Chiến dịch Hồ Chí Minh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chiến dịch Hồ Chí Minh
Một phần của Chiến dịch mùa xuân năm 1975
BuiQuangThan.jpg
Bức ảnh chụp chiếc xe tăng 390 - chiếc xe đầu tiên húc đổ cánh cổng dinh Độc Lập trưa ngày 30.4.1975 của nữ nhà báo Pháp Francoise de Mulder[1].
.
Thời gian 26 tháng 4 năm 1975 đến 2 tháng 5 năm 1975
Địa điểm Sài Gòn - Gia Định và Đồng bằng sông Cửu Long
Kết quả Quân đội Nhân dân Việt Nam chiến thắng
Chính quyền Việt Nam Cộng hòa tuyên bố đầu hàng không điều kiện.
Chính phủ Cách mạng Lâm thời tiếp quản toàn bộ miền Nam Việt Nam, tạo cơ sở cho thống nhất 2 miền năm 1976.
Tham chiến
Flag of Vietnam.svg Quân đội Nhân dân Việt Nam,
FNL Flag.svg Quân giải phóng miền Nam
Flag of South Vietnam.svg Quân lực Việt Nam Cộng Hòa
Chỉ huy
Flag of Vietnam.svg Võ Nguyên Giáp
Flag of Vietnam.svg Hoàng Văn Thái
Flag of Vietnam.svg Văn Tiến Dũng
Flag of Vietnam.svg Lê Trọng Tấn
Flag of Vietnam.svg Vũ Lăng
Flag of Vietnam.svg Nguyễn Hòa
Flag of Vietnam.svg Hoàng Cầm
Flag of Vietnam.svg Nguyễn Hữu An
Flag of Vietnam.svg Đinh Đức Thiện
FNL Flag.svg Trần Văn Trà
FNL Flag.svg Lê Đức Anh
Flag of South Vietnam.svg Dương Văn Minh Đầu hàng
Flag of South Vietnam.svg Cao Văn Viên
Flag of South Vietnam.svg Trần Văn Đôn
Flag of South Vietnam.svg Vĩnh Lộc
Flag of South Vietnam.svg Chung Tấn Cang
Flag of South Vietnam.svg Nguyễn Hữu Hạnh
Flag of South Vietnam.svg Nguyễn Văn Toàn
Flag of South Vietnam.svg Nguyễn Khoa Nam 
Lực lượng
250.000 quân chủ lực, 20.000 quân địa phương và du kích,
180.000 dân công phục vụ hậu cần chiến dịch.[2]
Trang bị: 265 xe tăng và 127 xe thiết giáp, 241 pháo xe kéo, 88 pháo mang vác, hơn 400 pháo cao xạ
Quân đoàn III: 245.000 quân chính quy.
Quân đoàn IV: 175.000 quân chính quy[3]
Trang bị: 772 pháo cỡ lớn, 1.117 xe tăng và xe thiết giáp, hơn 1.200 máy bay, 1.431 tàu và xuồng chiến đấu
Tổn thất
6.000 chết và bị thương.[4] 15.700 chết và bị thương, 160.000 bị bắt. Số còn lại tan rã tại chỗ.

Hơn 500 khẩu pháo, hơn 400 xe tăng - xe thiết giáp, hơn 800 máy bay, 600 tàu chiến, 270.000 khẩu súng, 3.000 xe các loại, toàn bộ kho tàng bị thu giữ. [5][6]

.

Chiến dịch Hồ Chí Minh, tên nguyên thủy là Chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định, là chiến dịch cuối cùng của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong Cuộc tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 và cũng là chiến dịch cuối cùng của cuộc Chiến tranh Việt Nam. Đây cũng là chiến dịch quân sự có thời gian diễn biến ngắn nhất trong Chiến tranh Việt Nam, diễn ra từ ngày 26 tháng 4 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 (tại Sài Gòn) và kéo theo các cuộc nổi dậy vũ trang của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam tại Đồng bằng sông Cửu Long trong hai ngày 1 và 2 tháng 5. Chiến dịch này dẫn đến kết quả là chấm dứt hoàn toàn sự chia cắt hai miền Nam - Bắc Việt Nam sau 21 năm, đưa đến việc thống nhất xã hội, chế độ chính trị, dân cư và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam trên đất liền, vùng lãnh hải, vùng trời và một số hải đảo.[7]

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn gốc tên gọi Chiến dịch Hồ Chí Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tán thành đề xuất của Trung tướng Hoàng Minh Thảo chọn địa bàn Nam Tây Nguyên làm hướng tấn công chiến lược, xin ý kiến Bộ Chính trị và cử Đại tướng Văn Tiến Dũng vào Nam chỉ đạo đánh đòn "điểm huyệt" vào hệ thống phòng ngự của Việt Nam Cộng hòa tại Buôn Mê Thuột. Chính ông nhân đà thắng trận Buôn Ma Thuột, trực tiếp ra lệnh Trung tướng Lê Trọng Tấn gấp rút giải phóng Đà Nẵng trong 3 ngày. Chính ông đề xuất và ra quyết định mở Chiến dịch Hồ Chí Minh mà trong đó Văn Tiến Dũng làm Tư lệnh, Lê Trọng Tấn, Lê Đức Anh, Trần Văn Trà làm Phó Tư lệnh, chỉ huy 5 cánh quân với sức mạnh của 20 sư đoàn đồng loạt tiến vào giải phóng Sài Gòn. Mệnh lệnh nổi tiếng của ông chỉ đạo Chiến dịch Hồ Chí Minh là:

Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng phút, từng giờ, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam, quyết chiến và toàn thắng

Đại tướng Võ Nguyên Giáp[8]

Ngày 8 tháng 4 năm 1975, tại Lộc Ninh, Bộ Chỉ huy Chiến dịch giải phóng Sài Gòn-Gia Định được thành lập với thành phần: Tư lệnh: Đại tướng Văn Tiến Dũng, Chính uỷ: Phạm Hùng, các Phó Tư lệnh: Thượng tướng Trần Văn Trà, Trung tướng Lê Đức Anh, Trung tướng Đinh Đức Thiện, Quyền Tham mưu trưởng: Thiếu tướng Lê Ngọc Hiền, sau đó bổ sung Trung tướng Lê Trọng Tấn làm Phó Tư lệnh và Trung tướng Lê Quang Hòa làm Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị. Có hai nhân vật lãnh đạo không phải là quân nhân tham gia là các ông Nguyễn Văn Linh và Võ Văn Kiệt.[cần dẫn nguồn] Ông Nguyễn Văn Linh được giao phụ trách công tác phát động quần chúng nổi dậy trong thành phố. Ông Võ Văn Kiệt được giao phụ trách công tác tiếp quản các cơ sở kinh tế, kỹ thuật sau khi QĐNDVN chiếm được thành phố. Các thành viên dự hội nghị đã nhất trí đề nghị Bộ Chính trị cho lấy tên gọi "Chiến dịch Hồ Chí Minh" thay cho tên gọi "Chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định". Ngày 14 tháng 4, Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam gửi bức điện số 37/TK cho Bộ Chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định:

Đồng ý chiến dịch giải phóng Sài Gòn lấy tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh

—Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam, [9]

Tình thế trước cuộc tấn công[sửa | sửa mã nguồn]

Do kết quả của Chiến dịch Phan Rang - Xuân Lộc và các trận tấn công của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam tại đồng bằng sông Cửu Long, đến ngày 25 tháng 4 năm 1975 Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã mất hầu hết các vị trí then chốt trong tuyến phòng thủ từ xa quanh Sài Gòn. Thành phố lúc này trở thành một ốc đảo chỉ còn giao lưu với bên ngoài bằng đường không. Tuy nhiên, đến ngày 26 tháng 4, các hãng hàng không nước ngoài đã đổi hướng tất cả các chuyến bay quá cảnh Tân Sơn Nhất và hủy bỏ hầu hết các chuyến bay đến và đi từ Sài Gòn. Đại sứ quán các nước lần lượt đóng cửa, hạ cờ. Theo mô tả của nhà báo Pháp Paul Drayfrus, thành phố này đã gần như điên loạn và đang chứng kiến sự kết thúc của một chế độ.[10]

Ngay khi sắp sửa phải rời đi khỏi Sài Gòn, CIA cũng vẫn không buông tha Việt Nam. Ngày 25 tháng 4, một đài phát thanh bí mật của CIA giả danh Đài phát thanh Giải phóng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đặt tại Okinawa đã tung ra một tin thất thiệt là có một cuộc đảo chính vừa xảy ra tại Hà Nội và ba sư đoàn QĐNDVN đã phải quay lại miền Bắc.[11]. Nhưng chính những người của CIA tại Sài Gòn khi đó cũng nhận định rằng đây là một trò bịp tồi và phần lớn người Sài Gòn đều cho rằng đó là một tin ngớ ngẩn và rằng mọi cố gắng nhằm lung lạc ý chí của đối phương ngay trước cửa ngõ Sài Gòn đều là những cố gắng vô ích, làm trò cười cho thiên hạ[12]

Trong một nỗ lực cuối cùng để mở được cuộc nói chuyện với "phía bên kia", cho dù kết quả là rất mong manh, ngày 28 tháng 4, hai viện của Quốc hội VNCH đã "mời" tổng thống Trần Văn Hương từ nhiệm sau một tuần nắm giữ chức vụ và đưa tướng Dương Văn Minh, một người chịu ảnh hưởng của Pháp và là tác giả chủ chốt của cuộc đảo chính lật đổ anh em Diệm - Nhu ngày 3 tháng 11 năm 1963 lên ghế tổng thống. Họ cho rằng với sự giúp đỡ và vận động của Đại sứ Pháp tại Sài Gòn Jean Marie Merillon và người phó của ông ta là Vanussème, "phía bên kia" sẽ chấp nhận thương lượng. Tướng Minh cho biết "người Pháp cho rằng có một cường quốc nào đó không muốn cho Bắc Việt Nam trở thành hùng cường nên họ có thể ngăn chặn thắng lợi của Hà Nội". Ông ta cũng tin rằng "Hà Nội chưa chắc đã có một bộ máy hành chính để quản lý toàn quốc nên họ có thể sẵn sàng chấp nhận một chế độ quá độ". Tuy nhiên, đến chiều tối ngày 28 tháng 4 thì tất cả hy vọng vào những lá bài ngoại giao cuối cùng đều tan vỡ khi những loạt đạn 130 mm của trung đoàn pháo binh 45 (Đoàn Tất Thắng - QĐNDVN) đặt tại trận địa Nhơn Trạch nã cấp tập vào Sân bay Tân Sơn Nhất ngay sau trận ném bom của phi đội A-37 do Nguyễn Thành Trung dẫn đường. Ba "sứ giả" do tổng thống Dương Văn Minh phái đi đàm phán với đối phương về một giải pháp ngừng bắn đã phải ngủ đêm tại trụ sở của hai phái đoàn VNDCCH và CPCMLTCHMNVN trong Ban Liên hiệp quân sự bốn bên tại Trại Davis cạnh sân bay Tân Sơn Nhất.[13]

Binh lực và phương án tác chiến của hai bên[sửa | sửa mã nguồn]

Quân đội Nhân dân Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ các mũi tiến công

Hướng Bắc[sửa | sửa mã nguồn]

Quân đoàn 1 gồm các Sư đoàn bộ binh 312, 320B; Trung đoàn pháo binh 45 (Đoàn Tất Thắng); Lữ đoàn tăng thiết giáp 202; Sư đoàn pháo cao xạ 367; Lữ đoàn công binh 299; được tăng cường lữ đoàn pháo binh 38, trung đoàn tên lửa 263, ba trung đoàn công binh 239, 259, 279; một trung đoàn phòng không hỗn hợp, ba tiểu đoàn pháo binh độc lập rút từ Bộ Tư lệnh pháo binh. Tổng quân số 31.227 người; 778 xe vận tải, 44 xe tăng; 36 khẩu pháo 130 mm, 105 mm và 75 mm; 120 khẩu cao xạ 57 mm và 37 mm; 9 xuồng máy, 2 ca nô, 12 xe công binh chuyên dụng.[14][15]

