Bến Tre (thành phố)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bến Tre
Thành phố trực thuộc tỉnh
Vietnam BenTre Bridge.jpg
Cầu Bến Tre cũ nhìn từ phía Thạnh An
Địa lý
Tọa độ: 10°14′25″B 106°22′44″Đ / 10,24028°B 106,37889°Đ / 10.24028; 106.37889 (Phường 1)Tọa độ: 10°14′25″B 106°22′44″Đ / 10,24028°B 106,37889°Đ / 10.24028; 106.37889
Diện tích 71,11 km2[1]
Dân số (2013)  
 Tổng cộng 150.530[1]
 Mật độ 2.116 người/km²
Dân tộc Việt, Hoa,
Khmer Crộm
Hành chính
Quốc gia  Việt Nam
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Tỉnh Bến Tre
 Chủ tịch UBND Cao Thành Hiếu
 Chủ tịch HĐND Nguyễn Văn Xuân
 Trụ sở UBND Số 05, Trần Quốc Tuấn, Phường 4.
Phân chia hành chính 10 phường 7 xã.
Mã hành chính 829
Website http://www.bentre.gov.vn

Thành phố Bến Tre là trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Bến Tre.[2] Ngày 9 tháng 8 năm 2007, thành phố được Bộ Xây dựng ký quyết định công nhận là đô thị loại III. Ngày 11 tháng 8 năm 2009, Thủ tướng chính phủ đã ký Nghị quyết số 34/NQ-CP[2][3] về việc thành lập thành phố Bến Tre trên cơ sở thị xã Bến Tre thuộc tỉnh Bến Tre.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Bến Tre nằm trên cù lao Bảo, chung với các huyện Châu Thành, Giồng Trôm, Ba Tri. Thành phố có hình tam giác:[3]:

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Bến Tre gồm 10 phường và 7 xã:

  1. Phường 1
  2. Phường 2
  3. Phường 3
  4. Phường 4
  5. Phường 5
  6. Phường 6
  7. Phường 7
  8. Phường 8
  9. Phường Phú Khương
  10. Phường Phú Tân
  1. Bình Phú
  2. Mỹ Thạnh An
  3. Nhơn Thạnh
  4. Phú Hưng
  5. Phú Nhuận
  6. Sơn Đông
  7. Mỹ Thành

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay, cơ sở hạ tầng trên địa bàn thành phố đang được tập trung đầu tư xây dựng. Việc nhiều công trình đã được hoàn thành và đưa vào sử dụng đã bước đầu tạo nên diện mạo cho thành phố như: Quốc lộ 60 - tuyến tránh thành phố Bến Tre, Đại lộ Đồng Khởi (đây là 2 tuyến đường rộng và đẹp nhất của thành phố Bến Tre nói riêng và tỉnh Bến Tre nói chung với 3, 4 làn xe, có dải phân cách giữa, cây xanh, chiếu sáng, vỉa hè); Đường Hùng Vương, Đường Nguyễn Văn Tư, Cầu Bến Tre 2, Hồ Trúc Giang. Trước khi hoàn thành cầu Rạch Miễu, đường bộ từ thành phố Bến Tre nói riêng và tỉnh Bến Tre nói chung với các tỉnh xung quanh đều qua phà Rạch Miễu.

Kinh tế xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là nơi có nền kinh tế phát triển nhất tỉnh, các xí nghiệp may mặc, chế biến thực phẩm tập trung chủ yếu tại phường 8 và phường Phú Khương. Ngày 11 tháng 8 năm 2009, thành phố Bến Tre chính thức trở thành thành phố trực thuộc tỉnh. Đây là nơi có nền kinh tế phát triển nhất Tỉnh Bến Tre. Tốc độ phát triển kinh tế (GDP) tăng 8,28% năm 2008.[4]. Thu nhập bình quân đầu người năm 2008 trên 28 triệu đồng.[5]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bến Tre đã có từ thời nhà Nguyễn và trở thành trung tâm hành chính kể từ khi Pháp đặt dinh tham biện (inspection) đầu tiên bên bờ rạch Bến Tre. Năm 1871, sở tham biện Bến Tre là một trong số 7 sở tham biện bị bãi bỏ để sáp nhập với sở tham biện Mỏ Cày. Ngày 2 tháng 9 năm 1871, sở tham biện Mỏ Cày dời lỵ sở về chỗ cũ bên rạch Bến Tre. Ngày 1 tháng 1 năm 1900, Pháp bỏ sở tham biện để thành lập tỉnh Bến Tre, tỉnh lỵ Bến Tre được nâng cấp từ sở lỵ sở tham biện Mỏ Cày trước đó.

Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ban hành Sắc lệnh 143-NV để " thay đổi địa giới và tên Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn cùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt Nam". Địa giới và địa danh các tỉnh ở miền Nam thay đổi nhiều, một số tỉnh mới được thành lập. Theo Sắc lệnh này, địa phận Nam Phần của Việt Nam Cộng Hoà gồm Đô thành Sài Gòn và 22 tỉnh. Lúc này, tỉnh Kiến Hòa được thành lập trên phần đất của tỉnh Bến Tre trước đó; còn tỉnh lỵ lại bị đổi tên là "Trúc Giang", về mặt hành chánh thuộc xã An Hội, quận Trúc Giang.

