Port Vila

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Port Vila
—  Capital City  —
Trung tâm Port Vila ngìn từ trên không
Trung tâm Port Vila ngìn từ trên không
Lá cờ Port Vila
Lá cờ
Quốc gia  Vanuatu
Tỉnh Tỉnh Shefa

Port Vila là thủ đô và là thành phố lớn nhất của Vanuatu. Nằm trên bờ biển phía nam của đảo Efate, thuộc tỉnh Shefa, dân số thành phố trong cuộc điều tra dân số cuối cùng (1999) là 29.356[1] tăng 55% so với kết quả điều tra dân số trước đây (1989). Dân số năm 2007 là khoảng 40.000 hoặc khoảng 65% dân số của tỉnh Shefa. Port Vila là trung tâm kinh tế và thương mại của Vanuatu.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trụ sở Quốc hội Vanuatu

Các khu vực mà nay là Port Vila là nơi sinh sống của người Melanesia cách đây hàng ngàn năm. Năm 1606, những người châu Âu đầu tiên đến hòn đảo, dẫn đầu là Pedro Fernández de Quirós và Luis Váez de Torres. Trong thế kỷ 19, những người định cư Pháp đã thành lập đô thị Franceville, và tuyên bố độc lập vào năm 1889, trở thành quốc gia tự trị đầu tiên thực thi phổ thông đầu phiếu không phân biệt giới tính hay chủng tộc. Mặc dù dân số vào thời điểm đó chỉ bao gồm khoảng 500 đảo bản địa và ít hơn 50 người da trắng, chỉ người da trắng được phép nắm giữ các chức vụ. Một trong những tổng thống được bầu là một công dân sinh ra ở Mỹ, RD Polk.[2] Sau năm 1887, Đế quốc Pháp và Đế quốc Anh cũng nhau quản lý lãnh thổ. Điều này đã được chính thức hóa vào năm 1906 trong một hiệp ước giữa Anh-Pháp. Trong Chiến tranh thế giới II, Port Vila là một căn cứ không quân của Mỹ và Úc. Năm 1987, cơn bão Uma làm hư hại thành phố. Một trận động đất mạnh vào tháng 1 năm 2002 gây thiệt hại rộng lớn ở thủ đô và các khu vực xung quanh.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Chợ Port Vila
Bưu điện Port Vila

Port Vila là cảng quan trọng nhất của Vanuatu và cũng là trung tâm thương mại của nước này. Sân bay quốc tế Bauerfield ( VLI ) cũng nằm trong thành phố. Ngành kinh tế chính ở thành phố này vẫn nông nghiệp và đánh cá. Du lịch cũng đang trở thành một ngành quan trọng, đặc biệt là du khách từ Australia và New Zealand. Có hơn 50.000 du khách vào năm 1997. Vanuatu là một thiên đường thuế, và đầu tư ra nước ngoài ở Port Vila là một phần quan trọng của nền kinh tế.

Vanuatu vẫn còn phụ thuộc vào viện trợ nước ngoài, hầu hết trong số đó đến từ AustraliaNew Zealand, mặc dù trong những năm gần đây, viện trợ cũng đến từ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Air Vanuatu có trụ sở chính ở Vanuatu House tại Port Vila [3]. 35,7% xuất khẩu là từ Port Vila và 86,9% nhập khẩu đến Port Vila.

Nhân khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Dân số thành phố khoảng 38.000 người; chủ yếu là người Melanesia, với thiểu số là người Polynesia, người gốc Châu Á, người gốc Châu Âu.

Ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Bislama, một thứ tiếng bồi có 95% từ vựng mượn từ tiếng Anh, là ngôn ngữ thông dụng nhất ở thành phố. Ngoài ra, tiếng Anh và Pháp cũng được nói rộng rãi. Các ngôn ngữ bản địa cũng được nói trong thành phố.

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Công giáo là tôn giáo chính trên toàn Vanuatu với 90% dân số. Lớn nhất trong đó là Giáo hội Trưởng Lão chiếm 1/3 dân số, sau đó là Công giáo La MãGiáo hội Melanesia mỗi nhóm chiếm khoảng 15%.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ National Statistics Office 2000, The 1999 Vanuatu National Population And Housing Census, Government of Vanuatu, Port Vila
  2. ^ "Wee, Small Republics: A Few Examples of Popular Government," Hawaiian Gazette, Nov 1, 1895, p1
  3. ^ "Contact Us." Air Vanuatu. Retrieved on 22 June 2010.

Tọa độ: 17°45′N 168°18′Đ / 17,75°N 168,3°Đ / -17.750; 168.300