Nhiệm vụ của Quân đoàn 1 là bao vây tiêu diệt đối phương ở Phú Lợi, Bến Cát, Bình Dương, Lai Khê, Tân Uyên; ngăn chặn Sư đoàn 5 QLVNCH rút về nội đô và vô hiệu hóa đơn vị này; tấn công đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu QLVNCH, các bộ tư lệnh binh chủng ở Gò Vấp, Bình Thạnh; tổ chức một lực lượng tấn công hợp điểm với các quân đoàn khác tại Dinh Độc Lập[17][18] Do phải hành quân gấp từ miền Bắc vào bằng mọi phương tiện thuỷ, bộ và đường không. Quân đoàn 1 bắt đầu tấn công chậm một ngày so với các đơn vị khác.[19]

Hướng Đông Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Quân đoàn 2 ban đầu gồm các Sư đoàn bộ binh 325, 304; Lữ đoàn pháo binh 164; Lữ đoàn tăng thiết giáp 203; Sư đoàn phòng không 673; Lữ đoàn công binh 219; Trung đoàn đặc công 116. Tổng số xe chở hàng, chở người của Quân đoàn 2 lên tới 2.267 chiếc, Trong đó có 54 xe tăng, 35 xe thiết giáp, 223 xe kéo pháo, 87 khẩu pháo 130 mm và 105 mm; 136 pháo cao xạ. Do được phối thuộc sư đoàn 3 từ Quân khu 5 và một số dơn vị rút, tổng quân số của Quân đoàn lên đến hơn 40.000 người (trước đó là 32.418 người).[20][21]

Quân đoàn 2 được giao nhiệm vụ tiến công trên chính diện rộng 86 km với chiều sâu nhiệm vụ từ 68 đến 70 km.[22] Nhiệm vụ ban đầu của quân đoàn là đánh chiếm căn cứ Nước Trong, chi khu Long Bình, căn cứ Long Bình, chi khu Nhơn Trạch, thành Tuy Hạ, cảng và bến phà Cát Lái, chi khu Đức Trạch, pháo kích sân bay Tân Sơn Nhất, đánh chiếm Vũng Tàu, thị xã Bà Rịa, quận 9 và quận 4 Sài Gòn. Tổ chức lực lượng thọc sâu đánh chiếm quận 1 và quận 3, hợp điểm tại Dinh Độc Lập.[23]

Hướng Tây Bắc[sửa | sửa mã nguồn]

Loạt bài
Chiến tranh Việt Nam
Giai đoạn 1954–1959
Thuyết Domino
Hoa Kỳ can thiệp
Miền Bắc – Miền Nam
Giai đoạn 1960–1965
Diễn biến Quốc tế – Miền Nam
Kế hoạch Staley-Taylor
Chiến tranh đặc biệt
Đảo chính Chính phủ Ngô Đình Diệm
Giai đoạn 1965–1968
Miền Bắc

Chiến dịch:
Sự kiện Vịnh Bắc Bộ
Mũi Tên Xuyên –Sấm Rền

Miền Nam

Chiến tranh cục bộ
Chiến dịch:
Các chiến dịch Tìm-Diệt
Phượng Hoàng –Tết Mậu Thân, 1968

Diễn biến Quốc tế
Giai đoạn 1968–1972
Diễn biến Quốc tế
Việt Nam hóa chiến tranh
Hội nghị Paris
Hiệp định Paris
Chiến dịch:
Lam Sơn 719 – Chiến cục năm 1972 –
Hè 1972 –Mặt trận phòng không 1972 
Phòng không Hà Nội 12 ngày đêm
Giai đoạn 1973–1975
Chiến dịch:
Xuân 1975
Phước Long
Tây Nguyên  -Huế - Đà Nẵng
Phan Rang - Xuân Lộc
Hồ Chí Minh
Trường Sa và các đảo trên Biển Đông
Sự kiện 30 tháng 4, 1975
Hậu quả chiến tranh
Tổn thất nhân mạng
Tội ác của Hoa Kỳ và đồng minh
Chất độc da cam
Thuyền nhân
sửatiêu bản


Quân đoàn 3 gồm các Sư đoàn bộ binh 316 (đoàn Bông Lau), 320A (đoàn Đồng Bằng), 10; Trung đoàn đặc công 198 (đoàn đặc công hậu cứ); hai Trung đoàn pháo mặt đất 40 và 575 (đoàn Anh Dũng); Trung đoàn xe tăng 273 (đoàn Sơn Lâm); Các Trung đoàn phòng không hỗn hợp 234 (đoàn Tam Đảo), 593 (mới bổ sung) và 232 (chuyển thuộc từ Đoàn 559); hai Trung đoàn công binh 7 (Đoàn Hùng Vương); 575 (chuyển thuộc từ Đoàn 559); trung đoàn thông tin 29; các trung đoàn Gia Định 1 và 2. Tổng quân số 47.400 người, 54 xe tăng, 64 xe bọc thép, gần 100 khẩu pháo 130 mm, 105 mm và hỏa tiễn H12, trên 250 khẩu cối từ 61 mm đến 120 mm, 110 pháo phòng không 57 mm và 37 mm, hơn 250 khẩu súng máy phòng không các cỡ 12,4 mm và 14,5 mm.[17][24]

Khác với Quân đoàn 2, Quân đoàn 3 phải tấn công trên một chính diện hẹp từ 7 đến 10 km nhưng có chiều sâu nhiệm vụ lên đến 100 km.[25] Nhiệm vụ của quân đoàn trong giai đoạn 1 là sử dụng sư đoàn 316 cùng binh chủng phối thuộc chặn đánh Sư đoàn 25 QLVNCH tại Gò Dầu, Trảng Bàng, cắt đường 1B, bao vây, chia cắt không cho QLVNCH điều các đơn vị ở Tây Bắc lui về Đồng Dù, Củ Chi. Trong giai đoạn 2, Quân đoàn có nhiệm vụ đánh chiếm căn cứ Đồng Dù, sân bay Tân Sơn Nhất, các quận Tân Bình, Phú Nhuận đưa một bộ phận lực lượng thọc sâu, hợp điểm với các đơn vị khác tại Dinh Độc Lập[23].

Hướng Đông[sửa | sửa mã nguồn]

Quân đoàn 4 gồm các Sư đoàn 6, 7, 341; lữ đoàn bộ binh 52; một tiểu đoàn pháo 130mm; một trung đoàn và một tiểu đoàn phòng không hỗn hợp, ba tiểu đoàn xe tăng - thiết giáp. Sau trận Xuân Lộc, quân số của quân đoàn còn khoảng 30.000 người.

Nhiệm vụ của quân đoàn là đánh chiếm khu vực Biên Hòa - Hố Nai (gồm cả sở chỉ huy Quân lực Việt Nam Cộng hòa và sân bay Biên Hòa), tiến về Sài Gòn chiếm các quận 1, 2, 3, Bộ Tư lệnh Hải quân VNCH, Bộ Quốc phòng VNCH, Bộ Tổng tham mưu QLVNCH, Đài phát thanh Sài Gòn[23][26]. Cũng như Quân đoàn 1, đến 17 giờ chiều 27 tháng 4, Quân đoàn 4 mới chuẩn bị xong bàn đạp tiến công và bắt đầu nổ súng chậm hơn một ngày.[27]

Hướng Tây Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Đoàn 232 gồm các Sư đoàn 5, 9, 3 (nguyên là sư đoàn 303 - Phước Long); bốn trung đoàn độc lập 16, 88, 24, 27B; tiểu đoàn 26 xe tăng (17 xe T-54), một trung đoàn đặc công, tiểu đoàn xe tăng 24 (18 xe PT-85), tiểu đoàn 23 xe bọc thép (22 xe BTR-60 và 8 xe M-113); 5 đại đội pháo binh gồm 27 khẩu từ 85 mm đến 130 mm, bốn khẩu cối 160 mm và một giàn hỏa tiễn H12; trung đoàn phòng không hỗn hợp 595, một tiểu đoàn pháo phòng không 23 mm và một tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7 mm[28][29]. Sau khi được tăng cường sư đoàn 8, quân khu 8, tổng quân số của Đoàn 232 lên đến khoảng 42.000 người.[23][30]

Nhiệm vụ của đoàn là cắt đường số 4 (Bến Lức - ngã ba Trung Lương), chiếm Tân An, Mỹ Tho, chia cắt Sài Gòn và miền Tây Nam Bộ, thọc sâu đánh chiếm Bộ tư lệnh Biệt khu thủ đô, cầu Nhị Thiên Đường, Tổng Nha cảnh sát, các quận 5, 6, 7, 8, 10, 11.[31] Ngoài ra, đoàn 232 còn có nhiệm vụ đánh chiếm các tỉnh lỵ Long An, Kiến Tường; chốt chặn đường số 4 không cho QLVNCH ở Sài Gòn rút về đồng bằng sông Cửu Long[28][29][32].

Mặc dù Sài Gòn - Gia Định là một thành phố lớn, rộng trên dưới 1000 km vuông, vào thời điểm tháng 4 năm 1975 có hơn 3,5 triệu dân nhưng Bộ Tư lệnh chiến dịch đã chọn 5 mục tiêu quan trọng nhất cần đánh chiếm trong thời gian ngắn nhất: Bộ Tổng tham mưu QLVNCH, Bộ Tư lệnh biệt khu thủ đô, Tổng nha Cảnh sát, sân bay Tân Sơn Nhất và Dinh Độc Lập.[33]

Quân lực Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Đến thời điểm mở chiến dịch, QLVNCH chỉ còn trong tay hai quân đoàn (III và IV), trong đó Quân đoàn III đã bị tổn thất đáng kể trong Chiến dịch Phan Rang - Xuân Lộc và các trận đánh ở vùng ven đô.

