Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam là một tổ chức xã hội rộng rãi của thanh niên Việt Nam. Về danh nghĩa, đây là tổ chức thanh niên lớn nhất tại Việt Nam, quy tụ nhiều tổ chức thanh niên thành viên, bao gồm cả Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Công tác vận động thanh niên đã được những người Cộng sản Việt Nam chú trọng ngay từ trước khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Chính với tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, những người Cộng sản Việt Nam có một nguồn bổ sung cán bộ trẻ, năng động, là nòng cốt để hình thành nên Đảng Cộng sản.

Ngày 26 tháng 3 năm 1931, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 2 tại Rạch Giá, Trung ương Đảng đã dành một phần quan trọng để bàn về công tác thanh niên và đi đến quyết định có ý nghĩa đặc biệt, như phải cử ngay các ủy viên của Đảng phụ trách các vấn đề liên quan tới thanh niên (sau gọi là công tác Đoàn) trong các cấp ủy Đảng từ Trung ương đến địa phương. Tổ chức Đoàn nhanh chóng phát triển làm nòng cốt cho Đảng, thậm chí, trong một số giai đoạn đã thay mặt Đảng hoạt động công khai tập hợp quần chúng.

Nếu như lực lượng Đoàn Thanh niên Cứu quốc là một thành phần của Việt Minh tham gia Tổng khởi nghĩa ở miền Bắc, thì tại miền Trung và miền Nam, do điều kiện tổ chức Đảng bị tan vỡ và bất đồng, các cán bộ Cộng sản miền Nam đã tận dụng cơ hội, cài cán bộ lãnh đạo để nắm tổ chức Thanh niên Tiền phong, từ đó phát triển nhanh chóng lực lượng để tham gia Tổng khởi nghĩa.

Sau Cách mạng tháng 8, theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ CHí Minh, tháng 6 năm 1946, Tổng Đoàn Thanh niên Việt Nam ra đời. Ông Dương Đức Hiền được cử làm Tổng đoàn trưởng. Đầu năm 1947, đổi thành Liên đoàn Thanh niên Việt Nam. Năm 1948, ông Hoàng Minh Chính được cử làm Tổng đoàn trưởng Liên đoàn Thanh niên Việt Nam.

Để mở rộng và huy động mạnh mẽ lực lượng thanh niên, ngày 7 tháng 2 năm 1950, trong Đại hội đại biểu Đoàn toàn quốc lần thứ I tại Việt Bắc, Bí thứ Trung ương Đoàn Nguyễn Lam đã đọc báo cáo chính trị "Chiến đấu và xây dựng tương lai", theo đó xác định nhiệm vụ thống nhất lực lượng thanh niên trong cả nước. Ngày 25 tháng 2 năm 1950, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Liên đoàn Thanh niên Việt Nam được tổ chức tại xã Cao Vân, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, với lực lượng của Đoàn Thanh niên Cứu quốc làm nòng cốt. Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành và bầu ông Nguyễn Chí Thanh làm Chủ tịch Liên đoàn và thông qua Nghị quyết, Điều lệ của Liên đoàn Thanh niên Việt Nam.

Từ ngày 29 đến 31 tháng 7 năm 1955, Đại hội để thống nhất tổ chức và phong trào học sinh, sinh viên toàn quốc được tổ chức tại Hà Nội, gồm 244 đại biểu chính thức và 255 đại biểu dự thính của các trường đại học, đại biểu sinh viên miền Nam và sinh viên học ở nước ngoài, quyết định lấy tên mới của tổ chức sinh viên là Hội Liên hiệp Sinh viên Việt Nam, thông qua Nghị quyết, Điều lệ, chương trình hành động và lời kêu gọi sinh viên toàn quốc. Đây là tổ chức thành viên lớn thứ hai trong Liên đoàn Thanh niên.