Thời Việt Nam Cộng hòa, quận Trúc Giang được thành lập do đổi tên từ quận Châu Thành trước đó, gồm có 3 tổng. Sau năm 1965, các tổng giải thể. Ngày 26 tháng 5 năm 1966, sáp nhập xã Sơn Đông tách từ quận Hàm Long và xã Nhơn Thạnh tách từ quận Giồng Trôm vào quận Trúc Giang.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, quận Trúc Giang bị giải thể, nhập địa bàn vào quận huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Sau năm 1976, tách đất huyện Châu Thành tái lập thị xã Bến Tre bao gồm 5 phường: 1, 2, 3, 4, 5 và 6 xã: An Hòa, Bình Nguyên, Bình Phú, Mỹ Hòa, Mỹ Thạnh An, Phú Khương. Ngày 14 tháng 3 năm 1984[6], giải thể 3 xã Bình Nguyên, Mỹ Hòa, An Hòa để thành lập 3 phường là 6, 7, 8. Ngày 15 tháng 3 năm 1984, được sáp nhập thêm các xã Nhơn Thạnh, Phú Nhuận tách từ huyện Giồng Trôm, xã Phú Hưng tách từ huyện Châu Thành[7].

Ngày 11 tháng 4 năm 1985, tách xã Sơn Đông của huyện Châu Thành nhập vào thị xã Bến Tre[8]. Ngày 25 tháng 6 năm 1999, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 41/1999/NĐ-CP[9], về việc thành lập phường Phú Khương thuộc thị xã Bến Tre, tỉnh Bến Tre trên cơ sở xã Phú Khương. Đến cuối năm 2002, thị xã Bến Tre có 9 phường và 6 xã.

Ngày 9 tháng 2 năm 2008, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 08/NĐ-CP[10], về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã, phường để thành lập xã, phường thuộc huyện Mỏ Cày, huyện Chợ Lách, thị xã Bến Tre, điều chỉnh địa giới hành chính huyện Mỏ Cày, huyện Chợ Lách để thành lập huyện Mỏ Cày Bắc thuộc tỉnh Bến Tre; theo đó, thành lập phường Phú Tân trên cơ sở điều chỉnh 295,53 ha diện tích tự nhiên và 4.664 nhân khẩu của phường Phú Khương; 64,6 ha diện tích tự nhiên và 1.825 nhân khẩu của xã Phú Hưng.

Ngày 11 tháng 8 năm 2009, chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 34/2009/NQ-CP về việc thành lập thành phố Bến Tre trực thuộc tỉnh Bến Tre trên cơ sở toàn bộ diện tích địa lý và hành chính thị xã Bến Tre hiện tại. Tiếp đến, ngày 2 tháng 9 năm 2009, UBND tỉnh Bến Tre đã làm lễ công bố Nghị quyết 34, thị xã Bến Tre chính thức trở thành thành phố Bến Tre.[11]

Ngày 5 tháng 4 năm 2013, chính phủ ra Nghị quyết số 49/NQ-CP [12] điều chỉnh địa giới hành chính huyện Châu Thành để mở rộng địa giới hành chính thành phố Bến Tre; theo đó, chuyển xã Mỹ Thành thuộc huyện Châu Thành về thành phố Bến Tre quản lý.

Một góc Thành phố Bến Tre nhìn từ Sông Bến Tre

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Mở rộng địa giới hành chính thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ
  2. ^ a ă Nghị quyết số 34/NQ - CP của Thủ tướng Chính phủ ngày 11/8/2009
  3. ^ a ă Nghị quyết số 34/NQ-CP về việc thành lập thành phố Bến Tre thuộc tỉnh Bến Tre do Chính phủ ban hành
  4. ^ Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 6 tháng đầu năm 2008
  5. ^ Thành lập thành phố Bến Tre thuộc tỉnh Bến Tre
  6. ^ Quyết định 41-HĐBT năm 1984 phân vạch địa giới một số xã, thị trấn, thị xã thuộc tỉnh Bến Tre do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
  7. ^ Quyết định 46-HĐBT năm 1984 phân vạch địa giới thị xã Bến tre thuộc tỉnh Bến Tre, tỉnh Bến Tre
  8. ^ Quyết định 114-HĐBT năm 1985 về việc điều chỉnh địa giới huyện Châu Thành và thị xã Bến Tre, tỉnh Bến Tre
  9. ^ Nghị định 41/1999/NĐ-CP về việc thành lập phường Phú Khương thuộc thị xã Bến Tre, tỉnh Bến Tre
  10. ^ Nghị định 08/NĐ-CP điều chỉnh địa giới hành chính xã, phường để thành lập xã, phường thuộc huyện Mỏ Cày, huyện Chợ Lách, thị xã Bến Tre; điều chỉnh địa giới hành chính huyện Mỏ Cày, huyện Chợ Lách để thành lập huyện Mỏ Cày Bắc thuộc tỉnh Bến Tre
  11. ^ “Thành phố Bến Tre”. 
  12. ^ Nghị quyết 49/NQ-CP điều chỉnh địa giới hành chính huyện Châu Thành để mở rộng địa giới hành chính thành phố Bến Tre