Quân đoàn III và Biệt khu Thủ đô[sửa | sửa mã nguồn]

Quân số 245.000 người (bao gồm cả tàn binh từ Quân đoàn I và Quân đoàn II đã bị đánh tan nhập vào), 406 khẩu pháo, 624 xe tăng và xe thiết giáp, hơn 800 máy bay, 852 tàu các loại và xuồng chiến đấu.[3]

Các tuyến phòng thủ gồm có:

Tuyến ngoài:[34]

  • Sư đoàn 22 bộ binh (mới tái lập) ở Long An, Bến Lức, ngã ba Trung Lương, sở chỉ huy đạt tại Long An;
  • Sư đoàn 25 bộ binh giữ Đồng Dù, Trảng Bàng, Củ Chi, Hậu Nghĩa, sở chỉ huy đặt tại căn cứ Đồng Dù;
  • Sư đoàn 5 bộ binh giữ Lai Khê, Bến Cát, Bình Dương, sở chỉ huy đặt tại Lai Khê;
  • Sư đoàn Thủy quân lục chiến (chỉ còn 2 lữ đoàn) giữ Long Bình;
  • Sư đoàn 18 (chỉ còn 2 chiến đoàn) giữ Bàu Cá, Trảng Bom, Suối Đĩa;
  • Sư đoàn 5 không quân đóng tại Tân Sơn Nhất;
  • Lữ đoàn 3 thiết giáp giữ Biên Hoà;
  • Lữ đoàn 1 dù giữ Bà Rịa - Vũng Tàu;

Tuyến trong:[35]

  • Ba liên đoàn biệt động quân được triển khai tại Bình Chánh, Hóc Môn, Bình Triệu.
  • Bốn Khu chiến được thành lập sau ngày 14 tháng 4 gồm:
- Liên đoàn đoàn 9 biệt động quân, 2 liên đoàn công binh và số quân đang huấn luyện tại trại Quang Trung giữ Khu chiến Bắc từ Hóc Môn qua Cầu Bông đến sân bay Tân Sơn Nhất.
- Các liên đoàn biệt động quân 7, 8 giữ Khu chiến Tây từ Vĩnh Lộc qua Tân Hiệp, Bà Hom đến Bình Chánh.
- Liên đoàn bảo an 239 và một liên đoàn phòng vệ dân sự được vũ trang giữ Khu chiến Nam từ Nhà Bè đến Nhơn Trạch.
- Lữ đoàn dù 4, Liên đoàn bảo an 391 và học viên Quân trường Thủ Đức giữ Khu chiến Đông từ Gò Vấp, Quận 9 đến Thủ Đức.
  • Năm liên khu phòng thủ nội đô gồm: Liên khu 1 (các quận 1, 3), Liên khu 2 (các quận 5, 6), Liên khu 3 (các quận 2, 4), Liên khu 4 (các quận 7, 8), Liên khu 5 (các quận 10 và 11). Các ổ đề kháng cũng được tổ chức tại Bộ Tư lệnh biệt khu thủ đô, Bộ Tổng tham mưu (do Liên đoàn biệt kích dù 81 phòng thủ), Tổng nha Cảnh sát, Căn cứ không quân Tân Sơn Nhất. Bản thân Dinh Độc Lập cũng được bố trí làm một trung tâm đề kháng với một lữ đoàn cảnh vệ quốc gia có xe tăng và xe bọc thép tăng cường.[35]

Quân đoàn IV[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng đồng bằng sông Cửu Long do Quân khu IV - Quân đoàn IV QLVNCH) có 175.000 quân được biên ché thành 3 sư đoàn bộ binh 7, 9, 21, một lữ đoàn bộ binh độc lập, sư đoàn 4 không quân, ba trung đoàn thiết kỵ, hai hải đoàn tuần duyên, ba giang đoàn; được trang bị 493 xe tăng, xe thiết giáp, 366 khẩu pháo, 409 máy bay (trong đó có 118 máy bay chiến đấu), 579 tàu, xuồng chiến đấu các loại. Các lực lượng này được bố trí trong các cụm đề kháng quanh các thành phố lớn, thị xã, các trục đường giao thông lớn trong đó có hai trọng điểm là Thành phố Cần Thơ và đường số 4.[36]

Các diễn biến tại khu vực Sài Gòn - Gia Định[sửa | sửa mã nguồn]

Đợt 1[sửa | sửa mã nguồn]

Pháo nòng dài 130mm M1954 của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đặt tại Nhân Trạch để tấn công sân bay Tân Sơn Nhất từ ngày 25/4/1975 đến khi kết thúc chiến dịch. Hiện vật trưng bày tại Bảo tàng Chiến dịch Hồ Chí Minh.

7 giờ sáng 26 tháng 4, một số đơn vị thám báo của QLVNCH tại cụm căn cứ Nước Trong, Long Thành đã có vài cuộc chạm súng nhỏ với các đơn vị trinh sát của Sư đoàn 304. Quân đoàn III - QLVNCH tăng phái cho cụm quân ở Nước Trong - Long Thành lữ đoàn Thủy quân lục chiến 468. Từ 7 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút, tướng Nguyễn Văn Toàn lệnh cho sư đoàn 5 không quân đánh phá tuyến chuẩn bị của Quân đoàn 2 nhưng không gây được thiệt hại đáng kể cho đối phương và bị bắn rơi bốn chiếc A-37, một chiếc UH-1A.[37]

17 giờ chiều 26 tháng 4, Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu với tiếng gầm thét của cuộc pháo kích cấp tập từ hơn 20 tiểu đoàn pháo binh thuộc các Quân đoàn 2, 3 và 4 QĐNDVN vào các căn cứ của QLVNCH tại Nhơn Trạch, Hố Nai, Biên Hoà, Nước Trong, Long Thành, Đức Thạnh, Bà Rịa, Đồng Dù, Trảng Bàng, Gò Dầu. Trận pháo kích kéo dài gần 1 giờ liền đã làm rung chuyển nội đô Sài Gòn. Pháo binh QLVNCH phản ứng yếu ớt và nhanh chóng bị hỏa lực của QĐNDVN dập tắt.[38]

Trên hướng Đông , Quân đoàn 2 sử dụng sư đoàn 304 mở màn cuộc tấn công vào cụm Long Thành - Nước Trong, đánh bật được lữ đoàn Thủy quân lục chiến 468 ra rừng cao su, bắn cháy gần 20 xe tăng, xe bọc thép nhưng và chỉ bị tổn thất một xe tăng.[39] Đến đêm 26 tháng 4, sư đoàn 304 chỉ chiếm được trường thiết giáp, chưa giải quyết được khu vực trường bộ binh và ngã ba đường 15 với các chốt công sự kiên cố vẫn ở trong tay QLVNCH. Tại mũi thứ yếu, sư đoàn 3 Sao Vàng đã chiếm được các khu vực Bình Giã, Ngãi Giao và Núi Đất sau 2 giờ giao chiến. 17 giờ chiều 27 tháng 4, trung đoàn 141 của sư đoàn này và đại đội xe tăng 4 có pháo binh yểm hộ đã đánh chiếm thị xã Bà Rịa và huyện Xuyên Mộc. QLVNCH chốt giữ tại cầu Cỏ May đã phá cầu nhưng không chặn được mũi vu hồi sâu của sư đoàn 3 Sao Vàng và phải rút chạy. 16 giờ ngày 29 tháng 4, sư đoàn 3 chiếm thị xã Vũng Tàu[40]. Các phân đội Z23, Z22 lữ đoàn 316 và tiểu đoàn 81 (trung đoàn đặc công cơ giới) chiếm 2 đầu cầu Rạch Chiếc nhưng bị QLVNCH phản kích nên có 30 người hi sinh[41]. Các lực lượng địa phương giải phóng các huyện Long Điền, Đất Đỏ, Xuyên Mộc và các mảng nông thôn 2 bên quốc lộ 15, 25, 19, 1 và 2.

Trung đoàn 115 đã sử dụng những khẩu pháo phản lực DKB như thế này để phóng 200 quả đạn vào sân bay Tân Sơn Nhất chiều ngày 29 tháng 4 năm 1975. Hiện vật trưng bày tại Bảo tàng Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Sáng 27 tháng 4, sư đoàn 325 từ mũi thứ yếu chuyển thành mũi chủ yếu đánh vu hồi vào sườn trái cụm quân VNCH tại Nước Trong - Long Thành, phối hợp với sư đoàn 304 tấn công từ hướng đối diện. Sư đoàn 5 không quân VNCH điều động hơn 114 phi vụ oanh kích vào đội hình QĐNDVN nhưng không cản được đường tiến của lữ đoàn xe tăng 203 QĐNDVN và bị bắn rơi 2 chiếc F-5, 4 chiếc A-37, 3 chiếc A-1 và 1 chiếc HU-1A.[39] 16 giờ 30 phút chiều 27 tháng 4, Sư đoàn 325 đánh chiếm Long Thành, bắt hơn 500 tù binh. Sang ngày 28 tháng 4, căn cứ Nhơn Trạch bị sư đoàn 304 đánh chiếm. Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 cho triển khai ngay Lữ đoàn pháo binh 164 tại đây để pháo kích sân bay Tân Sơn Nhất. Tuyến phòng thủ hướng Đông Nam Sài Gòn của Quân đoàn III - QLVNCH bị vỡ một mảng lớn.[40]

Trên hướng Đông Bắc 4 giờ 7 phút sáng 27 tháng 4, Quân đoàn 4 gồm sư đoàn 341 và sư đoàn 6 tấn công Trảng Bom, Suối Đỉa và Long Đạt, tướng Lê Minh Đảo điều chiến đoàn 52 có 8 xe tăng yểm hộ đánh vào sườn đội hình tấn công của sư đoàn 7 nhưng lại bị sư đoàn 341 tấn công từ bên sườn, mất 4 xe tăng bị bắn cháy. 8 giờ 30 phút sáng 27 tháng 4, yếu khu quân sự Trảng Bom bị QĐNDVN đánh chiếm, gần 500 sĩ quan, binh sĩ QLVNCH bị bắt làm tù binh. 9 giờ sáng 27 tháng 4, số quân còn lại của sư đoàn 18 và một chi đoàn của lữ đoàn 3 thiết giáp QLVNCH rút từ Trảng Bom về Suối Đĩa đã bị phục kích hai bên đường, hơn 2000 quân và gần 100 xe các loại bị sư đoàn 341 QĐNDVN tiêu diệt và bắt giữ.[42] Trên hướng thọc sâu, Sư đoàn 7 (Quân đoàn 4) phát triển đến Hố Nai thì phải dừng lại để phối hợp với sư đoàn 341 à sư đoàn 6 thực hiện đòn tấn công tổng hợp vào các lực lượng của Lữ đoàn 3 thiết giáp và lữ đoàn dù 4 QLVNCH. Đến quá nửa đêm 28 tháng 4, do bị thệt hại nặng, Lữ đoàn 3 xe tăng và lữ đoàn 4 dù phải lùi về Gò Vấp.[43]. Trung đoàn đặc công 113 của QĐNDVN chiếm Cầu Gềnh, Rạch Cát nhưng không giữ được, chưa chiếm được Cầu Mới. Đoàn Pháo binh 75 đặt trận địa tại Hiếu Liêm từ ngày 14 tháng 4 liên tục khống chế tê liệt sân bay Biên Hoà.

Trên hướng Tây Bắc Từ chiều 26 tháng 4, sư đoàn 316 (Quân đoàn 3 QĐNDVN) và lực lượng vũ trang Tây Ninh đã liên tiếp đánh chiếm một loại đồn bốt của QLVNCH dọc theo quốc lộ số 1 và đường 22, chia cắt sư đoàn 25 QLVNCH tại Gò Dầu - Trảng Bàng với Sài Gòn và chặn nốt cả đường rút của sư đoàn này về Đồng Dù, Củ Chi. Ngày 27 tháng 4, sư đoàn 316 tiếp tục đẩy lùi cuộc phản kích của Trong các trận đấu pháo từ ngày 25 đến ngày 28 tháng 4 trên hướng này, 39 khẩu pháo các cỡ của Quân đoàn 3 QĐNDVN đã phá hủy 33 khẩu pháo các cỡ 155 mm và 105 mm của QLVNCH tại Đồng Dù, Phước Mỹ, Đồng Chùa, Trảng Bàng, Gò Dầu Hạ, Bến Kéo, Khiêm Hạnh, phá hủy 11 trận địa pháo, gây thiệt hại năng cho 7 trận địa pháo khác của QLVNCH. Trong đội hình Quân đoàn 3, sư đoàn 10, trung đoàn xe tăng 273 và lực lượng công binh của Quân đoàn đã chuẩn bị xong các phương tiện vượt sông Sài Gòn. Sư đoàn 320A đã tiềm nhập vào khu vực Củ Chi, áp sát căn cứ Đồng Dù[44]

