Bảo Lộc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bảo Lộc
Huyện
Một góc TP.Bảo Lộc.jpg
Địa lý
Tọa độ: 11°32′48″B 107°47′37″Đ / 11,54667°B 107,79361°Đ / 11.54667; 107.79361Tọa độ: 11°32′48″B 107°47′37″Đ / 11,54667°B 107,79361°Đ / 11.54667; 107.79361
Diện tích 232,2 km²
Dân số (2009)  
 Tổng cộng 148.567 người.
 Mật độ 639,8 người/km²
Hành chính
Quốc gia  Việt Nam
Vùng Tây Nguyên
Tỉnh Lâm Đồng
Phân chia hành chính 6 phường và 5 xã
Mã hành chính 673
Website Thành phố Bảo Lộc

Bảo Lộc (tên cũ: B'Lao[1]) là một thành phố trực thuộc tỉnh Lâm Đồng.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trước đây, vùng đất Bảo Lộc bao gồm cả các huyện Bảo Lâm, Đạ Tẻh, Cát TiênĐạ Huoai bây giờ, là địa bàn cư trú của người Mạ. Năm 1899, Thực dân Pháp đã đặt chân đến vùng này đồng thời vạch ra một con đường nối liền với Bình Thuận. Ngày 1 tháng 1 năm 1899, Pháp thành lập tỉnh Đồng Nai Thượng, tỉnh lỵ đặt tại Djiring. Năm 1905, cả vùng Đồng Nai Thượng được sáp nhập vào tỉnh Bình Thuận.

Năm 1920, tỉnh Đồng Nai Thượng được tái lập, bao gồm 3 quận B’Lao (Bảo Lộc), Djiring (Di Linh) và Dran - Fyan (Đơn Dương). Diện tích bao trùm cả cao nguyên Di Linh, Bảo Lộc và một phần của cao nguyên Lâm Viên.

Năm 1958, chính phủ Việt Nam Cộng hòa đổi tên tỉnh Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng. Đồng thời tách quận Dran sáp nhập vào tỉnh Lâm Viên và đặt thành tỉnh Tuyên Đức. Tỉnh Lâm Đồng lúc này còn hai quận là Bảo Lộc và Di Linh, tức toàn bộ vùng đất nằm trên cao nguyên Di Linh, Bảo Lộc. Ngày 30 tháng 11 năm 1958, Bảo Lộc được chọn làm tỉnh lỵ của tỉnh Lâm Đồng và công việc kiến thiết mở mang đô thị mới cũng bắt đầu phát triển mạnh từ thời gian này.

Sau năm 1975, Bảo Lộc là tên huyện của tỉnh Lâm Đồng hợp nhất. Sau đó, huyện lại tách thành các huyện Bảo Lộc, Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên[2]. Từ đó, huyện Bảo Lộc có 1 thị trấn B'lao và 15 xã: Lộc Tân, Lộc Tiến, Lộc Sơn, Lộc Phát, Lộc Châu, Lộc Thanh, Lộc Nga, Lộc Thắng, Lộc Lâm, Lộc Bắc, Lộc Ngãi, Lộc Đức, Lộc An, Lộc Thành, Lộc Nam. Ngày 11 tháng 7 năm 1994, Chính phủ quyết định chia huyện Bảo Lộc thành 2 đơn vị hành chính là thị xã Bảo Lộc và huyện Bảo Lâm, gồm 6 phường: 1, 2, B'lao, Lộc Phát, Lộc Sơn, Lộc Tiến và 4 xã: Đạm Bri, Lộc Châu, Lộc Nga, Lộc Thanh[3].

Ngày 18 tháng 6 năm 1999, chia xã Lộc Châu thành 2 xã: Lộc Châu và Đại Lào.[4]

Ngày 8 tháng 4 năm 2010, chính phủ ra Nghị quyết 19/NQ-CP nâng cấp thị xã Bảo Lộc trở thành thành phố Bảo Lộc.[5]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

một góc TP.Bảo Lộc

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Bảo Lộc có diện tích 23.256 ha, chiếm 2,38% diện tích toàn tỉnh Lâm Đồng. Phía đông, phía nam và phía bắc giáp với huyện Bảo Lâm. Phía tây giáp với huyện Đạ Huoai. Địa bàn huyện này thuộc Vườn quốc gia Cát Tiên đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới.

Địa hình,địa chất[sửa | sửa mã nguồn]

Địa hình thành phố Bảo Lộc gồm 3 dạng chính là núi cao, đồi dốc và thung lũng:

  • Núi cao: Tập trung ở khu vực phía Tây Nam, có các ngọn núi cao từ 900 đến 1.100 m so với mặt nước biển, có độ dốc lớn và diện tích khoảng 2.500 ha, chiếm 11% tổng diện tích của toàn thành phố.
  • Đồi dốc: Gồm các khối bazan bị chia cắt, tạo nên các ngọn đồi và các dải đồi dốc có phần đỉnh tương đối bằng phẳng, có độ cao từ 800 đến 850 m. Độ dốc sườn đồi lớn, dễ bị xói mòn, là khu vực sản xuất loạt cây lâu năm như chè, cà phê, dâu.
  • Thung lũng: Tập trung chủ yếu ở xã Lộc Châu và Đại Lào, chiếm 9,2% tổng diện tích của toàn thành phố. Có khu vực đất tương đối bằng phẳng, dễ thích hợp để phát triển loạt cây cà phê, chè và cây ngắn ngày.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Nằm trong khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng do ở nhiệt độ cao trên 800m và tác động của địa hình nên khí hậu Bảo Lộc có nhiều nét độc đáo với những đặc trưng chính như sau:

