Sơn La (thành phố)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tọa độ: 21°19′56″B, 103°54′40″Đ

Sơn La (thành phố)
Địa lý
Trực thuộc tỉnh Sơn La
Vị trí Phía tây của tỉnh Sơn La
Diện tích 324,93 km² (2008) [1]
Số xã/phường 7 phường, 5
Dân số
Dân số 107.282 người (2008) [1];
91.720 người (2009) [2]
 - Thành thị 61,98 [2]
 - Nông thôn 38,02 [2]
Mật độ 330 người/km² (2008);
282 người/km² (2009)
Thông tin khác
Công nhận thành phố 2008 [1]
Xếp loại đô thị 3 [cần dẫn nguồn]
TP Sơn La ở Việt Nam
TP Sơn La
Vị trí của thành phố Sơn La

Thành phố Sơn La là tỉnh lỵ của tỉnh Sơn La, vùng Tây Bắc Việt Nam. Trước là thị xã Sơn La, được chuyển lên thành phố theo Nghị định số 98/2008/NĐ-CP ngày 3/9/2008 của Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Ngày 26/10/2008, UBND Tỉnh Sơn La và UBND Thành phố Sơn La đã tổ chức lễ công bố nghị định của Chính phủ về thành lập thành phố Sơn La thuộc tỉnh Sơn La.[3]

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Sơn La nằm ở tọa độ 21015' - 21031' Bắc và 103045' - 104000' Đông, cách Hà Nội khoảng 302 km về phía Tây Bắc. Phía Tây và phía Bắc giáp huyện Thuận Châu, phía Đông giáp huyện Mường La, phía Nam giáp huyện Mai Sơn. Quốc lộ 6 đi qua thành phố, nối thành phố với thành phố Điện Biên Phủthành phố Hòa Bình.

Diện tích, dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Sơn La rộng 32.493km². Dân số là 95.000 người (2010) [1].

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố có 7 phườngQuyết Tâm, Quyết Thắng, Tô Hiệu, Chiềng Lề, Chiềng Sinh, Chiềng An, Chiềng Cơi và 5 gồm Chiềng Cọ, Chiềng Đen, Chiềng Ngần, Chiềng Xôm, Hua La.

Di tích[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Sơn La có một di tích lịch sử đáng chú ý, đó là bia văn của hoàng đế Lê Thái Tông tại cửa động La. Tháng 5 năm 1440, trên đường trở về sau khi dẫn quân chinh phạt vùng Tây Bắc thắng lợi, Lê Thái Tông đã nghỉ tại động La và sáng tác bài thơ "Quế Lâm Ngự Chế" gồm 140 chữ Hán.[cần dẫn nguồn] Di tích này được phát hiện vào năm 1965; năm 1992 được công nhận là di tích văn hóa lịch sử quốc gia. Cách hang La khoảng 200 mét là đền Quế Lâm tự thờ vua Lê Thái Tông mới được xây dựng vào năm 2001. Ngoài ra cũng phải kể đến di tích lịch sử cách mạng nhà ngục Sơn La.

Kinh tế - Xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Sơn La là trung tâm hành chính, kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế của cả tỉnh, có hệ thống giao thông đường bộ khá thuận lợi tạo điều kiện cho thành phố trong việc giao lưu thông thương hàng hoá, trao đổi thông tin kỹ thuật, tiếp thu các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến và khả năng thu hút vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh.

Tại Thành phố Sơn La có trường Đại học Tây bắc, bệnh viện đa khoa khu vực 500 giường.

Địa hình[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Sơn La nằm trong vùng kaste hóa mạnh, địa hình chia cắt phức tạp, núi đá cao xen lẫn đồi, thung lũng, lòng chảo. Diện tích đất canh tác nhỏ hẹp, thế đất dốc dưới 250 chiếm tỷ lệ thấp. Một số khu vực có các phiêng bãi tương đối bằng phẳng thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, tập trung ở các xã Chiềng Ngần, Chiềng Đen, Chiềng Xôm và phường Chiềng Sinh. Độ cao bình quân từ 700 – 800 m so với mực nước biển.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Khí hậu thành phố chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều; mùa đông khô lạnh, ít mưa.

Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9. Lượng mưa tập trung nhiều nhất vào tháng 7, 8, 9. Do địa hình nghiêng dốc, nên vào các tháng này thường có lụt, đất bị rửa trôi mạnh, bạc màu nhanh.

Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau cộng với gió Tây khô nóng gây thiếu nước nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển kinh tế đặc biệt sản xuất nông - lâm nghiệp gặp rất nhiều khó khăn.

Nhiệt độ không khí: Trung bình 220C. Cao nhất 370C. Thấp nhất 20C.

Độ ẩm không khí: Trung bình: 81%. Thấp nhất: 25%.

Nắng: Tổng số giờ nắng là 1885 giờ.

Lượng bốc hơi bình quân 800 mm/năm.

Mưa: Lượng mưa bình quân: 1.299 mm/năm, số ngày mưa: 137 ngày.

Gió thịnh hành theo 2 hướng gió chính: gió mùa đông bắc từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau; gió tây nam từ tháng 3 đến tháng 9. Từ tháng 3 đến tháng 4 còn chịu ảnh hưởng của gió Tây (nóng và khô). Một số khu vực của thành phố còn bị ảnh hưởng của sương muối từ tháng 12 đến tháng 1 năm sau.

TÀI NGUYÊN NHÂN VĂN[sửa | sửa mã nguồn]

Theo thông tin trên tang web chính thức của tỉnh thì tỉnh Sơn La trước thuộc bộ Tân Hưng trong 15 bộ thời vua Hùng, tuy nhiên không thấy tài liệu nào khác có giá trị khảng định điều này kết ngoài. Thành Phố gồn 7 dân tộc, trong đó đông nhất là dân tộc Thái và dân tộc Kinh, các dân tộc còn lại chiếm tỷ lệ thấp. Mỗi dân tộc vẫn giữ nét đặc trưng riêng trong đời sống văn hoá truyền thống, hoà nhập làm phong phú, đa dạng bản sắc dân tộc, bao gồm văn học nghệ thuật, lịch sử, tín ngưỡng.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b Nghị định số 98/2008/NĐ-CP ngày 03 tháng 9 năm 2008 về việc thành lập thành phố Sơn La thuộc tỉnh Sơn La.
  2. ^ a ă â Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Hà Nội, 6-2010. Biểu 2, tr.10.
  3. ^ http://www.sonla.gov.vn/sonla/Vietnam/GT/2192200811131026000/


Việt Nam Các đơn vị hành chính cấp huyện thị trực thuộc tỉnh Sơn La, Việt Nam
Thành phố (1): Sơn La
Huyện (11): Bắc Yên | Mai Sơn | Mộc Châu | Mường La | Phù Yên | Quỳnh Nhai | Sông Mã | Sốp Cộp | Thuận Châu | Vân Hồ | Yên Châu