Trên hướng Nam và Tây Nam 22 giờ ngày 26 tháng 4, Sư đoàn bộ binh 5 mở đầu chiến dịch trên hướng này bằng đòn đánh chia cắt đường số 4 tại bốn điểm Rạch Chanh, ngã ba Nhị Thành, ấp Bình Yên, Phú Mỹ và áp sát thị xã Tân An, chi khu Thủ Thừa. Đến ngày 27 tháng 4, sư đoàn 5 đã cắt hẳn đường số 4 tại hai đoạn từ Bắc Tân An dến Bến Lức và từ Nam Tân An đến Tân Hiệp.[45]. Sư đoàn 303 - Phước Long đánh chiếm tiểu khu Hậu Nghĩa và các chi khu Đức Hoà, Đức Huệ. Trung đoàn 27 đặc công tập kích các chốt Bà Hom, Vĩnh Lộc, căn cứ ra đa Phú Lâm, mở hành lang cho sư đoàn 9 đột kích trên mũi tiến công chủ yếu.[46] Sư đoàn 8 (Quân khu 8) tấn công các vị trí của sư đoàn 22 dọc hai con sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây, đưa một lực lượng thọc sâu tấn công thành phố Mỹ Tho, cắt đứt hoàn toàn đường số 4, cô lập Sài Gòn với đồng bằng Sông Cửu Long[47]. Mặc dù tỉnh trưởng Long An gọi điện cho tướng Nguyễn Khoa Nam yêu cầu cho dùng thuốc nổ phá hủy hai cầu Tân An và Bến Lức nhưng tường Nam không đồng ý do các cầu này được dùng cho phương án dự phòng để rút Bộ Tổng tham mưu QLVNCH từ Sài Gòn về Cần Thơ. Trên đường biển, đô đốc Chung Tấn Cang cũng dành riêng một chiến hạm để di tản chính phủ VNCH về Cần Thơ. Cả tướng Lê Văn Hưng và tướng Lê Minh Đảo, những "người hùng Xuân Lộc" một thời cũng đặt hy vọng vào việc biến Quân khu IV thành căn cứ để kéo dài cuộc chiến thêm một thời gian. Thế nhưng sự xuất hiện đột ngột của một đơn vị mới tương đương quân đoàn (Đoàn 232) của QĐNDVN tại đồng bằng sông Cửu Long đã đặt những hy vọng và kế hoạch nói trên trước nguy cơ phá sản.[48]

Đợt 2[sửa | sửa mã nguồn]

Tại hướng Bắc[sửa | sửa mã nguồn]

Do tiếp cận chiến trường muộn hơn các đơn vị khác, phải đến 16 giờ chiều 27 tháng 4, Quân đoàn 1 - QĐNDVN mới đưa được những đơn vị chủ lực của mình bước vào chiến đấu. Trên mũi tấn công chủ yếu, sư đoàn 320B - được tăng cường tiểu đoàn xe tăng 66 của Lữ đoàn 202, một đại đội xe tăng độc lập, một tiểu đoàn công binh công trình, một tiểu đoàn pháo 130 mm, có cụm pháo của lữ đoàn pháo binh 45 (đoàn Tất Thắng) yểm hộ - đã tấn công chi khu Tân Uyên và sân bay Ông Lĩnh, đánh thông đoạn phía đông đường 16, mở đường đột phá sâu vào trung tâm Sài Gòn, tiến đến Bộ Tổng tham mưu QLVNCH, một trong năm mục tiêu quan trọng nhất của chiến dịch.[49] Một số trận đánh ác liệt nổ ra tại chi khu quân sự Tân Uyên, ngã ba Bình Chuẩn, Thuần Giáo, Búng, Tân Hiệp. Tiểu đoàn bảo an 316 QLVNCH và một trung đội cảnh sát dã chiến tại Tân Uyên đã dựa vào công sự vũng chắc, cầm cự được suốt đêm 27 tháng 4. Trên đường tiến, Sư đoàn 320B chỉ để lại một số lực lượng đủ để cô lập các chốt chặn dọc đường của các tiểu đoàn bảo an 317, 321, 346; còn các lực lượng chủ yếu đều nhanh chóng vượt sông Sài Gòn, tiến vào nội đô. Đến sáng 28 tháng 4, viên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 316 và 35 binh sĩ QLVNCH còn sống sót đã đầu hàng. Đường tấn công của Quân đoàn 1 - QĐNDVN (đường 16) từ Tân Uyên qua Búng đến Lái Thiêu đã được mở thông.[50][51]

Tại mũi thứ yếu, phát hiện sư đoàn 312 QĐNDVN đang bao vây căn cứ Phú Lợi, tiến công Lai Khê; tướng Lê Nguyên Vỹ, tư lênh sư đoàn 5 QLVNCH sử dụng chiến đoàn 7, có xe tăng yểm hộ cố giải tỏa đường 13 và 14, đồng thời tăng cường cho cứ điểm An Lợi nhưng khi đoàn xe di chuyển đến khu vực Tam Giáo thì rơi đúng vào mũi tấn công của chủ lực sư đoàn 312, có lữ đoàn xe tăng 202 (thiếu) yểm hộ. Sau khi bị bắn cháy ba chiếc xe đi đầu, chiến đoàn 7 QLVNCH đã bị tách khỏi chủ lực sư đoàn 5 ở Lai Khê và toàn bộ Sư đoàn 5 cũng bị cô lập ở phía Bắc Thủ Dầu Một. Trên đường vào nội đô, Quân đoàn 1 còn phải khắc phục các bãi mìn, vật cản chống xe tăng, xe cơ giới, có chỗ rộng đến 100 m, dài hơn 200 m. Đến 15 giờ ngày 29 tháng 4, sau khi gỡ hết các mìn chống tăng, mở đường vòng tránh và sử dụng tù binh dẫn đường, Quân đoàn 1 đã tập kết trước cứ điểm Lái Thiêu và chỉ còn cách trung tâm Sài Gòn - Gia Định khoảng 15 km.[52]

3 giờ sáng 30 tháng 4, sư đoàn 320 tấn công đánh chiếm Lái Thiệu và Trung tâm huấn luyện quân sự Huỳnh Văn Lương, bức hàng hơn 2000 sĩ quan, binh lính QLVNCH, trong đó có viên chỉ huy trưởng trung tâm, trung tá Nguyễn Văn Hinh và trung tá Nguyễn Thái Bình, chỉ huy trưởng chi khu Lái Thiêu[53]. Trước nguy cơ bị tiêu diệt và tan rã, ngày 29 tháng 4, chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ, tư lệnh thứ 19 của sư đoàn 5 - QLVNCH đã tự sát trong căn cứ. Đại tá Nguyễn Mạnh Tường, phó tư lệnh sư đoàn 5, tiểu khu trưởng Bình Dương, các viên trung đoàn trưởng trung đoàn 7, 8, 9 đã kéo cờ trắng xin hàng. 10 giờ sáng 30 tháng 4, sư đoàn 312 QĐNDVN đã đánh chiếm xong các căn cứ Lai Khê, Bến Cát, Lái Thiêu. Cụm phòng thủ phía Bắc Sài Gòn của QLVNCH tan vỡ.[54]

Từ 9 giờ ngày 30 tháng 4, Quân đoàn 1 - QĐNDVN lần lượt đánh chiếm Bộ tư lệnh thiết giáp, Bộ tư lệnh lục quân công xưởng, Tổng kho quân nhu, Tổng y viện QLVNCH, căn cứ 31, căn cứ 60, quận lỵ Gò Vấp, Trung tâm truyền tin điện tử; đánh tan cụm phòng thủ Bắc cầu Bình Triệu do các thiết đoàn 15, 18, 22 của Lữ đoàn 3 kỵ binh và 2 tiểu đoàn dù chốt giữ, thu 144 xe tăng, xe thiết giáp, bắt hơn 1500 tù binh. Lúc 10 giờ 30 phút, sư đoàn 320B đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu QLVNCH, sư đoàn 312 đãnh chiếm trụ sở Bộ Quốc phòng VNCH. Những mục tiêu quan trọng cuối cùng trong nội đô Sài Gòn được giao cho Quân đoàn 1 chiếm lĩnh đều được giải quyết trong ngày 30 tháng 4[55]. Tại các mục tiêu quan trọng bị đánh chiếm như Bộ Tổng tham mưu QLVNCH, Bộ Tư lệnh Hải quân VNCH, Bộ Quốc phòng VNCH, Tổng nha Cảnh sát; QĐNDVN thu được rất nhiều tài liệu cơ mật của các cơ quan này. Tất cả đều được giao cho Bộ tổng tham mưu QĐNDVN và Công an nhân dân Việt Nam quản lý, khai thác.[56]

Tại hướng Tây Bắc[sửa | sửa mã nguồn]

Đêm 28 tháng 4, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã điều động Sư đoàn 320A (thiếu) tiềm nhập vào khu vực Củ Chi bằng một cuộc hành quân bí mật ban đêm. Đơn vị này được tăng cường một tiểu đoàn pháo 155 mm, một trung đoàn phòng không. 5 giờ 30 phút sáng ngày 29 tháng 4, các đơn vị này bất ngờ nổ súng tấn công căn cứ Đồng Dù, sở chỉ huy của Sư đoàn 25 - QLVNCH do chuẩn tướng Lý Tòng Bá làm sư đoàn trưởng. Tại căn cứ này, tướng Bá nắm trong tay hơn 3000 quân, 34 xe tăng, xe bọc thép, 4 khẩu pháo M107 175 mm, 4 khẩu 155 mm, 10 khẩu 105 mm để thực hiện ý đồ tử thủ đến cùng. Sau cuộc pháo kích kéo dài 2 giờ đồng hồ, Sư đoàn 320A và các đơn vị phối thuộc tràn vào căn cứ Đồng Dù. Lúc 8 giờ, ba chiếc xe tăng T-54 được phối thuộc cho sư đoàn 320A bị bắn cháy tại cửa mở nhưng cũng đổi được ba chiếc M-48 của trung đoàn 10 thiết giáp QLVNCH đóng tại căn cứ này. Lúc 9 giờ 30 phút, đại tá Nguyễn Kim Tuấn và Ban Chỉ huy sư đoàn 320A điều trung đoàn 9 và 8 xe tăng còn lại của tiểu đoàn thiết giáp từ lực lượng dự bị tiếp tục tăng cường cho trung đoàn 48 tấn công dứt điểm căn cứ Đồng Dù.[57]. Đến 10 giờ 30 phút cùng ngày, các chốt kháng cự của sư đoàn 25 - QLVNCH tại Đồng Dù lần lượt bị dập tắt. QLVNCH điều trung đoàn 46 từ Trảng Bàng phản kích nhưng đã bị trung đoàn 9 chặn đứng. 11 giờ cùng ngày, sư đoàn 320A hoàn thành việc đánh chiếm căn cứ Đồng Dù. Chuẩn tướng tư lệnh sư đoàn 25 Lý Tòng Bá và đại tá sư đoàn phó Trần Thăng Chức chạy trốn ra rừng cao su Bắc Hà nhưng đã bị du kích Củ Chi phục bắt.[58]

Căn cứ Đồng Dù thất thủ làm cho phía sau tuyến phòng thủ vòng ngoài của QLVNCH từ Củ Chi đến Gò Dầu Hạ bị hở sườn, hở lưng. Sư đoàn 316 tại Phước Mỹ, Phước Hiệp, Trảng Bàng chuyển từ thế vây ép sang thế tấn công vào liên đoàn 32 biệt động quân, bắt sống trung tá liên đoàn trưởng Lê Khải Toàn, đồng thời tiêu diệt các lực lượng còn sót lại của sư đoàn 25 QLVNCH và lực lượng biệt động quân trên đường số 1 và 2, chiếm chi khu Trảng Bàng, giải phóng hầu hết tỉnh Tây Ninh. Sư đoàn 10 được tăng cường trung đoàn 64 (từ Sư đoàn 320A), trung đoàn xe tăng 273, trung đoàn đặc công 198 đã chia thành 2 hướng và mở cuộc tấn công từ Củ Chi vào Liên đoàn 9 biệt động quân và hai liên đoàn bảo an tại Hậu Nghĩa, phát triển đến khu vực cầu Bông và chiếm cầu chỉ sau 50 phút giao chiến. Mũi thứ hai của cánh quân này là trung đoàn 28 đánh chiếm cầu Sáng, thành Quan Năm, quận lỵ Hóc Môn, quân trường Quang Trung, đến trưa ngày 29 đã có mặt tại ngã tư Bà Quẹo; trung đoán Gia Định được tăng cường tiểu đoàn 195 gây thiệt hại cho 1 đại đội biệt động quân ờ Tân Thới Thượng, tiến công các chi khu Xuân Thế Thượng, Tân Thới Thất rồi phát triển ra quốc lộ 1, làm chủ Tham Lương. Tại khu nhà máy dệt Vinatexco và ngã tư Bảy Hiền, QLVNCH sử dụng một tiểu đoàn biệt động quân, một tiểu đoàn bảo an và một chi đoàn thiết giáp tổ chức chống cự nhưng bị đánh tan lúc 19 giờ 30 phút cùng ngày sau ba đợt phản kích. Cánh cửa phía Tây Bắc Sài Gòn đã được mở ra.[59]

