và tiền kim loại cho các xứ thuộc địa của Pháp ở Á Châu cùng điều hành quyền lợi kinh tế của Pháp ở Viễn Đông. Hai chi nhánh đầu tiên đặt Sài GònHải Phòng. Cơ sở này tuy là một công ty tư nhân nhưng hoạt động như một ngân hàng trung ương với nhiều đặc quyền tại Liên bang Đông Dương.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thành lập[sửa | sửa mã nguồn]

Ngân hàng Đông Dương (Banque de I’Indochine, viết tắt là BIC) được thành lập theo sắc lệnh của tổng thống Pháp ngày 21 tháng 1 năm 1875. Chính quyền Pháp có ý định xây dựng Ngân hàng Đông Dương thành một ngân hàng phát hành, cho vay và chiết khấu có đặc quyền trong 20 năm, với một đặc quyền hơn hẳn các ngân hàng thuộc địa khác: quyền phát hành đồng bạc Đông Dương.

Vào thời điểm đó Nam kỳ tuy đã trở thành thuộc địa của Pháp, vẫn sử dụng đồng tiền cổ truyền của người Việt cùng đồng bạc Mexico lưu hành từ trước khi liên quân Pháp - Tây Ban Nha mở cuộc xâm lược Đông Dương. Ngân hàng Đông Dương ra đời với nhiệm vụ phát hành đồng bạc Đông Dương để thay thế các loại tiền cũ cùng để người Pháp điều khiển kinh tế xứ thuộc địa mới này.

Mở rộng hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Trụ sở chính của ngân hàng đặt ở Paris và một chi nhánh ở Sài Gòn. Sau khi Pháp mở rộng cuộc xâm lược Việt Nam thì Ngân hàng Đông Dương mở thêm chi nhánh tại Trung kỳBắc kỳ từ năm 1885. Hai năm sau khi thành lập Liên bang Đông Dương năm 1887, ngân hàng lại mở thêm chi nhánh trên toàn cõi Đông Dương và các thuộc địa của Pháp ở Ấn Độ nhằm tạo thuận lợi cho việc mua thuốc phiện vốn chủ yếu xuất phát từ Ấn Độ.

Năm 1898, Bộ Ngoại giao Pháp yêu cầu Ngân hàng Đông Dương mở rộng phạm vi hoạt động sang Trung QuốcThái Lan để hỗ trợ cho các hoạt động ngoại giao. Bộ Tài chính Pháp tán thành chủ trương trên và tăng vốn pháp định của ngân hàng lên 24 triệu franc. Theo chính sách đó năm 1899, Ngân hàng Đông Dương mở chi nhánh đầu tiên ở Hong Kong, năm sau mở tiếp ở Thượng Hải, rồi ở Hán KhẩuQuảng Châu (1902), ở Thiên TânBắc Kinh (1907) và Mông Tự (1913).

Ngân hàng Đông Dương tham gia một số hoạt động quan trọng ở Trung Quốc trong đó có việc xuất ngân cho vay khoản tiền xây dựng đường sắt Quảng Châu – Hán Khẩu.

Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Ngân hàng Đông Dương đã trở thành một công cụ tài chính mạnh của Pháp với khoảng 20 chi nhánh, trong đó có sáu ở Đông Dương và sáu ở Trung Quốc, số còn lại ở các thuộc địa Pháp tại Ấn Độ Dương, Thái Bình Dươngchâu Á.

Chấm dứt hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Sau năm 1953, Ngân hàng Đông Dương ở Việt Nam bị giải thể. Nhiệm vụ phát hành giấy bạc được chuyển cho Viện Phát hành Quốc gia Việt, Miên, Lào (Institut d'Emission des Etats du Cambodge, du Laos et du Viet-Nam) kể từ năm 1951 rồi giao lại cho Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, tức ngân hàng trung ương của Việt Nam Cộng hòa vào năm 1955.[2] Phần thương vụ thì chia cho Ngân hàng Việt Nam Thương tín (thành lập năm 1956)[3] và hậu thân của Ngân hàng Đông Dương là Ngân hàng Pháp Á.[4].

Tuy vắng mặt ở Việt Nam sau năm 1953, Ngân hàng Đông Dương tái hoạt động vào năm 1958 ở những nơi khác ở Á Châu. Năm 1975 thì nhập với Banque de Suez et de L'Union des Mines với tên mới: Banque Indosuez và đến năm 2001 thì nhập vào Alliance Banking Group, hoạt động chính ở Malaysia.[5]

Tiền phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Ngân hàng Đông Dương đảm nhiệm việc phát hành đồng bạc Đông Dương với lượng hối đoái dựa trên ngân bản vị. Vào thời điểm năm 1930 thì một đồng bạc Đông Dương (piastre) được ấn định hàm giá 27 gr bạc. Hối xuất giữa đồng bạc Đông Dương và quan Pháp là 10 quan Pháp ăn một đồng Đông Dương.[6]

Loạt giấy bạc đầu tiên phát hành năm 1887 mang mệnh giá 5, 20 và 100 piastre. Người Việt ở Nam Kỳ nơi loại tiền này lưu hành trước nhất gọi tờ 5 đồng là tờ "ngẫu" và tờ 20 đồng là tờ "hoảnh".

Danh sách các chi nhánh ở châu Á[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Nước Khai trương Đóng cửa
Hải Phòng Đông Pháp 1885 không có thông tin
Hà Nội Đông Pháp 1887 không có thông tin
Nouvelle Calédonie Thuộc địa Pháp 1888 Ngân hàng phát hành tiền tới năm 1966.
Quảng Châu Trung Quốc 1889 không có thông tin
Hong Kong Thuộc địa Anh 1894 19742
Thượng Hải Trung Quốc 1899 1955
Thiên Tân Trung Quốc 1902 không có thông tin
Singapore Thuộc địa Anh 1905 không có thông tin
Papeete Polynesia thuộc Pháp 1905 Ngân hàng phát hành tới giữa những năm 1960. Năm 1990, Westpac tiếp quản các hoạt động của Indosuez ở Tahiti.
Quảng Châu Loan Thuộc địa Pháp 1926 không có thông tin
Yokohama Nhật Bản Tháng 7, 1941 Tháng 11, 1942
Tokyo Nhật Bản Tháng 11, 1942 Tháng 9, 1945
Port Vila Thuộc địa chung Anh-Pháp Tân Thế Giới (New Hebrides nay là Vanuatu) 1948 Indosuez sát nhập các chi nhánh vào năm 1978 để thành lập Banque Indosuez Vanuatu. Năm 1993, Banque Indosuez bán các chi nhánh ở Vanuatu cho Ngân hàng Hawaii.
Bắc Kinh Trung Quốc không có thông tin không có thông tin

2 Sát nhập với Banque de Suez.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phạm Thăng. Tiền tệ Việt Nam. ?: Phạm Thăng, 1995.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ banque privée
  2. ^ Phạm Thăng. Trang 285.
  3. ^ [1] Trang 418.
  4. ^ http://www.scribd.com/doc/5596560/He-thong-tai-chinh-Viet-Nam
  5. ^ Alliance Islamic Bank
  6. ^ Marty L. "Reources Economiques de l'Indochine". L'Indochine Française. Hanoi: Imprimerie G Taupin & C, 1938. tr 214

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]