Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá I

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá I được bầu ra tại Đại hội lần thứ I họp tại Macao tháng 3 năm 1935. Trong suốt khóa (1935-1951), một số ủy viên Trung ương đã hy sinh và một số người mới được bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương.

Ủy viên chính thức[sửa | sửa mã nguồn]

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá I được bầu ra tại Đại hội lần thứ I gồm 13 ủy viên với 9 uỷ viên chính thức và 4 uỷ viên dự khuyết: Lê Hồng Phong (Lítvinốp), Đinh Thanh, Hoàng Đình Giong, Nguyễn Văn Dựt (Svan), Võ Văn Ngân, Ngô Tuân, Võ Nguyên Hiến, Phan Đình Hy (Bí thư Xứ uỷ Ai Lao), Phạm Văn Xô, Nguyễn Ái Quốc, Bich Zhan, Trần Văn Vi. Nguyễn Ái Quốc là Ủy viên dự khuyết và là đại diện của Đảng Cộng sản Đông Dương bên cạnh Quốc tế Cộng sản. Có tài liệu cho Hà Huy Tập, Phùng Chí Kiên trong Ban chỉ huy ở ngoài, không tham gia Ban chấp hành TW được bầu tại Đại hội, trong giai đoạn đầu sau Đại hội. Đến giữa 1936 trong số 13 ủy viên (1 chưa được bầu), 9 bị bắt hoặc mất liên lạc, Đinh Thanh hy sinh; Ban Thường vụ 5 người, sau bổ sung 1 người, cũng một số mất liên lạc. Theo quy định khi đó Ban chỉ huy ở ngoài lý thuyết có quyền hơn Ban chấp hành TW trong nước, và tồn tại một thời gian, nhưng nhiệm vụ được điều chỉnh (Ban này thành lập năm 1934, sau Đại hội I gồm Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong, Phùng Chí Kiên thay nhau, một thời gian là Nguyễn Văn Dựt, sau bổ sung Trần Văn Kiết).

Tại một số Hội nghị Trung ương sau Đại hội lần thứ nhất của đảng có bầu lại Ban Chấp hành Trung ương. Sau hội nghị Thượng Hải tháng 7 năm 1936, Ban Chấp hành TW lâm thời lập lại tháng 10, gồm 11 ủy viên trong nước và 2 ủy viên ở ngoài (Lê Hồng Phong, Nguyễn Ái Quốc). Lê Hồng Phong và Phùng Chí Kiên (khi đó hoạt động trong nước) là đại diện Ban Chỉ huy ở ngoài trong Ban Chấp hành TW. Ban Thường vụ gồm 5 người, trong đó có Hà Huy Tập (Tổng Bí thư từ tháng 7).

Tháng 9 năm 1937 Hội nghị TW bầu Ban Chấp hành TW gồm 11 thành viên, trong đó 9 ở trong nước Hà Huy Tập, Võ Văn Ngân, Nguyễn Chí Diểu, Phan Đăng Lưu, Hạ Bá Cang (Hoàng Quốc Việt), Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Văn Trọng (Nguyễn Chí Diểu), Phùng Chí Kiên, Võ Văn Tần và 2 ở nước ngoài (Lê Hồng Phong ở Trung Quốc và Nguyễn Ái Quốc ở Quốc tế Cộng sản); cử ra Ban Thường vụ Trung ương gồm 5 ủy viên (Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Nguyên Chí Diểu, Võ Văn Tần), Tổng Bí thư là Hà Huy Tập. Hội nghị tháng 3 năm 1938 bầu TW mới gồm gồm 11 uỷ viên, trong đó Nguyễn Ái Quốc và Phùng Chí Kiên đang hoạt động ở nước ngoài. Ban Thường vụ Trung ương gồm 5 uỷ viên là Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong, Võ Văn Tần, Nguyễn Chí Diểu; Ban Bí thư gồm Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong. Nguyễn Văn Cừ làm Tổng Bí thư...

Một Ban Chấp hành Trung ương lâm thời đã được thành lập đầu 1940, gồm Đặng Xuân Khu (Trường Chinh), Hoàng Văn Thụ và Hạ Bá Cang (Ban Thường vụ Trung ương), Đặng Xuân Khu được chỉ định làm Quyền Tổng Bí thư của Đảng, thay Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã bị Pháp bắt ngày 17-1-1940. Ngoài ra có Phan Đăng Lưu.