5 giờ 30 phút sáng 30 tháng 4, sau một trận pháo kích từ tất cả các cỡ súng lớn của quân đoàn, sư đoàn 10 và hai đại đội xe tăng của trung đoàn thiết giáp 273 - QĐNDVN tấn công sân bay Tân Sơn Nhất, bộ tư lệnh thiết giáp, bộ tư lệnh không quân và sở chỉ huy trung đoàn 5 không quân QLVNCH. Lữ đoàn dù 4 (thiếu), một tiểu đoàn của liên đoàn bảo an 391 cùng hai đại đội quân cảnh của QLVNCH lùi về phòng thủ tại khu vực cổng số 5 của sân bay nhưng chỉ chống cự được hơn một giờ và tan rã sau hai đợt tập kích. Đến 10 giờ 30 phút, sư đoàn 10 với sự dẫn đầu của nữ biệt động Nguyễn Thị Trung Tiên đã tiến vào sân bay Tân Sơn Nhất qua hai cổng 4, 5 và hầu như đã chiếm trọn sân bay Tân Sơn Nhất, khu ra đa điều hành không lưu, Sở chỉ huy Sư đoàn 5 không quân, Sở chỉ huy sư đoàn dù[60], bắt liên lạc với hai phái đoàn VNDCCH và CPCMLTCHMNVN tại trại Đa Vít. Sư đoàn 320A tách trung đoàn 28 sang phối hợp với Quân đoàn 1 đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu QLVNCH, điều trung đoàn 64 có một đại đội xe tăng K-63 (PT-85) đi kèm tiến về phía sau Dinh Độc Lập qua đường Lê Văn Duyệt và đường Hồng Thập Tự còn trung đoàn 24 và 2 tiểu đoàn thuộc lữ đoàn xe tăng 273 thì phối hợp với trung đoàn 48 sư đoàn 320B (Quân đoàn 1) đánh chiếm bộ tổng tham mưa VNCH. Khi các đơn vị này đến nơi thì các đơn vị phái đi trước của lữ đoàn xe tăng 203 và trung đoàn 66 (sư đoàn 304) đã có mặt tại Dinh Độc Lập trước đó 30 phút[61]. Ngoài ra 2 trung đoàn 316 và 320 thì tiếp tục truy quét sư đoàn 25 QLVNCH, giải phóng Củ Chi, Hóc Môn và Tây Ninh.

Tại hướng Đông Bắc[sửa | sửa mã nguồn]

Chướng ngại cuối cùng đối với Quân đoàn 4 trên đường tiến vào Sài Gòn là khu phòng thủ Hố Nai - Long Bình - Tam Hiệp do nhữug lực lượng còn lại của Sư đoàn 18, 2 tiểu đoàn còn lại của Lữ đoàn kỵ binh thiết giáp số 3 và Liên đoàn bảo an 318 phòng thủ. Tại đây, tướng Lê Minh Đảo đã cho đào 4 lớp hào chống tăng, đặt âm các xe tăng trong công sự, hình thành nhiều ổ đề kháng cố định và cơ động. Để giải quyết nhanh cụm phòng thủ này, ngày 29 tháng 4, tướng Hoàng Cầm một mặt sử dụng 1 trung đoàn của sư đoàn 341 và trung đoàn pháo binh 55 dùng hỏa lực chế áp các cứ điểm phòng thủ của QLVNCH, mặt khác điều 2 trung đoàn 266 và 270 phối hợp với sư đoàn 6 vòng qua cụm chốt đánh chiếm sân bay Biên Hoà, Sở chỉ huy Quân đoàn III - QLVNCH, Sở chỉ huy sư đoàn 3 không quân, trận địa pháo Hốc Bà Thức và tổng kho Long Bình[62]. 4 giờ sáng ngày 30 tháng 4, Sư đoàn 7 (Quân đoàn 4) đã có mặt tại cầu cầu Ghềnh. Do cầu yếu (trọng tải 12 tấn/lượt xe), toàn bộ xe tăng của Quân đoàn 4 phải di chuyển qua cầu Xa lộ để vào Sài Gòn. Tại ngã ba Tam Hiệp, tướng Lê Minh Đảo cố gắng lập một cụm chốt phòng ngự nhưng cũng bị đánh tan lúc 11 giờ trưa ngày 30 tháng 4. 12 giờ 30 phút, các đơn vị phái đi trước của trung đoàn 141, sư đoàn 7, Quân đoàn 4 hội quân với trung đoàn 66, sư đoàn 304, Quân đoàn 2 tại Dinh Độc Lập đúng lúc Tổng thống Dương Văn Minh đã đọc xong lời tuyên bố đầu hàng không điều kiện trên Đài phát thanh Sài Gòn.[59]

Tại hướng Tây Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Đêm 29 tháng 4, Sư đoàn 9 đảm nhận mũi tấn công chủ yếu của đoàn 232 cùng với hai tiểu đoàn xe tăng sau khi vượt qua các chướng ngại đồng lầy, sông nước tại Long An đã sử dụng trung đoàn 1 đánh chiếm cầu Bà Lác, ngã năm Vĩnh Lộc, theo đường Lê Văn Duyệt tấn công Bộ tư lệnh Biệt khu Thủ đô; trung đoàn 2 được tăng cường 7 xe tăng T-54, 16 xe bọc thép BTR-60, 2 xe M-113 hình thành mũi tấn công thứ hai vào Bộ tư lệnh Biệt khu Thủ đô qua ngả An Ninh, Mỹ Hạnh. Trung đoàn 3 của sư đoàn này có 3 xe tăng T-54, 6 xe BTR60 đã tiêu diệt sở chỉ huy liên đoàn 8 và tiểu đoàn quân 88 trên tuyến vành đai Đại Hàn; tiếp đó đánh tan tiểu đoàn bảo an 327 ở nam Vĩnh Lộc, diệt chi khu Bà Hom, đánh chiếm trường đua Phú Thọ. Mặc dù bị hai phi đội A-37 của sư đoàn 4 - Không lực VNCH từ Cần Thơ lên đánh bom trúng đội hình đi đầu nhưng các đơn vị này vẫn vây chặt được Bộ Tư lệnh Biệt khu Thủ đô. Không còn đường thoát, lúc 10 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4, tướng Lâm Văn Phát, tư lệnh Biệt khu Thủ đô đã dẫn các thuộc cấp ra đầu hàng và kêu gọi sĩ quan, binh sĩ thuộc quyền hạ vũ khí, chấm dứt kháng cự.[63]

Trong khi đó trung đoàn 24 cùng đặc công diệt đồn Bình Hưng Đông, chiếm giữ cầu Nhị Thiên Đường, cầu Chữ Y, bộ tư lệnh cảnh sát quốc gia. Trung đoàn 88 diệt chi khu Bà Hom, tiến công đồn Ông Thìn, ngã ba An Phú, khu Nhà Bè. Trung đoàn 16 đánh chiếm ga An Lộc, cầu Bình Điện. Sư đoàn 5 tấn công tiêu diệt và bức hàng toàn bộ sư đoàn 22 và các liên đoàn biệt động quân của QLVNCH, cùng lực lượng địa phương đánh chiếm thị xã Tân An, chi khu Thủ Thừa. Các đơn vị đặc công chiếm các quận Tân Bình, Bình Chánh và khu Rừng Sát.

Tại hướng Đông Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là hướng tấn công chủ yếu của Quân đoàn 2 và đồng thời cũng là hướng phản kích quyết liệt nhất của QLVNCH để mở đường máu thoát ra biển qua sông Lòng Tàu và căn cứ hải quân Cát Lái. Vì vậy cuộc chiến ở khu vực này cũng diễn ra ác liệt không kém các cuộc chiến tại hướng Đông, Bắc và Tây Bắc Sài Gòn[64]. Sáng 28 tháng 4, những đơn vị còn lại của hai lữ đoàn thủy quân lục chiến và chiến đoàn 322 QLVNCH mới được điều từ lực lượng dự bị ra đã dùng hơn 20 tàu đổ bộ của hải quân bất ngờ mở cuộc phản kích vào lữ đoàn pháo binh 164 và Sở chỉ huy sư đoàn 325. Trung đoàn pháo binh 84 (thuộc sư đoàn 325) và trung đoàn cao xạ 824 (sư đoàn phòng không 673) đã lập tức dùng hoả lực pháo bắn thẳng phá vỡ đội hình phản kích của QLVNCH, bắn chìm 7 tàu của QLVNCH. Đến 15 giờ chiều 28 tháng 4, trung đoàn 101 (sư 325) đã tiếp cận chiến trường, giành lại trận địa, đẩy các lực lượng phản kích của QLVNCH lùi về Cát Lái. Sáng 29 tháng 4, Sư đoàn 304 QĐNDVN tổ chức hai mũi đột kích vu hồi gồm trung đoàn 24, trung đoàn 9 và một đại đội xe tăng của Lữ đoàn 203. Đến 10 giờ cùng ngày, các đơn vị này đã dập tắt các ổ đề kháng của QLVNCH, làm chủ tình hình ở khu vực Nước Trong và ngã ba đường 15[65]. Trưa 29 tháng 4, các tướng Hoàng Cầm (tư lệnh Quân đoàn 4) và Nguyễn Hữu An (tư lệnh Quân đoàn 2) đều nhận được mật lệnh của Bộ Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh: "Tấn công vào nội đô Sài Gòn từ 16 giờ cùng ngày"; sớm hơn sự kiến 12 giờ. 14 giờ chiều 29 tháng 4, Quân đoàn 2 đã đánh chiếm các mục tiêu còn lại tại Nhơn Trạch, bến phà Cát Lái, khu kho hậu cần Thành Tuy Hạ, vượt sông Đồng Nai đánh chiếm căn cứ hải quân Cát Lái.[63]

Các xe tăng số 390 (trái) và số 843 (phải) của QĐNDVN tiến vào Dinh Độc Lập trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975

.

