Tổn thất nhân mạng trong Chiến tranh Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
"SP4 Ruediger Richter (Columbus, Georgia), Tiểu đoàn 4, Trung đoàn Bộ binh 503, Lữ đoàn nhảy dù chiến đấu 173 đưa mắt mệt mỏi vì trận đánh đang nhìn lên bầu trời trong khi Trung sĩ Daniel E. Spencer (Bend, Oregon) nhìn xuống xác đồng đội. Trận chiến ban ngày kết thúc, họ chờ đợi trực thăng đến di tản đồng đội của họ khỏi các ngọn đồi có rừng nhiệt đới bao phủ tại tỉnh Long Khánh."

Chiến tranh Việt Nam đã gây ra cái chết của từ 2 đến 5 triệu người Việt (tùy từng nguồn khác nhau). Trong số các nước đồng minh của Việt Nam Cộng hòa, người Mỹ có số thương vong cao nhất với hơn 58.000 người chết và hơn 305.000 người bị thương (trong đó 153.000 bị thương nặng hoặc tàn phế). Vào khoảng từ 4.400 đến 5.000 binh sĩ Hàn Quốc bị chết; Úc có khoảng 500 chết và hơn 3.000 bị thương; New Zealand 38 chết và 187 bị thương; Thái Lan 351 chết và bị thương; còn Philippines vẫn chưa có con số thống kê cụ thể.[1][2][3] Tổn thất trực tiếp và gián tiếp trong Chiến tranh Việt Nam được chia ra như sau:

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu chính thức về thương vong của phía Việt Nam được chính thức công bố gần đây nhất là:[4]

Theo tài liệu Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia có:

  • 1,1 triệu quân nhân chết; trong số đó có 300.000 quân nhân vẫn mất tích (chưa tìm được xác)
  • 600.000 quân nhân bị thương hoặc bị bệnh.

Theo Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Việt Nam, cả nước có gần 1.200.000 liệt sĩ; đã quy tập được hơn 900.000 hài cốt, số chưa quy tập (năm 2012) còn khoảng 240.000 hài cốt liệt sĩ. Tổng số mộ liệt sĩ trong các nghĩa trang liệt sĩ là 780.522 mộ; tổng số mộ liệt sĩ gia đình quản lý là 156.904 mộ. Số địa phương còn nhiều mộ liệt sĩ chưa được quy tập là 18 tỉnh, là những địa bàn chiến tranh ác liệt. Thống kê này nêu tổng số liệt sĩ của Việt Nam nhưng không nêu rõ số liệt sĩ trong Chiến tranh Việt Nam và trong các cuộc chiến tranh khác chiếm bao nhiêu trong số này[5]

Theo tư liệu giải mã của Chính phủ Việt Nam năm 1995 cũng như sự xác nhận của các viên chức chính phủ từng tham gia vào cuộc chiến. Trong một phim tài liệu trình chiếu trên kênh truyền hình The History Channel, có rất nhiều viên chức của Việt Nam trong các cuộc phỏng vấn đã xác nhận con số gần đây từ tài liệu giải mã, và số chiến binh tử trận của Quân đội Nhân dân Việt Nam (hay còn gọi là quân Giải phóng Miền Nam) vào khoảng 1,1 triệu, bao gồm 300.000 mất tích. Cần lưu ý, số thiệt mạng không chỉ bao gồm số thiệt mạng trong chiến đấu, mà còn bao gồm số thiệt mạng do bệnh tật, tai nạn, kiệt sức..., và cũng không chỉ gồm lính chiến đấu mà còn gồm bộ phận không tham gia chiến đấu như cán bộ dân chính, cơ sở chính trị ngầm, tổ chức dân vận...

Quân đội Mỹ trước đây ước đoán hành động quân sự của họ đã giết chết khoảng 500.000 quân đối phương, trong lúc 400.000 bị tiêu diệt bởi các lực lượng đồng minh (900.000 tổng số). Trong các báo cáo sau trận đánh, quân đội Mỹ thường dùng tỉ lệ "1 đổi 10" (1 lính Mỹ thương vong đổi 10 lính Quân đội Nhân dân Việt Nam). Tuy nhiên, tỉ lệ này là phi lý vì nó còn vượt quá tổng quân số của QĐNDVN. Số liệu toàn cuộc chiến cho thấy thương vong của hai bên khá tương đương. Do đó, tỷ lệ này hiện nay được các nhà sử học xác định là phóng đại nhiều lần so với thực tế, cả vì vô tình lẫn cố ý, ví dụ như:

  • Để đơn vị và bản thân được khen thưởng, các sĩ quan Mỹ thường cố ý khai khống số thi thể đối phương đếm được vì dù sao cũng chẳng có ai kiểm chứng lại báo cáo của họ.
  • Khi ném bom hoặc pháo kích, nhiều thi thể không còn nguyên vẹn, thi thể của một người có thể bị tưởng là của nhiều người.
  • Mặt khác, trong nhiều trường hợp lính Mỹ còn tính luôn xác thường dân vào đối phương vì không phân biệt được.

