Trà Vinh (thành phố)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thành phố Trà Vinh
Thành phố trực thuộc tỉnh
Cổng chào Trà Vinh.jpg
Cổng chào thành phố Trà Vinh
Địa lý
Tọa độ: 9°57′9″B 106°20′39″Đ / 9,9525°B 106,34417°Đ / 9.95250; 106.34417Tọa độ: 9°57′9″B 106°20′39″Đ / 9,9525°B 106,34417°Đ / 9.95250; 106.34417
Diện tích 68,035 km²[1]
Dân số (2010)  
 Tổng cộng 109.341 người[1]
 Mật độ 1607 người/km²
Hành chính
Quốc gia  Việt Nam
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Tỉnh Trà Vinh
Thành lập 04 tháng 3 năm 2010
 Chủ tịch UBND Phạm Văn Tám[2]
 Chủ tịch HĐND Dương Văn Thành[3]
 Trụ sở UBND Số 9 đường Lê Thánh Tôn, Phường 2.
Phân chia hành chính 9 phường và 1 xã
Mã hành chính 842[4]
Website Thành phố Trà Vinh

Thành phố Trà Vinh, nằm bên bờ sông Tiền, là tỉnh lỵ tỉnh Trà Vinh (Việt Nam). Thành phố Trà Vinh nằm trên Quốc lộ 53 cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 202 km và cách thành phố Cần Thơ 100 km, cách bờ biển Đông 40 km, với hệ thống giao thông đường bộđường thủy khá hoàn chỉnh thuận tiện để phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và là vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Chợ Trà Vinh tại thành phố Trà Vinh

Tỉnh Trà Vinh được thành lập năm 1900, tỉnh lỵ đặt tại làng Minh Đức, sau đổi thành Long Đức thuộc quận Châu Thành. Thị xã Trà Vinh có vị trí thuận lợi do nằm gần cửa sông Cổ Chiên nên sớm trở thành trung tâm dịch vụ và sau đó là trung tâm hành chính, quân sự của tỉnh Trà Vinh.

Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ra Sắc lệnh 143-NV về việc giải thể và sáp nhập tỉnh Tam Cần vào tỉnh Trà Vinh, đồng thời đổi tên tỉnh Trà Vinh thành tỉnh Vĩnh Bình; đổi tên xã Long Đức thành xã Phú Vinh và chọn làm lỵ sở của quận Châu Thành, tỉnh Vĩnh Bình. Lúc này, tỉnh lỵ tỉnh Vĩnh Bình cũng bị đổi tên tên là "Phú Vinh", do lấy theo tên xã Phú Vinh thuộc quận Châu Thành là nơi đặt tỉnh lỵ.

Sau năm 1975, Quốc hội Việt Nam khóa VI quyết định hợp nhất 2 tỉnh Trà VinhVĩnh Long thành tỉnh Cửu Long, với tỉnh lỵ là thị xã Vĩnh Long. Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1991 thị xã Trà Vinh là trung tâm vùng phía Đông Nam của tỉnh, gồm 7 phường (đánh số thứ tự từ 1 đến 7). Ngày 11 tháng 3 năm 1977, chuyển xã Long Đức thuộc huyện Châu Thành Đông vừa giải thể về thị xã Trà Vinh quản lý.[5]

Sau gần 17 năm sáp nhập hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh thành tỉnh Cửu Long, đến ngày 26 tháng 12 năm 1991, tỉnh Cửu Long được chia tách thành hai tỉnh là Vĩnh LongTrà Vinh. Và cũng từ đây, thị xã Trà Vinh đã và đang được đầu tư xây dựng, quy hoạch lại theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và trở thành trung tâm hành chính về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và An ninh quốc phòng của tỉnh[6].

Ngày 18 tháng 7 năm 2002, thành lập 2 phường 8 và 9 trên cơ sở tách đất của 3 xã Nguyệt Hóa, Đa Lộc, Lương Hòa thuộc huyện Châu Thành.[7]

Ngày 4 tháng 3 năm 2010, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết số 11/NQ-CP chuyển thị xã Trà Vinh thành thành phố Trà Vinh thuộc tỉnh Trà Vinh[6].

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Trà Vinh là tỉnh lỵ của tỉnh Trà Vinh, có diện tích tự nhiên 68,035 km² chiếm gần 3% diện tích của tỉnh. Nằm ở phía Nam sông Tiền có tọa độ địa lý từ 106o18’ đến 106o25’ kinh độ Đông và từ 9o31’ đến 10o1’ vĩ độ Bắc[1].

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Chùa Bodhisálaràja (chùa Ông Mẹt) tại thành phố Trà Vinh

Thành phố Trà Vinh được phân chia thành 1 Xã và 9 phường lấy tên thứ tự từ 1 đến 9[8].

Điều kiện tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Ao Bà Om tại thành phố Trà Vinh

Với diện tích 68,035 km² chủ yếu gồm 3 nhóm đất chính là đất cát giồng, đất phù sa và đất phèn tiềm năng. Tài nguyên thiên nhiên nước chủ yếu từ nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm khai thác từ sông, hồ kênh, rạch… tuy nhiên trữ lượng nước không đáp ứng được nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của người dân. Chưa phát hiện có các loại khoáng sản mà chủ yếu là cát xây dựng ở xã Long Đức với trữ lượng không lớn, chất lượng thấp và phù thuộc vào dòng chảy của sông Cổ Chiên. Ngoài ra, hiện nay trên địa bàn thành phố Trà Vinh có nhiều địa điểm du lịch gắn liền với văn hóa dân tộc như khu văn hóa du lịch Ao Bà Om, Đền thờ Bác Hồ, các di tích cổ đền, chùa và tiềm năng phát triển khu du lịch sinh thái ấp Long Trị, xã Long Đức.

Dân số & lao động[sửa | sửa mã nguồn]

Dân số toàn thành phố đạt khoảng 109.341 người, trong đó dân tộc Khmer chiếm 19,96%, dân tộc Hoa chiếm 6,22%, dân tộc khác chiếm 0,2% và số đông còn lại là dân tộc Kinh.

Toàn thành phố có khoảng 55.513 người trong độ tuổi lao động, mật độ dân số tăng tự nhiên hàng năm gần 1,025%.

Ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Ảnh chụp trong thành phố Trà Vinh:

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Điều kiện tự nhiên Thành phố Trà Vinh, Trang thông tin Thành phố Trà Vinh.
  2. ^ UBND thành phố, Theo trang thông thành phố Trà Vinh.
  3. ^ HĐND thành phố, Theo trang thông thành phố Trà Vinh.
  4. ^ “Mã số đơn vị hành chính Việt Nam”. Bộ Thông tin & Truyền thông. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2012. 
  5. ^ Quyết định 59-CP năm 1977 về việc hợp nhất và điều chỉnh địa giới một số huyện thuộc tỉnh Cửu Long
  6. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên LSTPTV
  7. ^ Nghị định 70/2002/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính để mở rộng thị xã và thành lập phường thuộc thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh
  8. ^ Sơ đồ tổ chức Thành phố Trà Vinh, Cỗng thông tin điện tử Trà Vinh