Tối 29 tháng 4, lực lượng đột kích sâu của Quân đoàn 2 đã sẵn sàng tiến quân từ Long Nha. Cụm quân này gồm có lữ đoàn 203 tăng - thiết giáp đi đầu và giữa đội hình, trung đoàn 66 bộ binh cơ giới (có hơn 50 xe ô tô chở quân), một đại đội bộ binh cơ giới của trung đoàn 18 sử dụng xe thiết giáp V-100, tiểu đoàn 7 cao xạ (trung đoàn 284), một đại đội tên lửa phòng không Strela-2 (Sam-7), tiểu đoàn 4 pháo binh (Lữ đoàn 164), hai đại đội pháo 85 mm (trung đoàn 68, sư đoàn 304), một tiểu đoàn công binh và hai đại đội cầu phà (Lữ đoàn công binh 219). Lực lượng đột kích sâu được lệnh bỏ qua các ổ đề kháng lẻ của QLVNCH, để lại cho trung đoàn 18 (sư đoàn 325) hành quân theo sau giải quyết. Mục tiêu cuối cùng là tiến thẳng đến Dinh Độc Lập.[66]

Sáng 30 tháng 4, cụm đột kích sâu nhanh chóng dập tắt các ổ đề kháng của QLVNCH tại cầu Xa Lộ, Căn cứ Rạch Chiếc, căn cứ Nguyễn Huệ, Học viện Cảnh sát, cầu Sài Gòn. Pháo binh QLVNCH trụ lại tại căn cứ Thủ Đức dùng hỏa lực súng cối và súng chống tăng M-72 chặn đánh và chia cắt đội hình tiểu đoàn xe tăng 5 (lữ đoàn 203). Một phân đội của lữ đoàn 203 liền kéo vào tiêu diệt nhóm pháo binh này. Tại đây xe tăng 707 của lữ đoàn đã phải chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và người cuối cùng[67]. Đến 9 giờ sáng 30 tháng 9, sau khi dồn bộ phận còn lại của đối phương vào trong căn cứ Thủ Đức, tiểu đoàn 5 để lại cụm quân này cho trung đoàn 18 (sư đoàn 325) xử lý và đuổi theo các đơn vị đi đầu lúc này đã đến cầu Sài Gòn. Sau khi đánh tan sức kháng cự của 8 xe tăng có sự phối hợp của 6 tàu chiến hải quân QLVNCH đậu tại Tân Cảng, cụm đột kích sâu nhanh chóng vượt qua cầu Sài Gòn tiến vào đường Hồng Thập Tự[68], nhưng cũng mất 4 xe tăng và tiểu đoàn trưởng Ngô Văn Nhỡ của lữ đoàn xe tăng 203 hi sinh[69]

Sau khi tiêu diệt cụm chốt cuối cùng của QLVNCH tại cầu Thị Nghè gồm 4 xe tăng và 6 lô cốt chỉ trong vòng 15 phút, tiểu đoàn xe tăng 1 (lữ đoàn 203) đã tiếp cận cổng Dinh Độc Lập qua ngả Thảo Cầm Viên. Xe tăng 843 lao vào húc cánh cổng phụ bên trái của dinh nhưng bị kẹt lại. Còn xe tăng 390 do Chính trị viên Đại đội Vũ Đăng Toàn chỉ huy húc đổ cánh cổng chính và tiến vào sân Dinh Độc Lập.[70] Đại đội trưởng Bùi Quang Thận ra khỏi xe 843, lấy lá cờ trên xe của mình đem vào treo lên cột cờ trên nóc Dinh Độc Lập lúc 11 giờ 30 phút.[71]

Ít phút sau, đại úy Phạm Xuân Thệ, trung đoàn phó trung đoàn 66 và hai đại đội bộ binh đã có mặt tại Dinh Độc Lập. Toàn bộ nội các của chính quyền VNCH có mặt tại dinh lúc đó gồm: Tổng thống Dương Văn Minh, Phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu, Phó thủ tướng Bùi Tường Huân, Tổng trưởng Kinh tế Nguyễn Văn Hảo, Tổng trưởng thông tin Lý Quý Chung, Tổng trưởng Thương mại và Kỹ nghệ Nguyễn Văn Diệp, Tổng trưởng Tài chính Lê Quang Trường, Thứ trưởng thông tin Nguyễn Văn Ba, Thứ trưởng quốc phòng Bùi Thế Dũng, Phụ tá tổng tham mưu trưởng Nguyễn Hữu Hạnh, Chánh văn phòng Phủ thủ tướng Vũ Trang Chiêm[71]. Tại đây, ông Dương Văn Minh nói: "Chúng tôi chờ cách mạng đến để bàn giao chính quyền". Ông Phạm Xuân Thệ tuyên bố: "Các ông chẳng còn gì để bàn giao, các ông phải đầu hàng vô điều kiện". 11 giờ 45 phút 30 tháng 4 1975, ông Phạm Xuân Thệ và các sĩ quan dưới quyền đã đưa ông Dương Văn Minh ra đài phát thanh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.[72][73]

Các diễn biến chính trị, ngoại giao[sửa | sửa mã nguồn]

Điện của Donald Rumsfeld, Trợ lý Tổng thống Hoa Kỳ từ Nhà Trắng gửi cho Graham Martin, Đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn thông báo việc tiến hành cuộc di tản "Gió lốc".

Cho đến ngày 21 tháng 4, khi các tuyến phòng thủ Phan Rang và Xuân Lộc lần lượt sụp đổ, Nguyễn Văn Thiệu đã từ chức và bay sang Đài Loan, nhường lại ghế Tổng thống VNCH cho Trần Văn Hương, người Pháp vãn tin rằng họ có thể dàn xếp được một giải pháp chính trị. Tại Paris, ông Jean Sauvagnargues, Bộ trưởng ngoại giao Cộng hòa Pháp đã nhiều lần triệu kiến đại sứ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Ba và Trưởng đoàn đại diện Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Nan Việt Nam Võ Văn Sung đến trụ sở Bộ Ngoại giao để tham vấn và liên tiếp đưa ra các đề nghị về một giải pháp chính trị.[74]. Tại Sài Gòn, ngay khi bắt đầu chiến dịch di tản người Mỹ khỏi miền Nam, đại sứ Hoa Kỳ Martin cũng tìm gặp trao đổi với đại sứ Pháp Jean Marie Merillon về khả năng mở ra một giải pháp chính trị. Ngày 21 tháng 4, hai ông này đã gặp Nguyễn Văn Thiệu để bàn về việc đưa Dương Văn Minh lên ghế tổng thống nhưng Nguyễn Văn Thiệu lại yêu cầu "làm đúng Hiến pháp". Điều đó có nghĩa là Phó Tổng thống Trần Văn Hương sẽ lên thay. Và cả hai vị đại sứ Hoa Kỳ và Pháp chấp nhận một giải pháp trung gian với chức vụ thủ tướng được trao cho Dương Văn Minh. Mặc dù không thể lật ngược dược tình huống nhưng việc chậm trễ khi đưa ông Dương Văn Minh lên ghế tổng thống đã không cho các quan chức CIA ở Sài Gòn thêm bất cứ một cơ hội nào để thực hiện một giải pháp thương lượng.[75]

Trong lúc vội vã tìm kiếm sự ủng hộ của "lực lượng thứ ba" để làm một giải pháp thương lượng, ngày 28 tháng 4, ông Dương Văn Minh đã bổ nhiệm ông Triệu Quốc Mạnh là người được phía Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam cài vào "lực lượng thứ ba" vào chức vụ Giám đốc Cảnh sát Đô thành. Lấy cớ thực hiện ý định của tổng thống, ông Mạnh đã giải tán các phòng cảnh sát đặc biệt, các bộ chỉ huy cảnh sát các quận và các tổ chức cảnh sát ở cơ sở. Ông còn lệnh cho các đồng cảnh sát không được nổ súng và cho phép các sỹ quan cảnh sát được về nhà để lo cho gia đình. Những hoạt động của ông Triệu Quốc Mạnh đã vô hiệu hóa gần như toàn bộ lực lượng cảnh sát tại Sài Gòn từ ngày 29 tháng 4.[76]

Lời tuyên bố đầu hàng của ông Dương Văn Minh và lời chấp nhận đầu hàng của đại điện QĐNDVN

19 giờ ngày 28 tháng 4, ngay sau khi tân tổng thống Dương Văn Minh vừa thu âm xong bản tuyên bố của mình với yêu cầu cả hai bên ngưng bắn, thương lượng để bàn giao chính quyền thì ông Vanussème, tùy viên quân sự và an ninh của Đại sứ quán Pháp tại Sài Gòn xuất hiện. Ông này yêu cầu ngưng phát cuộn băng và đưa ra một đề nghị khiến ông Dương Văn Minh cũng phải kinh ngạc vì sợ mình nghe nhầm. Đề nghị đó là: chính quyền mới do ông Dương Văn Minh đứng đầu hãy ra tuyên bố chống Liên Xô và kêu gọi Bắc Kinh can thiệp, ngăn chặn cộng sản Việt Nam tiến vào Sài Gòn. Ông ta nói có những nguồn tin ở Washington, Paris và Bắc Kinh cho biết Trung Quốc không ủng hộ một thắng lợi hoàn toàn của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Vanusseme còn nói cứng: "Trung Quốc sẽ vào và các ông sẽ đứng vững". Tuy nhiên, do không biết thực hư ra sao nên ông Dương Văn Minh đã lấy cớ không còn thời gian và Sài Gòn không có liên lạc trực tiếp với Bắc Kinh để từ chối đề nghị của Vanussème. Sau khi Vanussème đi khỏi, Dương Văn Minh tâm sự với mấy người thân hữu: "Mình đã bỏ Pháp đi theo Mỹ, bây giờ nó lại xui mình đi theo Tàu. Thật là chán quá".[77]

Vào lúc 19 giờ 30 phút ngày 28 tháng 4, ông ra lệnh cho phát cuộn băng đã ghi âm với lời kêu gọi "những người anh em ở phía bên kia ngừng bắn để thu xếp một giải pháp bàn giao chính quyền" nhưng Đài phát thanh Hà Nội cũng như những đại diện của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ở Paris vẫn chỉ có một yêu cầu là phía Việt Nam Cộng hòa phải đầu hàng không điều kiện.[78] Sau này, khi trả lời phỏng vấn của một số nhà báo tại Sài Gòn về quyết định đầu hàng ngày 30 tháng 4 của mình, ông Dương Văn Minh cho rằng: Sài Gòn và xã hội miền Nam đã mục ruỗng, nhất là càng về cuối thì tình hình càng trở nên hỗn loạn, không sao kiểm soát được... Trước sức mạnh vũ bão của Quân giải phóng, Quân lực Việt Nam Cộng hòa không còn đủ sức chống cự, chỉ có quyết định đầu hàng không điều kiện là điều hợp thời duy nhất mà thôi.[79]

Các diễn biến tại đồng bằng sông Cửu Long[sửa | sửa mã nguồn]

Kế hoạch mật khu của Quân đoàn IV - QLVNCH phá sản[sửa | sửa mã nguồn]

Trong các diễn biến của Cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, Quân đoàn IV - QLVNCH tại đồng bằng Sông Cửu Long là đơn vị ít chịu thiệt hại nhất. Ngay sau các cuộc thất thủ tại Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng, theo lệnh của Bộ Tổng tham mưu QLVNCH, tướng Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh Quân đoàn đã hoàn chỉnh kế hoạch lập "mật khu" để giữ đồng bằng sông Cửu Long làm căn cứ tiếp tục chống cự nếu Sài Gòn thất thủ. Tướng Nam hy vọng với ba sư đoàn bộ binh 7, 9, 21 còn tương đối nguyên vẹn trong tay, gần nửa triệu địa phương quân và phòng vệ dân sự, cộng với các lực lượng còn sống sót rút từ các quân khu đã thất thủ về, ông ta có thể lập được vành đai Alpha xung quanh thành phố Cần Thơ, trung tâm chỉ huy của Quân đoàn. Trong trường hợp không giữ được Cần Thơ, tướng Nam còn có phương án dựa vào tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia với dãy núi Thất Sơn và các vùng có đông tín đồ Phật giáo Hòa Hảo, có hàng trăm hang động hiểm trở để cầm cự lâu dài và chờ thời cơ phản công. Trong tháng 4 năm 1975, một số công trình kiên cố dự định sử dụng cho Bộ tổng tham mưu QLVNCH rút về đây đã được xây dựng.[80] Các tướng Lê Minh Đảo và Lê Văn Hưng cũng đặt nhiều hy vọng vào kế hoạch này khi từ chối lời mời của tướng Nguyễn Hữu Hạnh đề nghị các ông này quay về Sài Gòn hợp tác với tướng Dương Văn Minh.[81]