Các tài liệu mới do Quân đội Nhân dân Việt Nam công bố về thương vong trong các trận đánh cũng thấp hơn khá nhiều so với ước tính của Mỹ. Một số ví dụ khác về tài liệu Mỹ tịch thu được cho thấy con số thương vong thực của Quân đội Nhân dân Việt Nam thường thấp hơn tới 50% so với con số Hoa Kỳ công bố.[6] Thực tế tổng kết số liệu toàn cuộc chiến, thương vong của hai bên khá tương đương (tuy rằng tỉ lệ chết của lính Mỹ và đồng minh thấp hơn do được hỗ trợ quân y tốt hơn).

Một tỉ lệ khá lớn số binh sĩ thiệt mạng của Quân đội Nhân dân Việt Nam (có thể lên tới 40%) không phải trong chiến đấu mà bởi các nguyên nhân diễn ra trong hoàn cảnh chiến đấu khó khăn (như tai nạn, rắn cắn, thú dữ, bệnh tật...), đặc biệt với những đoàn quân hành quân qua những chặng đường gian khổ của Đường mòn Hồ Chí Minh. Tính trung bình, trong giai đoạn nửa đầu (trước 1968), khi quân Mỹ đánh phá ác liệt và hệ thống quân y viện chưa phổ biến, cứ 10 lính Quân đội Nhân dân Việt Nam vào Nam chiến đấu thì chỉ 5-6 người tới đích, còn lại hầu hết bị ốm hoặc tử vong dọc đường do sốt rét, rắn cắn, kiệt sức hoặc tai nạn. Hiện Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn là nghĩa trang liệt sĩ lớn nhất Việt Nam với hơn 1 vạn mộ, song cũng chỉ chiếm một phần số bộ đội hi sinh khi hành quân trên tuyến đường này.[cần dẫn nguồn]

Trong 1,1 triệu quân nhân thiệt mạng, có khoảng 300 ngàn mất tích. Công tác tìm kiếm hài cốt liệt sĩ được tiến hành liên tục, nên đã giảm con số mất tích xuống còn khoảng 240 ngàn (năm 2012).

Con số bị thương cũng mập mờ bởi nhiều chiến binh bị thương nhiều lần, nhiều người khác lại không bị thương mà bị mất sức chiến đấu do bệnh tật, và khó lần tìm bằng cách xem sổ sách lưu giữ, nhất là đối với lực lượng du kích ở miền Nam. Hơn nữa việc cấp cứu y tế khó khăn và thiếu thốn thuốc men cho lực lượng du kích đồng nghĩa với tỷ lệ chết của thương binh cao hơn nhiều so với của lực lượng Hoa Kỳ và đồng minh ở miền Nam [7] (thông thường cứ 2 lính quân Giải phóng bị thương thì có 1 chết vì không đủ phương tiện cứu chữa, trong khi cứ 6 lính Mỹ và đồng minh bị thương thì mới có 1 chết do có hệ thống quân y hiện đại).

Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Quân lực Việt Nam Cộng hòa

  • ~250.000-316.000 tử trận hoặc mất tích
  • ~1.170.000 bị thương

Con số 220.357 tử trận được Lewy dẫn từ tài liệu lưu trữ của Bộ quốc phòng Mỹ, tính từ năm 1965 đến năm 1974. Cộng thêm con số tử trận trong giai đoạn 1974-1975 và trước đó cho ra ước tính khoảng hơn 250.000 tử trận. Nhà sử học R.J. Rummel đưa ra con số ước tính cao nhất có thể lên tới 316.000 tử trận[8]

Tổn thất dân sự[sửa | sửa mã nguồn]

  • ~900.000 đến 4.000.000 chết: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Việt Nam đưa ra con số này vào ngày 3 tháng 4 năm 1995[cần dẫn nguồn], hai triệu thường dân tại miền Bắc và hai triệu tại miền Nam đã chết khoảng giữa năm 1954 và 1975. Con số tổn thất dân sự của miền Bắc có thể là hậu quả của các chiến dịch không quân của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam.
  • ~3.000.000 ảnh hưởng bởi chất độc da cam
  • Số liệu chính thức về thương vong của phía Việt Nam được chính thức công bố gần đây nhất:[4]
- Gần 2 triệu thường dân chết;
- Hơn 2 triệu thường dân mang thương tật suốt đời;
- Khoảng 2 triệu người (gồm cả quân nhân) phơi nhiễm các loại hóa chất độc hại.