Nhân sự Ban Chấp hành Trung ương giai đoạn 1935 đến trước đại hội II năm 1951 điều chỉnh trong các năm sau đó (danh sách chưa đầy đủ):

  1. Lê Hồng Phong
  2. Hà Huy Tập
  3. Nguyễn Văn Cừ
  4. Võ Văn Ngân
  5. Trường Chinh (từ 1940)
  6. Đinh Thanh
  7. Hoàng Văn Thụ
  8. Hoàng Văn Nọn
  9. Nguyễn Văn Dựt
  10. Nguyễn Chí Diểu
  11. Võ Nguyên Hiến
  12. Thẩu Xỉ (người Lào)
  13. Ngô Tuân
  14. Nguyễn Ái Quốc (từ 1941)
  15. Lê Duẩn
  16. Phan Đăng Lưu (từ năm 1938)
  17. Võ Văn Tần (từ năm 1937)
  18. Nguyễn Hữu Tiến
  19. Phùng Chí Kiên
  20. Hoàng Quốc Việt
  21. Nguyễn Chí Thanh (từ tháng 8-1945)
  22. Hoàng Văn Hoan (từ tháng 8-1945)
  23. Chu Văn Tấn (từ tháng 8-1945)
  24. Vũ Anh (từ 1941)
  25. Võ Nguyên Giáp (từ tháng 8-1945)
  26. Lê Đức Thọ (chính thức từ tháng 8-1945, trước đó từ 1944 là ủy viên dự khuyết)
  27. Nguyễn Lương Bằng (chính thức từ tháng 8-1945, trước đó là ủy viên dự khuyết)
  28. Tôn Đức Thắng, từ 1947
  29. Phạm Văn Xô
  30. Hoàng Đình Giong
  31. Đinh Văn Di
  32. Bùi San
  33. Hồ Xuân Lưu
  34. Nguyễn Văn Minh

Ủy viên dự khuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Ban Thường vụ Trung ương[sửa | sửa mã nguồn]

Ban Thường vụ Trung ương do Đại hội I (1935) bầu ra có 5 người, đứng đầu là Lê Hồng Phong. Nhân sự Ban Thường vụ được điều chỉnh những năm sau đó (danh sách hiện chưa sưu tầm được đầy đủ). Năm 1936 Hà Huy Tập được cử giữ chức Tổng Bí thư. Năm 1937, Nguyễn Văn Cừ vào Ban Thường vụ. Tại hội nghị Trung ương năm 1938 Ban Thường vụ có Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong, Võ Văn Tần và Nguyễn Chí Diểu. Năm 1939 Lê Duẩn được cử vào Ban Thường vụ. Năm 1940, Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt lập ban lãnh đạo.

Ban Thường vụ Trung ương được bầu ra tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ 8, khóa I (họp từ ngày 10 đến ngày 19 tháng 5 năm 1941), gồm Trường Chinh, Hoàng Văn ThụHoàng Quốc Việt, đứng đầu là Tổng Bí thư Trường Chinh.

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Ban Thường vụ Trung ương gồm Hồ Chí Minh, Trường Chinh,Võ Nguyên Giáp, Lê Đức Thọ, Hoàng Quốc Việt, sau bổ sung thêm Nguyễn Lương Bằng.

Tổng Bí thư[sửa | sửa mã nguồn]

Trên thực tế, những năm 1935-1938, Lê Hồng Phong và Hà Huy Tập là những lãnh đạo cao nhất. Lê Hồng Phong là Ủy viên Ban chấp hành Quốc tế cộng sản, trong khi Hà Huy Tập là Bí thư Ban Chỉ huy Hải ngoại (có quyền hơn Ban chấp hành Trung ương thời điểm đó) trước khi là Tổng Bí thư đảng. Năm 1938 Nguyễn Văn Cừ làm Tổng Bí thư và sau đó Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập bị Pháp bắt. Kể từ năm 1941 khi Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) về nước thì ông là lãnh tụ của đảng, chủ trì nhiều cuộc họp của TW và Ban Thường vụ. Trường Chinh trong vai trò Tổng Bí thư cũng chủ trì nhiều cuộc họp của TW cũng như Ban Thường vụ khi Hồ Chí Minh bận hoặc không có điều kiện dự.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa

I | II | III | IV | V | VI | VII | VIII | IX | X | XI