Tuy nhiên, kế hoạch này đã không thể thực hiện được do một số tướng tá cấp dưới đã bỏ chạy, bộ máy chỉ huy của Quân đoàn IV đã rối loạn đến mức không thể điều khiển được các đơn vị dưới quyền trong khi các lực lượng cách mạng đang ở thế áp đảo. Đến 10 giờ ngày 30 tháng 4, (trước lúc khởi sự 4 giờ), viên chuẩn tướng tham mưu trưởng quân đoàn và viên đại tá phụ trách an ninh chịu trách nhiệm giao nhiệm vụ cho các cấp đã bỏ trốn cùng vợ con qua ngả sông Hậu ra biển. Cùng đi còn có viên thiếu tá chánh văn phòng tiểu khu Phong Dinh. 18 giờ chiều 30 tháng 4, một số thân hào, nhân sĩ Cần Thơ đã có mặt tại cổng tư dinh của tướng Lê Văn Hưng tại Cần Thơ yêu cầu ông ta hãy vì dân chúng mà đừng ra lệnh phản công vì sợ rằng nếu QLVNCH phản công, Cần Thơ sẽ bị pháo binh đối phương bắn nát như An Lộc năm 1972. 18 giờ 45 phút chiều 30 tháng 4, tướng Nam điện cho tướng Hưng thông báo việc ông ta đã cho phát cuộc băng lời kêu gọi của mình trên đài phát thanh Cần Thơ. Nhưng việc này đã không được thực hiện do Đài phát thanh đã bị một đơn vị biệt động QGPMNVN do thiếu tá Hoàng Văn Thạch chỉ huy đánh chiếm trước đó một giờ. Thay vào đó, cuốn băng ghi lại lời kêu gọi đầu hàng của tướng Dương Văn Minh hồi 12 giờ trưa ngày 30 tháng 4 được phát lên sóng của đài Cần Thơ. Chiều tối 30 tháng 4, tướng Lê Văn Hưng tự sát tại tư dinh. Nửa đêm 30 tháng 4, tướng Nguyễn Khoa Nam ra lệnh dỡ bỏ các bản đồ, kế hoạch, mật hiệu hành quân dưới tầng hầm của Sở chỉ huy Quân đoàn IV -QLVNCH và tự sát ngay trong phòng làm việc rạng sáng này 1 tháng 5 năm 1975. Kế hoạch "mật khu" của Quân đoàn IV phá sản.[82]

Từ 26 tháng 4 đến 2 tháng 5, các đơn vị QĐNDVN tại Quân khu 8 đã tổ chức nhiều mũi tấn công vào các đơn vị QLVNCH tại đồng bằng sông Cửu Long, phối hợp với sự nổi dậy của dân chúng trong vùng. Ngày 27 tháng 4, sư đoàn 7 QLVNCH bị sư đoàn 8 QĐNDVN bao vây tại căn cứ Đồng Tâm, chịu để mất thành phố Mỹ Tho cách đó khoảng vài dặm. Trong các ngày 29 và 30 tháng 4, các tiểu khu Định Tường, Kiến Tường, Sa Đéc lần lượt bị đánh chiếm bởi quân địa phương và dân quân du kích của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Thậm chí QLVNCH và chính quyền địa phương của họ tại tỉnh Gò Công đã hạ vũ khí đầu hàng trước cuộc biểu tình của dân chúng chỉ có một đội tự vệ võ trang hỗ trợ.[83]

Tại Khu 9, tình hình cũng diễn biến rất nhanh chóng. Ngày 30 tháng 4, tại Bến Tre, ba tiểu đoàn bảo an 401, 418 và 593 QLVNCH bị các tiểu đoàn địa phương 263 và 596 của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đánh thiệt hại nặng trong một cuộc phản kích định chiếm lại chi khu Lương Qưới. Đến ngày 1 tháng 5, chính quyền toàn tỉnh Bến Tre (Kiến Hoà) rơi vào tay các lực lượng cách mạng. Đêm 29 tháng 4, sư đoàn 4 (chủ lực khu 9) đã bao vây và đánh chiếm sân bay Trà Nóc. Sư đoàn 4 không quân và tiểu đoàn bảo vệ sân bay không kháng cự và đầu hàng tại chỗ. Đến chiều tối ngày 30 tháng 4, hầu hết các cứ điểm quan trọng còn lại của QLVNCH trong vành đai Alpha như căn cứ Bình Thuỷ, sân bay Lộ Tẻ, nha cảnh sát, Bộ tư lệnh Vùng chiến thuật IV, đài phát thanh, dinh tỉnh trưởng Phong Dinh bị QĐNDVN đánh chiếm. Sáng 30 tháng 4, tại Vĩnh Long, trung đoàn 18 (sư đoàn 21, QLVNCH) đầu hàng và tan rã tại chỗ. Viên đại tá tỉnh trưởng ra hàng sáng ngày 1 tháng 5. Tại Trà Vinh, 11 giờ ngày 30 tháng 4, viên tỉnh trưởng và hơn 100 binh lính còn lại cũng hạ vũ khí đầu hàng. 11 giờ ngày 1 tháng 5, toàn bộ QLVNCH tại Long Xuyên hạ vũ khí trước sức ép của trung đoàn 101 (sư đoàn 4 - chủ lực khu 9) có một tiểu đoàn thiết giáp M113 tăng cường. Tại Sóc Trăng, ngày 30 tháng 4, bốn tiểu đoàn Phú Lợi 1, 2, 3, 4 của tỉnh đội Sóc Trăng lần lượt đánh chiếm trại Lý Thường Liệt, sân bay Vọng Hoàn, chi khu Khánh Hưng, khu Hoàng Diệu, Ty cảnh sát. Lúc 14 giờ cùng ngày, hơn 100 binh sĩ QLVNCH tại dinh tỉnh trưởng kéo cờ trắng ra hàng. Tại Bạc Liêu, sáng 30 tháng 4, viên tỉnh trưởng và bộ máy chính quyền VNCH tại đây đã chấp nhận đầu hàng trước cuộc biểu tình của gần một vạn người dân trước tòa thị chính Bạc Liêu. 22 giờ đêm 30 tháng 4, bốn tiểu đoàn chủ lực khu 9 (QĐNDVN) đã đánh chiếm toàn bộ tỉnh Rạch Giá. 10 giờ 30 phút sáng ngày 1 tháng 5, các lực lượng vũ trang cách mạng địa phương đã làm chủ thị xã và toàn tỉnh Cà Mau.[84]

Đánh đuổi quân Khmer đỏ trên vùng giáp biên giới[sửa | sửa mã nguồn]

Tuy không nằm trong kế hoạch chiến dịch Hồ Chí Minh nhưng các hoạt động đánh đuổi quân Khmer đỏ ra khỏi các vùng đất liền Việt Nam ở Tây Nam Bộ bị họ lấn chiếm cũng là một trong các hoạt động quân sự để chiến dịch này có được kết quả hoàn chỉnh, bảo vệ vững chắc lãnh thổ vừa mới được thống nhất của Việt Nam.

Ngay sau khi QLVNCH tại đồng bằng sông Cửu Long tan rã và đầu hàng QĐNDVN, từ ngày 3 đến ngày 12 tháng 5 năm 1975, chính quyền Khmer đỏ đã lợi dụng "khoảng trống về quyền lực" tại các địa phương trên khu vực biên giới giữa các tỉnh Hà Tiên, Châu Đốc của Việt Nam với các tỉnh Takeo và Campot của Campuchia, sử dụng quân chính quy mở các cuộc tấn công lấn chiếm nhiều địa điểm của Việt Nam. Đặc biệt là khu vực Ba Chúc (huyện Tri Tôn), Phú Cường, Phú Hiệp (huyện Tịnh Biên), thị xã Châu Đốc, huyện lỵ An Phú; quân Khmer đỏ đã sát hại trên 500 thường dân Việt Nam, kể cả một số cựu quân nhân QLVNCH đã buông súng, rời bỏ quân ngũ; bắn vào những thường dân Việt Nam từ Campuchia chạy trốn khỏi chế độ Khmer đỏ về Việt Nam. Tại Tây Ninh, quân Khmer đỏ cũng tấn công lấn chiếm nhiều địa điểm tại Xa Mát, Ta Nốt, Lò Gò (huyện Tân Biên), Phước Thạnh, Phước Tân, (huyện Châu Thành), Cây Me, Mộc Bài (huyện Bến Cầu) sát hại hàng trăm thường dân Việt Nam.[85][86]

Song song với các chiến dịch chiếm lại các đảo Phú Quốc, Thổ Chu, Polou Wai, quần đảo Nam Du trên Vịnh Thái Lan. Bộ tư lệnh Quân khu 9 đã sử dụng sư đoàn 4 bộ binh được tăng cường trung đoàn hải quân đánh bộ 101 từ Bộ tư lệnh hải quân mở cuộc phản công đẩy lùi quân Khmer đỏ. Ngày 7 tháng 5, giải phóng Châu Đốc. Đến đầu tháng 6, các đơn vị này đã giải phóng toàn bộ khu vực biên giới thuộc tỉnh An Giang bị quân Khmer đỏ lấn chiếm; loại khỏi vòng chiến đấu một tiểu đoàn quân chính quy Khmer đỏ, thu giữ một khẩu pháo 105 mm, hai khẩu cối 82 và 60 mm, tám đại liên 12,7 mm, hơn 40 súng bộ binh các loại. Sau khi giành lại chủ quyền lãnh thổ, các đơn vị này đã tổ chức rào dây thép gai trên 40 km đường biên giới và bố trí phòng thủ tại chỗ đề phòng quân Khmer đỏ tiếp tục lấn chiếm.[87]

Kết quả[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến dịch Hồ Chí Minh, chiến dịch quân sự lớn nhất của QĐNDVN trong toàn bộ cuộc chiến tranh Việt Nam đã kết thúc với sự tan rã hoàn toàn của quân đội và chính quyền Việt Nam Cộng hoà. Kết quả của chiến dịch này là sự thống nhất, độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ trên đất liền, vùng trời, vùng biển của Việt Nam sau hơn 100 năm bị nước ngoài xâm lược chiếm đóng và chia cắt.[cần dẫn nguồn]

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, QĐNDVN đã tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng chủ lực, địa phương, cảnh sát thuộc Quân khu 3 của QLVNCH và lực lượng dự bị là tàn quân của Quân đoàn 1 và 2 của QLVNCH rút về, tổng cộng trên 45 vạn quân. Thu 500 khẩu pháo, hơn 400 xe tăng, xe thiết giáp, 800 máy bay, 600 tàu chiến, 270.000 khẩu súng các loại, 3000 xe quân sự và toàn bộ kho tàng.[88]

Trên phương tiện thông tin đại chúng, sự kết thúc chiến dịch này được truyền đi bằng một bức điện từ Bưu điện trung tâm Sài Gòn bởi một phóng viên UPI đến hơn 7500 máy teletype trên toàn cầu:

"ZCZC VHAO 25 NXI (stop) Hoả tốc… (stop) Sài Gòn-Chính phủ Sài Gòn đầu hàng. (stop) NTL 1131 Sáng"

Và một bức điện cụ thể hơn sau đó 60 giây để xác nhận:

ZCZ NNN (stop) Bản tin… (stop) Hòa bình-30/4 (stop) của Alan Dawson - UPI (stop) Sài Gòn-30 tháng 4 (stop) Tổng thống Dương Văn Minh hôm nay ra thông báo Nam Việt Nam đầu hàng và ra lệnh binh sĩ thuộc chính quyền ngừng chiến đấu. (stop) NTL 1132 Sáng.