Từ ngày 8 đến ngày 15 tháng 10 năm 1956, Đại hội thành lập Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam toàn quốc lần thứ I được khai mạc tại Nhà hát lớn Thủ đô Hà Nội, gồm 420 đại biểu chính thức, 300 đại biểu dự thính trong và ngoài nước, miền Nam và miền Bắc, có cả đại biểu Liên đoàn Thanh niên Dân chủ Thế giới, tham gia. Đại hội đã thông qua Nghị quyết, bản Hiệu triệu thanh niên toàn quốc và Thư của Đại hội gửi các bạn thanh niên miền Nam. Đại hội cũng bầu Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Bộ trưởng Bộ Y tế, làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội. Các phó Chủ tịch Hội gồm: Nguyễn Lam, Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam; Lê Quang Toàn, Chủ tịch Hội Liên hiệp Sinh viên Việt Nam; Nguyễn Ngọc San, Trưởng Ban Vận động Mặt trận Thống nhất Thanh niên Hà Nội. Tháng 1 năm 1957, Hội nghị lần thứ nhất đã bầu bổ sung ông Vũ Quang vào Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, giữ chức Tổng Thư ký của Trung ương Hội.

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống tổ chức của Hội cũng giống như tổ chức Đoàn, từ Trung ương xuống cơ sở.

  • Cấp cơ sở gồm Chi Hội cơ sở và tương đương
  • Cấp Huyện Hội và tương đương
  • Cấp Tỉnh Hội và tương đương
  • Cấp Trung ương Hội

Các kỳ đại hội toàn quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Đại hội lần thứ Thời gian Địa điểm Lãnh đạo Hội
* tháng 6, 1946 Hà Nội Dương Đức Hiền, đến năm 1948 thì Hoàng Minh Chính được cử
I tháng 2, 1950 Thái Nguyên Nguyễn Chí Thanh
* 8 tháng 10 - 15 tháng 10, 1956 Hà Nội Phạm Ngọc Thạch
II tháng 12, 1961 Hà Nội Phạm Huy Thông
* 20 tháng 9 - 21 tháng 9, 1976 Hà Nội Lê Quang Vịnh, đến tháng 9 năm 1988 Hà Quang Dự được bầu
III tháng 12, 1994 Hà Nội Hồ Đức Việt, đến tháng 3 năm 1998 thì Trương Thị Mai được bầu
IV 13 tháng 1 - 15 tháng 1, 2000 Hà Nội Trương Thị Mai, đến tháng 2 năm 2003 thì Hoàng Bình Quân được bầu.
V 25 tháng 2 - 27 tháng 12, 2005 Hà Nội Nông Quốc Tuấn, đến năm 2008 thì Võ Văn Thưởng được bầu
VI 26 tháng 4 - 27 tháng 4, 2010 Hà Nội Nguyễn Phước Lộc

Chính khách xuất thân từ lãnh đạo Hội[sửa | sửa mã nguồn]

Từ vị trí Chủ tịch[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyễn Chí Thanh, Chủ tịch Liên đoàn Thanh niên Việt Nam 1950-1956, là Ủy viên Bộ Chính trị, Đại tướng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.
  • Phạm Ngọc Thạch, Bộ trưởng Bộ Y tế
  • Phạm Huy Thông, Hiệu trưởng Đại học Sư phạm Hà Nội (1956-1966), Viện trưởng Viện Khảo cổ học (1967-1988), Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại biểu Quốc hội khóa II, III.
  • Lê Quang Vịnh, nguyên bí thư TW Đoàn khóa IV, Chủ tịch Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Bí thư quận ủy Côn Đảo, nguyên Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ.
  • Hà Quang Dự, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn khóa 5, Bộ trưởng phụ trách công tác thanh niên và thể dục thể thao của Chính phủ, Chủ nhiệm Ủy ban Thể dục Thể thao.
  • Hồ Đức Việt, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn khóa 6. Từng là Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Liên đoàn Bóng đá Việt Nam., Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học – Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh, Phó ban thường trực Ban Tổ chức TW, Bí thư Tỉnh ủy Thái Nguyên, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương.
  • Trương Thị Mai, từng là Bí thư Thường trực TW Đoàn, Chủ tịch Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam; Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các Vấn đề Xã hội của Quốc hội, Ủy viên TW Đảng, hiện là Chủ nhiệm Ủy ban Về các Vấn đề Xã hội của Quốc hội.
  • Hoàng Bình Quân, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn khóa 8, Bí thư Tỉnh ủy Tuyên Quang ngay. Hiện đang là Trưởng ban Đối ngoại TW.
  • Võ Văn Thưởng, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn khóa 9, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi.
  • Nông Quốc Tuấn - từng là Bí thư TW Đoàn khóa VIII, Chủ tịch Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Bí thư Tỉnh ủy Bắc Giang; hiện là Phó chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc.