  • Nhiệt độ trung bình cả năm 21-22°C, nhiệt độ cao nhất trong năm 27,4°C, nhiệt độ thấp nhất trong năm 16,6°C.
  • Số giờ nắng trung bình 1.680 giờ/năm, bình quân 4,6 giờ/ngày (tháng mùa mưa: 2-3 giờ/ngày, các tháng mùa khô: 6-7 giờ/ngày), mùa khô nắng nhiều nhưng nhiệt độ trung bình thấp tạo nên nét đặc trưng độc đáo của khí hậu Bảo Lộc.
  • Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11, lượng mưa trung bình hàng năm 2.513 mm, số ngày mưa trung bình cả năm 190 ngày, mưa nhiều và mưa tập trung từ tháng 7 đến tháng 9.
  • Độ ẩm trung bình hàng năm khá cao từ 80-90%.
  • Gió: gió chủ đạo theo hai hướng chính:
-Gió Đông Bắc thịnh hành từ tháng 1 đến tháng 4
-Gió Tây Nam thịnh hành từ tháng 6 đến tháng 9
  • Nắng trung bình, độ ẩm không khí cao, nhiều ngày có sương mù, cường độ mưa lớn tạo nên những nét đặc trưng riêng cho vùng đất Bảo Lộc.

Thủy văn[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống thủy văn bao gồm có ba hệ thống:

  • Hệ thống sông DaR’Nga: Phân bố ở phía Đông thành phố Bảo Lộc, là ranh giới giữa thành phố và huyện Bảo Lâm, các phụ lưu lớn của sông DaR’Nga trong thành phố Bảo Lộc gồm có: suối DaSre Drong, suối DaM’Drong, suối DaBrian. Các suối này có nước quanh năm phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.
  • Hệ thống suối Đại Bình: Phân bố chủ yếu ở phía nam Quốc lộ 20, bắt nguồn từ dãy núi cao ở phía nam và tây Bảo Lộc. Các phụ lưu gồm: suối DaLab, suối Tân Hồ, suối Đại Bình có lượng nước phong phú, có thể sử dụng làm nguồn nước tưới ổn định cho thung lũng Đại Bình.
  • Hệ thống suối ĐamB’ri: Là vùng đầu nguồn của suối ĐamB’ri, phân bố tập trung ở xã ĐamB’ri, phần lớn các nhánh suối chỉ có nước vào mùa mưa. Suối ĐamB’ri có nhiều ghềnh thác, trong đó có thác ĐamB’ri là cảnh quan có giá trị rất lớn về du lịch.
  • Nước ngầm: Nhìn chung khu vực Bảo Lộc có trữ lượng nước ngầm khá, chất lượng nước tương đối tốt có thể vừa phục vụ cho sinh hoạt vừa phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và công nghiệp.

Các đơn vị hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Bảo Lộc gồm có 6 phường và 5 xã với 120 thôn, buôn, khu phố

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Nông nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Bảo Lộc là vùng chuyên canh trà, cà phê và dâu tằm. Các cây ăn trái của Bảo Lộc cũng rất phong phú, trong đó có những loại cây đặc sản như: bơ, sầu riêng, mít tố nữ...

Bảo Lộc cũng là vùng có tiềm năng lớn để phát triển chăn nuôi bò sữa, dê.

Công nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà máy dệt lụa Vikotex.

Công nghiệp của thành phố Bảo Lộc chiếm trên 40% tỉ lệ công nghiệp của cả tỉnh Lâm Đồng, bao gồm các ngành chế biến trà, cà phê, se tơ, dệt, may mặc... Các nhà máy, xí nghiệp tập trung ở Khu Công nghiệp Lộc Sơn, Phường II và khu vực xã Đại Lào.

Bảo Lộc là thủ phủ của ngành Dâu tằm tơ, có các nhà máy chế biến tơ tằm, ươm tơ dệt lụa nổi tiếng như nhà máy se tơ dệt lụa tơ tằm Á châu...

Bảo Lộc có tiềm năng lớn về phát triển ngành khai thác và chế biến khoáng sản. Tại đây có trữ lượng lớn bô xít và cao lanh, trong đó bô xít có khoảng 378 triệu tấn với trữ lượng loại C1 (có hàm lượng Al2O3=44,69%; SiO2=6,7%) là 209 triệu tấn.

Lễ Hội[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lễ hội văn hoá Trà Lâm Đồng (định kỳ 2 năm tổ chức một lần).

Danh lam thắng cảnh - Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Thác ĐamBri.

Do có khí hậu mát mẻ quanh năm nên đây là nơi lý tưởng để xây dựng các khu du lịch nghỉ dưỡng. Bảo Lộc có nhiều thác, hồ, suối đẹp như: Thác ĐamB'ri, thác bảy tầng, hồ Nam Phương, suối Đá Bàn...

Khu du lịch ĐamB'ri nổi tiếng với thác nước hùng vĩ cao 57m và các cánh rừng nguyên sinh, là nơi có thể nghỉ dưỡng, cắm trại...Tuy nhiên khoảng từ 1995 - 2006 ĐamB'ri không thu hút nhiều khách du lịch do không được đầu tư nhiều. Năm 2007, ĐamB'ri có nhiều bước đột phá mới do có nguồn đầu tư từ Công ty Tâm Châu sau khi Công ty du lịch thác ĐamB'ri được cổ phần hoá. Năm 2010, máng trượt dài nhất Đông Nam Á được chính thức ra mắt tại ĐamB'ri.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]