—Alan Dawson, [89]

Đằng sau bức điện đơn giản nhưng được cả thế giới quan tâm ấy là kết quả của một chiến dịch đã đặt dấu chấm hết cho cuộc chiến tranh Việt Nam; một cuộc chiến mà vì nó, đã có hơn 360.000 người Mỹ thương vong, trong đó có 58.191 quân nhân chết;[90] phía Quân đội nhân dân Việt Nam có hơn 1,1 triệu quân nhân chết, trong đó 300.000 người đến nay vẫn còn trong diện mất tích, 600.000 quân nhân bị thương, gần 2 triệu dân thường bị giết, hơn 2 triệu dân thường mang thương tật suốt đời, khoảng 2 triệu người bị phơi nhiễm các loại hóa chất độc hại.[91]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Minh Ngọc (TNO), Xung quanh bức ảnh được xét duyệt giải thưởng Hồ Chí Minh, Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh Online, 09/06/2011 - 18:35
  2. ^ Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tập VIII. trang 401.
  3. ^ a ă Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tập VIII. trang 397
  4. ^ Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tập VIII. trang 452
  5. ^ Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tập VIII. trang 451
  6. ^ Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975). Nhà Xuất bản Quân đội Nhân dân
  7. ^ Lê Mậu Hãn (Chủ biên), Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Thư, Đại cương lịch sử Việt Nam tập 3, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2007. Trang 271: Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã kết thúc bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân 1975... Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên đất nước độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội.
  8. ^ http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/247/247/247/109687/Default.aspx
  9. ^ Văn Tiến Dũng. sđd. trang 107.
  10. ^ Paul Drayfrus. sđd. trang 132.
  11. ^ Paul Drayfrus. sđd. trang 130.
  12. ^ Frank Snepp. sđd. trang 223.
  13. ^ Dương Hảo. sđd. trang 273, 277.
  14. ^ Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tập VIII. trang 403-404
  15. ^ Lịch sử Quân đoàn 1 (1973-2003). trang 74.
  16. ^ Chiến dịch Hồ Chí Minh qua hồi ức của các vị tư lệnh và chính ủy. trang 429.
  17. ^ a ă Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tập VIII. trang 404
  18. ^ Lịch sử Quân đoàn 1 (1973-2003). trang 89.
  19. ^ Lịch sử Quân đoàn 1 (1973-2003). trang 131
  20. ^ Lịch sử Quân đoàn 2 (1974-2004).trang 237
  21. ^ Chiến dịch Hồ Chí Minh qua hồi ức của các vị tư lệnh và chính ủy. tr 416, 430.
  22. ^ Lịch sử Quân đoàn 2 (1974-2004). trang 297.
  23. ^ a ă â b Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tập VIII. trang 405
  24. ^ Bộ đội chủ lực mặt trân Tây Nguyên - Quân đoàn 3 (1964-2005). trang 306.
  25. ^ Bộ đội chủ lực mặt trận Tây Nguyên - Quân đoàn 3 (1965-2004). trang 408.
  26. ^ Chiến dịch Hồ Chí Minh qua hồi ức của các vị tư lệnh và chính ủy. tr 428.
  27. ^ Lịch sử Quân đoàn 4 - Binh đoàn Cửu Long (1974-2004). trang 102.
  28. ^ a ă Lịch sử Sư đoàn 9 bộ binh. Tập 1. trang 191.
  29. ^ a ă Lịch sử sư đoàn 303 - Phước Long. Tập 1. trang 85
  30. ^ Chiến dịch Hồ Chí Minh qua hồi ức của các vị tư lệnh và chính ủy. trang 263.
  31. ^ Chiến dịch Hồ Chí Minh qua hồi ức của các vị tư lệnh và chính ủy. tr 428. Đoạn hồi ký của Thượng tướng Nguyễn Hữu An
  32. ^ Lịch sử sư đoàn 5 bộ binh (1965-2005). trang 221.
  33. ^ Văn Tiến Dũng. sđd. trang 179.
  34. ^ Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tập VIII. trang 398
  35. ^ a ă Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tập VIII. trang 399
  36. ^ Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tập VIII. trang 397.
  37. ^ Lịch sử Quân đoàn 2 (1974 - 2004). trang 276.
  38. ^ Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tập VIII. trang 413.
  39. ^ a ă Lịch sử Quân đoàn 2 (1974 - 2004). trang 277.
  40. ^ a ă Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tập VIII. trang 416.
  41. ^ Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 (Biên niên sự kiện). trang 208.
  42. ^ Lịch sử Quân đoàn 4 - Binh đoàn Cửu Long (1974-2004). trang 135
  43. ^ Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tập VIII. trang 415.
  44. ^ Bộ đội chủ lực Tây Nguyên - Quân đoàn 3 (1964-2005).trang 388
  45. ^ Lịch sử sư đoàn bộ binh 5 (1965-2005). trang 181.
  46. ^ Lịch sử sư đoàn 9. Tập 1. trang 124.
  47. ^ Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước. trang 424.
  48. ^ Lê Đại Anh Kiệt. sđd. trang 186-187.
  49. ^ Lịch sử Quân đoàn 1 (1973-2004). Trang 115.
  50. ^ Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tập VIII. trang 422-423
  51. ^ Lịch sử Quân đoàn 1 (1973-2004). Trang 117-118.
  52. ^ Lịch sử Quân đoàn 1 (1973-2004). Trang 119.
  53. ^ Lịch sử Quân đoàn 1 (1973-2004). Trang 121.
  54. ^ Dương Hảo. sđd. trang 259.
  55. ^ Lịch sử Quân đoàn 1 (1973-2004). Trang 128-130.
  56. ^ Chiến dịch Hồ Chí Minh qua hồi ức của các vị tư lệnh và chính ủy. trang 268.
  57. ^ Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân đoàn 3 (1964-2005). trang 370-371
  58. ^ Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tập VIII. trang 420.
  59. ^ a ă Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tập VIII. trang 421.
  60. ^ Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 (Biên niên sự kiện). trang 218
  61. ^ Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân đoàn 3 (1964-2005). trang 376-377.
  62. ^ Lịch sử Quân đoàn 4 - Binh đoàn Cửu Long (1974-2004). trang 116-117.
  63. ^ a ă Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tập VIII. trang 438.
  64. ^ Lịch sử Quân đoàn 2 (1974 - 2004). trang 282.
  65. ^ Lịch sử Quân đoàn 2 (1974 - 2004). trang 284.
  66. ^ Lịch sử Quân đoàn 2 (1974 - 2004). trang 286.
  67. ^ Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 (Biên niên sự kiện). trang 221.
  68. ^ Lịch sử Quân đoàn 2 (1974 - 2004). trang 287.
  69. ^ Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 (Biên niên sự kiện). trang 222.
  70. ^ Trần Bạch Đằng, Võ Nguyên Giáp trong cuộc trường chinh thế kỷ,NXB Văn hóa Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh, 2007. Trang 680.
  71. ^ a ă Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tập VIII. trang 448.
  72. ^ Lịch sử sư đoàn 304. Tập 2. trang 182.
  73. ^ Gabriel Kolko. sđd. trang 451.
  74. ^ Võ Văn Sung. sđd. trang 204
  75. ^ Frank Snepp. sđd. trang 205.
  76. ^ Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước. trang 444.
  77. ^ Dương Hảo. sđd. trang 279.
  78. ^ Võ Văn Sung. sđd. trang 206
  79. ^ Dương Hảo. sđd. trang 280-281.
  80. ^ Hồi ức của Đại tá Lê Nguyên Bình, dẫn theo Lê Đại Anh Kiệt. sđd. trang 185-186.
  81. ^ Hồi ức của Phạm Thị Kim Hoàng, dẫn theo Lê Đại Anh Kiệt. sđd. trang 188.
  82. ^ Hồi ức của Lê Ngọc Danh, dẫn theo Lê Đại Anh Kiệt. sđd. trang 194.
  83. ^ Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tập VIII. trang 452-453.
  84. ^ Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tập VIII. trang 454-457.
  85. ^ Grant Evans - Kelvin Rowley. sđd. trang 114-115.
  86. ^ Lịch sử Cục tác chiến. trang 610.
  87. ^ Lịch sử lữ đoàn hải quân đánh bộ 101 (1965-2005). trang 37.
  88. ^ Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 (Biên niên sự kiện). trang 227.
  89. ^ Alan Dawson. sđd. trang 2.
  90. ^ Số liệu do Trung tâm Lịch sử Quân sự của Quân đội Mỹ (U.S Army Center for Military History), Wasington, D.C. Cung cấp. Dẫn theo Robert McNamara. Nhìn lại quá khứ - Tấn thảm kịch và những bài học ở Việt Nam. Dịch giả chính: Hồ Chính Hạnh. NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội. 1995. trang 365.
  91. ^ Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tập VIII. trang 463.

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

  • Văn Tiến Dũng. Đại thắng mùa Xuân 1975, Nhà xuất bản Thông tấn, Hà Nội. 2005.
  • Nguyễn Hữu Đức - Nguyễn Thị Thanh (biên tập). Chiến dịch Hồ Chí Minh qua hồi ức của các vị tư lệnh và chính uỷ. NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2005.
  • Phạm Ngọc Thạch - Hồ Khang và tập thể tác giả. Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tập VIII. NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội. 2008.
  • Dương Hảo. Một chương bi thảm. NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội. 1980.
  • Phạm Đức Hoàn (chủ biên). Lịch sử Quân đoàn 1 (1973-2003). NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2003.
  • Phạm Gia Đức - Phạm Quang Định (đồng chủ biên). Lịch sử Quân đoàn 2 (1974-2004). NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2004.
  • Nguyễn Văn Biều. Lịch sử Bộ đội chủ lực Tây nguyên - Quân đoàn 3 (1964-2005). NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2005.
  • Hồ Sơn Đài (chủ biên). Lịch sử Quân đoàn 4 - Binh đoàn Cửu Long (1974-2004). NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2004.
  • Nguyễn Quốc Dũng. Lịch sử Sư đoàn 9 bộ binh. Tập 1. NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội. 1987.
  • Thái Phương Huy - Phạm Thành Long. Lịch sử sư đoàn 303 - Phước Long. Tập 1. NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội. 1990.
  • Lê Đại Anh Kiệt. Tướng lĩnh Sài Gòn tự thuật. NXB Công an nhân dân. Hà Nội. 2003
  • Nguyễn Huy Toàn - Phạm Quang Định. Lịch sử Sư đoàn 304. Tập 2. NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội. 1990
  • Võ Văn Sung. Chiến dịch Hồ Chí Minh giữa lòng Paris. NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2005
  • Lịch sử Cục tác chiến. NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2005
  • Hồ Sơn Đài (chủ biên). Lịch sử sư đoàn 5 bộ binh (1965-2005). NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2005.
  • Cao Văn Quý (chủ biên). Lịch sử lữ đoàn hải quân đánh bộ 101 (1965-2005). NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2005
  • Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 (Biên niên sự kiện). NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh. 2005.

Nước ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Paul Drayfrus. Sài Gòn sụp đổ (Nguyên tác: Et Tomba Saigon). Dịch giả: Lê Kim. NXB Công an nhân dân. Hà Nội. 2004
  • Frank Snepp. Cuộc tháo chạy tán loạn. Dịch giả: Ngô Dư. NXB Thành phố Hồ Chí Minh. 1985
  • Alan Dawson. 55 ngày chế độ Sài Gòn sụp đổ. Dịch giả: Cao Minh. NXB Sự Thật. Hà Nội. 1990
  • Gabriel Kolko. Giải phẫu một cuộc chiến tranh. Dịch giả: Nguyễn Tấn Cưu. NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2003.
  • Grant Evans - Kelvin Rowley. Chân lý thuộc về về ai. (Nguyên tác: Red Brotherhood at war). Dịch giả: Nguyễn Tấn Cưu. NXB Quân đội nhân dân. 1986
  • Robert McNamara. Nhìn lại quá khứ - Tấn thảm kịch và những bài học ở Việt Nam. Dịch giả chính: Hồ Chính Hạnh. NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội. 1995

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]