Các vị trí lãnh đạo khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Dương Đức Hiền, Tổng bí thư Đảng Dân chủ Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Thanh niên, Ủy viên Tổng bộ Việt Minh; Tổng thư ký, Phó chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Liên Việt; Ủy viên Ban Thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
  • Hoàng Minh Chính, Tổng Đoàn trưởng Liên đoàn Thanh niên Việt Nam, Tổng Thư ký Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Tổng thư ký Đảng Dân chủ Việt Nam, Viện trưởng Viện Triết học Mác-Lênin.
  • Nguyễn Lam, Phó chủ tịch Hội. Ông cũng là Bí thư thứ nhất TW Đoàn khóa 1 và giữ chức vụ này liên tục 12 năm, và các chức vụ trong bộ máy Chính phủ và Đảng: Bí thư Thành ủy Hà nội, Bộ trưởng Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước (1969 - 1973), Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước (1973 - 1974), (1981 - 1982), Trưởng ban Công nghiệp TW, Phó Thủ tướng (1980 - 1982), Bí thư TW Đảng khóa IV, khóa V, Trưởng ban Kinh tế TW.
  • Hồ Trúc - Nguyên Bí thư TW đoàn khóa I, khóa II, nguyên Bí thư quận ủy quận V Hà nội năm 1947, nguyên Tổng thư ký Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục, Phó trưởng ban Khoa giáo TW, Hội trưởng Hội Cờ Việt Nam, Phó Chủ tịch Ủy ban Quốc gia UNESCO VN.
  • Vũ Quốc Hùng, từng là Bí thư TW Đoàn khóa IV, Chủ tịch Hội Sinh viên, Phó chủ tịch Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Ủy viên TW Đảng khóa VII, khóa VIII, khóa IX, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra TW.
  • Huỳnh Đảm - từng là Bí thư TW đoàn khóa IV, nguyên Phó bí thư tỉnh Đoàn Cà Mau, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Chủ tịch HĐND Thành phố Hồ Chí Minh, Phó Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, hiện là Ủy viên TW Đảng, Chủ tịch Ủy ban TW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
  • Phạm Phương Thảo - từng là Bí thư Thành đoàn TP HCM, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Bí thư TW Đoàn khóa V, khóa VI, Chủ tịch Hội đồng Đội TW khóa 3, Phó chủ tịch UBND TP HCM, Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa Thành ủy TP HCM, Phó bí thư Thành ủy TP HCM, Chủ tịch HĐND TP HCM.
  • Bùi Đặng Dũng - từng là Ủy viên Ban thường vụ TW Đoàn khóa VII, Bí thư TW Đoàn khóa VIII, Chủ tịch Hội Sinh viên Việt Nam, hiện là Ủy viên thường trực Ủy ban Tài chính Ngân sách của Quốc hội.
  • Nguyễn Lam - Bí thư TW Đoàn khóa VIII, Chủ tịch Hội đồng Đội TW khóa V, nguyên Tỉnh ủy viên, Bí thư tỉnh đoàn - Chủ tịch Hội liên hiệp thanh niên tỉnh Thanh Hóa, hiện là Phó chủ tịch Ủy ban TW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
  • Trần Đắc Lợi - từng là Ủy viên Ban thường vụ TW Đoàn khóa VII, nguyên Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Tổng thư ký Quỹ Hòa bình Phát triển Việt Nam, hiện là Phó chủ tịch thường trực Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]