Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ban Chấp hành Trung ương
Đảng Cộng sản Việt Nam

Communist Party of Vietnam flag.svg
Đảng kỳ Đảng Cộng sản Việt Nam

Khóa thứ XI(năm 2011-tới nay)
Ủy viên
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng
Ủy viên Bộ Chính trị(15) Trương Tấn Sang
Nguyễn Tấn Dũng
Nguyễn Sinh Hùng
Lê Hồng Anh
Phùng Quang Thanh
Lê Thanh Hải
Tô Huy Rứa
Phạm Quang Nghị
Trần Đại Quang
Tòng Thị Phóng
Ngô Văn Dụ
Đinh Thế Huynh
Nguyễn Xuân Phúc
Nguyễn Thị Kim Ngân
Nguyễn Thiện Nhân
Cơ cấu tổ chức
Cơ quan chủ quản Đại hội Đại biểu Toàn quốc
Chức năng Cơ quan lãnh đạo cấp cao nhất của Đảng
Cấp hành chính Cấp Trung ương
Văn bản Ủy quyền Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam
Cơ quan Kiểm tra Kỷ luật Ủy ban Kiểm tra Trung ương
Cơ quan làm việc Ban Bí thư Trung ương
Phương thức liên hệ
Trụ sở
Địa chỉ Văn phòng Trung ương Đảng
1A, Hùng Vương, Phường Điện Biên, Quận Ba Đình, Hà Nội
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Coat of arms of Vietnam.svg

Chính trị và chính phủ
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam


Các nước khác

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (viết tắt là BCHTƯ hoặc BCHTW) là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam được bầu trong đại hội đại biểu toàn quốc. Cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp giữa các nhiệm kì đại hội là ban chấp hành đảng bộ, chi bộ (gọi tắt là cấp ủy).

Đứng đầu Ban Chấp hành Trung ương hiện là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương.

Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương do đại hội đại biểu toàn quốc bầu và số lượng ủy viên do đại hội quyết định. Năm 1976 sau đại hội kỳ IV thì số Ủy viên là 101 người. Đến kỳ VIII thì số Ủy viên tăng lên 170[1]. Ban Chấp hành Trung ương khóa X gồm 160 ủy viên chính thức và 41 ủy viên dự khuyết. Đến đại hội đại biểu toàn quốc XI gồm 175 Ủy viên chính thức và 25 Ủy viên dự khuyết.

Nhiệm vụ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tổ chức chỉ đạo thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ đảng, các nghị quyết của đại hội đại biểu toàn quốc; quyết định những chủ trương, chính sách về đối nội, đối ngoại, công tác quần chúng và công tác xây dựng đảng; chuẩn bị đại hội đại biểu toàn quốc nhiệm kỳ tiếp theo, đại hội đại biểu toàn quốc bất thường (nếu có).
  • Bầu Bộ Chính trị; bầu Tổng Bí thư trong số Uỷ viên Bộ Chính trị; thành lập Ban Bí thư gồm Tổng Bí thư, một số Ủy viên Ban Bí thư do Ban Chấp hành Trung ương bầu trong số Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và một số Ủy viên Bộ Chính trị do Bộ Chính trị phân công; bầu Uỷ ban Kiểm tra Trung ương; bầu Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Trung ương trong số Uỷ viên Uỷ ban Kiểm tra Trung ương. Quyết định số lượng Uỷ viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư và Uỷ viên Uỷ ban Kiểm tra Trung ương.
  • Triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc thường lệ 5 năm một lần; có thể triệu tập sớm hoặc muộn hơn, nhưng không quá một năm. Khi Ban Chấp hành Trung ương xét thấy cần hoặc khi có hơn một nửa số cấp ủy trực thuộc yêu cầu thì Ban Chấp hành Trung ương triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc bất thường.

Ban Chấp hành trung ương có thẩm quyền giới thiệu người ra ứng cử Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch nước và Thủ tướng chính phủ để Quốc hội thảo luận và phê chuẩn [2][3], tham gia ý kiến về nhân sự Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Quốc hội, Phó Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án Nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm các uỷ ban của Quốc hội và các thành viên Chính phủ.

Theo Điều lệ Đảng thì Ban Chấp hành Trung ương quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Bộ Chính trị. Bộ Chính trị, Ban Bí thư quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả đảng viên là cán bộ thuộc Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, khiển trách, cảnh cáo Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên.

Điều lệ Đảng sửa đổi năm 2011 có quy định mới mở rộng quyền Ban Chấp hành Trung ương "căn cứ tình hình thực tế quyết định chỉ đạo thí điểm một số chủ trương mới". Theo quy định hiện hành thì Ban Chấp hành Trung ương có quyền xem xét về vấn đề Hiến pháp, trước khi Quốc hội thông qua.

Phương thức làm việc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Họp thường lệ sáu tháng một lần; họp bất thường khi cần. Các phiên họp của Ban Chấp hành Trung ương đều là họp kín, biểu quyết theo quy định của đảng. Tổng Bí thư chủ trì công việc của Ban Chấp hành Trung ương, kết luận các phiên họp Hội nghị Trung ương. Các ủy viên Bộ Chính trị thay nhau điều hành các phiên họp của Trung ương Đảng.

Thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

Thành viên Ban Chấp hành Trung ương thường gồm các quan chức cấp cao trong bộ máy đảng, Nhà nước, đoàn thể ở cấp trung ương và cấp tỉnh. Các Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương thường đảm nhiệm các cương vị quan trọng: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội, Thường trực Ban bí thư, Phó Chủ tịch nước, Phó Thủ tướng, Phó chủ tịch Quốc hội, trưởng và phó các ban của đảng, Bộ trưởng các bộ và chức vụ tương đương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Tổng Tham mưu trưởng quân đội, Thứ trưởng Bộ Quốc phòngBộ Công an, Chủ nhiệm các ủy ban quan trọng của Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Bí thư các tỉnh thành, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu các đoàn thể Phụ nữ, Nông dân, Thanh niên, Liên đoàn Lao động, Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước, TGĐ Thông tấn xã Việt Nam, Đài Truyền hìnhĐài Tiếng nói Việt Nam, Giám đốc Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản, Báo Nhân Dân, Tư lệnh các quân chủng, quân khu, bộ đội biên phòng, Tổng Kiểm toán Nhà nước và một số chức vụ quan trọng khác.

Quyền hạn của các ủy viên Trung ương Đảng theo quy định của Đảng, bao gồm tham gia quyết định các nhiệm vụ thuộc thẩm quyền Ban Chấp hành Trung ương, và các quyền khác. Các ủy viên dự khuyết không có quyền biểu quyết.

Tại kỳ họp 6 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã bàn và quyết nghị quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước, với các tiêu chuẩn được đặt ra với Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương, Uỷ viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước.

Theo quy định hiện hành thì hàng năm, sẽ lấy phiếu tín nhiệm các thành viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, với đối tượng ghi phiếu tín nhiệm là các ủy viên Ban Chấp hành Trung ương.[4]

Cơ quan tham mưu giúp việc[sửa | sửa mã nguồn]

Ban Chấp hành Trung ương Đảng có 8 cơ quan tham mưu giúp việc là:

  1. Văn phòng Trung ương Đảng
  2. Ban Tổ chức Trung ương
  3. Ban Tuyên giáo Trung ương
  4. Ban Dân vận Trung ương
  5. Ban Đối ngoại Trung ương
  6. Ban Kinh tế Trung ương
  7. Ban Nội chính Trung ương
  8. Ủy ban Kiểm tra Trung ương

Các đơn vị sự nghiệp trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện có bốn cơ quan đào tạo cán bộ, nghiên cứu, báo chí, xuất bản. Về mặt tổ chức, các cơ quan này tương đương với các Ban Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam:

  1. Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
  2. Báo Nhân dân
  3. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật
  4. Tạp chí Cộng sản

Ban Chấp hành Trung ương trước Đại hội lần thứ nhất của đảng[sửa | sửa mã nguồn]

Ban Chấp hành Trung ương lâm thời thành lập sau Hội nghị thành lập đảng tháng 2 năm 1930 có: Trịnh Đình Cửu (phụ trách Ban chấp hành lâm thời), Nguyễn Hới, Trần Văn Lan, Nguyễn Phong Sắc, Lê Mao, Phạm Hữu Lầu, Hoàng Quốc Việt, Lưu Lập Đạo (bổ sung), sau đến tháng 7 bổ sung thêm Trần Phú. Ít lâu sau hội nghị trên, Trịnh Đình Cửu xin rút khỏi Ban Chấp hành Trung ương lâm thời để nhận công tác ở Xử uỷ Bắc Kỳ. Một số bị Pháp bắt sau đó (Nguyễn Hới, Hoàng Quốc Việt, Phạm Hữu Lầu, sau Nguyễn Hới hi sinh). Xứ ủy Nam Kỳ cử Nguyễn Trọng Nhã và Ngô Đức Trì tham gia Ban Chấp hành TW lâm thời.

Sau Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ nhất tháng 10 năm 1930, Ban Chấp hành Trung ương gồm 6 ủy viên: Trần Phú, Ngô Đức Trì, Nguyễn Trọng Nhã, Trần Văn Lan, Nguyễn Phong Sắc, Lê Mao. Tổng Bí thư: Trần Phú.

Phong trào nổi dậy 1930-1931, nổi bật là Xô-viết Nghệ Tĩnh bị Pháp đàn áp. Tổ chức của đảng bị tan vỡ, kể cả Ban Chấp hành TW, Trần Phú, Trần Văn Lan, Nguyễn Phong Sắc... hi sinh. Cuối năm 1931, Lê Hồng Phong trở về Trung Quốc bắt liên lạc với cán bộ Việt Nam ở nước ngoài như: Hoàng Đình Giong, Hoàng Văn Thụ... mục đích lập lại Ban chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng và thảo chương trình hành động của Đảng.

Tháng 3 năm 1934, Ban chỉ huy ở ngoài được thành lập gồm có Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Dựt do Lê Hồng Phong làm Bí thư. Sau đó còn có thêm các người khác như Phùng Chí Kiên. Ban chỉ huy ở ngoài của Đảng trước Đại hội I có chức năng như là Ban chấp hành Trung ương Lâm thời và được Quốc tế cộng sản công nhận, quy định rõ chức năng nhiệm vụ.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Abuza, Zachary. Renovating Politics in Contemporary Vietnam. Boulder, CO: Lynne Rienner Publishers, 2001. Trang 19.
  2. ^ Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp, giới thiệu người ra ứng cử Chủ tịch Quốc hội http://www.vnexpress.net/GL/Phap-luat/2001/05/3B9B0AB6/
  3. ^ Đề nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chủ tịch nước giới thiệu http://baobackan.org.vn/channel/1021/2006/06/10517/
  4. ^ Quy định số 165-QĐ/TW ngày 18/2/2013 của Bộ Chính trị

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa

I | II | III | IV | V | VI | VII | VIII | IX | X | XI