Văn Tiến Dũng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Văn Tiến Dũng
Van Tien Dung.jpg
Đại tướng Văn Tiến Dũng
Tiểu sử
Biệt danh Lê Hoài
Quốc tịch Flag of Vietnam.svg Việt Nam
Sinh

2 tháng 5, 1917

Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, Hà Nội
Mất

17 tháng 3, 2002 (84 tuổi)

Flag of Vietnam.svg Bệnh viện Trung ương quân đội 108, Hà Nội
Binh nghiệp
Thuộc Flag of Vietnam.svgQuân đội nhân dân Việt Nam
Năm tại ngũ 1945 - 1986
Cấp bậc Vietnam People's Army General.jpgĐại tướng
Chỉ huy
Tham chiến Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971)
Điện Biên Phủ trên không (1972)
Trị - Thiên (1972)
Chiến dịch giải phóng Tây Nguyên (1975)
Chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Gia Định (tháng 4 năm 1975).
Khen thưởng Huân chương Sao Vàng
Huân chương Hồ Chí Minh
Công việc khác

Văn Tiến Dũng (2 tháng 5, 191717 tháng 3, 2002) là một vị Đại tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông từng là Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (1953-1978), Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (1980-1986), Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương (1984-1986), một trong những tướng lĩnh danh tiếng của Việt Nam, người chỉ huy trực tiếp chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tướng Văn Tiến Dũng, còn có bí danh là Lê Hoài, sinh ngày 2 tháng 5 năm 1917 tại xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Nhà nghèo, không ruộng đất, mẹ mất sớm, cậu bé họ Văn theo cha ra Hà Nội. Sau khi cha đột ngột qua đời năm cậu 15 tuổi, Văn Tiến Dũng đành phải bỏ học, ở nhà trợ giúp cho anh làm nghề thợ may. 17 tuổi, Văn Tiến Dũng lại ra Hà Nội làm công cho các xưởng dệt Thanh Văn (Hàng Đào), sau chuyển sang xưởng Đức Xương Long, Cự Chung (Hàng Bông).

Ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 11 năm 1937. Từ 1939 đến 1944, ông bị thực dân Pháp bắt giam 3 lần, vượt ngục 2 lần. Tháng 11 năm 1939, ông bị Pháp đày đi nhà tù Sơn La. Hai năm sau, trên đường bị địch áp giải từ Sơn La về Hà Nội, ông đã trốn thoát.

Từ tháng 12 năm 1942 đến tháng 3 năm 1943, ông đã hoạt động dưới danh nghĩa nhà sư tại Chùa Bột Xuyên (nay thuộc huyện Mỹ Đức, Hà Nội). Ông từng đảm nhiệm chức vụ Bí thư Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh, Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ năm 1944.

Chính trong thời kỳ này, ông đã làm quen với "cô nương" Nguyễn Thị Kỳ (tên khai sinh là Cái Thị Tám) cùng hoạt động cách mạng và sau đó họ đã trở thành vợ chồng.

Tháng 1 năm 1945, ông bị chính quyền thực dân Pháp kết án tử hình vắng mặt.

Tháng 4 năm 1945, ông được cử làm Uỷ viên Thường vụ Ủy ban Quân sự Cách mạng Bắc Kỳ (Bộ Tư lệnh Quân sự miền Bắc Đông Dương), được phân công phụ trách tổ chức Chiến khu Quang Trung, kiêm Bí thư Khu uỷ Chiến khu Quang Trung. Tháng 8 năm 1945, ông chỉ đạo vũ trang giành chính quyền ở các tỉnh Hoà Bình, Ninh BìnhThanh Hoá.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông được giao nhiệm vụ lập chiến khu II (gồm 8 tỉnh phía tây bắc và tây nam Bắc Bộ), làm Chính uỷ Chiến khu, tham gia Quân uỷ Trung ương. Tháng 12 năm 1946, ông là Cục trưởng Cục Chính trị Quân đội Quốc gia Việt Nam (nay là Tổng Cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam), Phó bí thư Quân uỷ Trung ương. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ông từng là Đại đoàn trưởng kiêm Chính uỷ Đại đoàn 320.

Từ tháng 11 năm 1953 đến tháng 5 năm 1978, ông giữ chức Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, chỉ gián đoạn một thời gian ngắn vào năm 1954, khi ông làm Trưởng đoàn đại biểu của Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam trong Ủy Ban Liên hiệp đình chiến thi hành Hiệp định Genève về Đông Dương.

Ông được giao trọng trách chỉ đạo trực tiếp nhiều chiến dịch lớn: từ chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971), Trị - Thiên (1972), Chiến dịch Tây Nguyên (1975). Tháng 4 năm 1975, ông giữ chức Tư lệnh Chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Gia Định (sau đổi tên thành Chiến dịch Hồ Chí Minh).

Từ 1979 đến 1986, Đại tướng Văn Tiến Dũng đã dẫn dắt Quân đội Nhân dân Việt Nam chống lại quân Trung Quốc xâm lược. (Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979Xung đột biên giới Việt Nam-Trung Quốc 1979-1990).

Từ tháng 5 năm 1978 đến năm 1986, ông được giao nhiệm vụ làm Phó Bí thư thứ nhất, rồi Bí thư Quân ủy Trung ương. Từ tháng 12 năm 1980 đến 1986, ông giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng.

Năm 1986, tại Đại hội Đảng bộ toàn quân, ông không được bầu làm Đại biểu Chính thức đi dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, do đó không vào được Bộ Chính trị và phải rời cương vị Bộ trưởng Quốc phòng.

Ông từ trần hồi 17h30' ngày 17/3/2002 tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 ở Hà Nội, hưởng thọ 85 tuổi.

Lịch sử thụ phong quân hàm[sửa | sửa mã nguồn]

Năm thụ phong 1948 1959 1959 1974
Quân hàm Vietnam People's Army Major General.jpg Vietnam People's Army Lieutenant General.jpg Vietnam People's Army Colonel General.jpg Vietnam People's Army General.jpg
Cấp bậc Thiếu Tướng Trung Tướng
(thăng vượt cấp[1])
Thượng Tướng Đại Tướng

Danh hiệu tôn vinh[sửa | sửa mã nguồn]

Hà Nội có đường mang tên ông đoạn nối quốc lộ 32 và Liên Xã, ở Đà Nẵng - địa bàn quận Cẩm Lệ, tên ông được đặt cho 1 con đường ở thành phố Sơn La[2] và sắp tới sẽ được đặt tên cho một đường phố ở thành phố Hồ Chí Minh[3].

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Phu nhân là bà Nguyễn Thị Kỳ. Con trai là Văn Tiến Tình, sinh năm 1943 được Nhà nước cử sang Liên Xô học ngành tên lửa, tham gia chiến đấu bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng, là tham mưu trưởng trung đoàn, quân hàm đại tá, năm 1990 nghỉ hưu.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ SẮC LỆNH CỦA CHỦ TỊCH PHỦ SỐ 036/SL NGÀY 31 THÁNG 8 NĂM 1959
  2. ^ “Giá đất tỉnh Sơn La - 2009”. Báo điện tử Sơn La. 2009. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2010. 
  3. ^ Minh Nam (9 tháng 11 năm 2010). “TP.HCM thêm 70 tên đường mới - TP.HCM sẽ có đường mang tên Đại tướng Văn Tiến Dũng”. Báo Thanh niên Online. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2010. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]