Nick Turse, trong sách "Giết mọi thứ di động, lập luận rằng: việc không ngừng tìm kiếm nhiều hơn số xác chết, việc sử dụng lan tràn vùng tự do bắn phá, thường dân có thể bị xem là du kích, và thái độ khinh miệt phổ biến dành cho thường dân Việt Nam đã dẫn đến thương vong lớn và tội ác chiến tranh gây ra bởi quân đội Mỹ.[9] Một ví dụ là Chiến dịch Speedy Express, được mô tả bởi John Paul Vann, là một vụ thảm sát còn ghê gớm gấp nhiều lần Thảm sát Mỹ Lai.[9] Cụ thể hơn:

Đại úy không quân, Brian Wilson, thực hiện ném bom vào vùng tự do bắn phá, nhận thấy những kết quả đầu tiên: "Đó là hình ảnh thu nhỏ của sự vô đạo đức... Một trong những lần tôi đếm số xác chết sau khi không kích kết thúc với hai quả bom napalm, thứ sẽ đốt cháy tất cả mọi thứ, tôi đếm được 62 thi thể. Trong báo cáo của tôi, tôi mô tả họ gồm rất nhiều phụ nữ ở khoảng 15 tới 25 tuổi và rất nhiều trẻ em - thường nằm chết trong vòng tay người mẹ hoặc chị, và rất nhiều người già." Thế nhưng sau khi đọc báo cáo chính thức, Wilson lại thấy những thi thể thường dân này được quân đội Mỹ liệt kê là 130 binh lính địch bị giết.[10]

Hoa Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

  • 58.209 tử trận và chết vì lý do khác[11]
  • Hơn 305.000 bị thương. Trong đó 153.303 bị thương nặng hoặc tàn phế[12]
  • 1.948 mất tích[13]
Quốc gia Binh chủng Con số phục vụ Chết Bị thương Mất tích
Hoa Kỳ[4] Lục quân 4.368.000 38.218 96.802
Thủy quân lục chiến 794.000 14.840 51.392
Hải quân 1.842.000 2.565 4.178
Không quân 1.740,000 2.587 1.021
Tổng số 8.744.000 58.209 153.303 1.948
Quốc gia Năm chết Số người chết
Hoa Kỳ[5]
1956-1964 401
1965 1.863
1966 6.143
1967 11.153
1968 16.592
1969 11.616
1970 6.081
1971 2.357
1972 641
1973 168
1974-1998 1333

Tổng thương vong của Hoa Kỳ lên tới hơn 362 ngàn lính, còn cao hơn cả tổn thất trong chiến tranh Thái Bình Dương (khoảng 354.500 lính) và chiến tranh thế giới thứ nhất (khoảng 320 ngàn lính), và là số thương vong cao thứ 2 trong một cuộc chiến tranh đối với Hoa Kỳ. Tuy nhiên tỷ lệ lính Mỹ thiệt mạng được so với các cuộc chiến trước được giảm xuống khá thấp. Tại Việt Nam, lần đầu tiên Hoa Kỳ trang bị rộng rãi các phương tiện cơ giới như xe bọc thép và nhất là trực thăng. Điều này cho phép quân Mỹ khi bị thương nặng có thể được vận chuyển đến trạm phẫu thuật rất nhanh chóng (chỉ dưới 15 phút), cho phép hạn chế tỉ lệ tử vong của thương binh xuống đáng kể. Nếu như trong chiến tranh thế giới thứ haichiến tranh Triều Tiên, trung bình cứ 3 lính Mỹ bị thương thì có 1 chết, thì tỉ lệ này ở Việt Nam là 6 lính Mỹ bị thương mới có 1 chết (tức giảm 1 nửa số lính thiệt mạng so với trước).

Bên cạnh những tổn thất về sinh mạng về thể xác, lính Mỹ còn phải chịu những mất mát nặng nề về tinh thần. Hàng trăm ngàn lính Mỹ khi về nước đã mắc nhiều chứng rối loạn tâm thần do bị chấn thương tâm lý bởi những nỗi khiếp sợ họ gặp ở Việt Nam (thường được người Mỹ gọi là Hội chứng Việt Nam); khoảng 200 ngàn lính Mỹ đã mắc nghiện ma túy trong những ngày ở Việt Nam[14]. Thêm vào đó, hàng trăm ngàn lính Mỹ đã bị nhiễm chất độc màu da cam, khiến sức khỏe của họ dần hao mòn và con cháu mà họ sinh ra bị mắc nhiều chứng dị tật khác nhau.

Tổn thất đầu và cuối của Hoa Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Tù binh chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tù binh chiến tranh đầu tiên bị bắt
  • Tù binh chiến tranh cuối cùng bị bắt
  • Tù binh chiến tranh bị giữ lâu nhất
    • 8 năm, 355 ngày- Floyd James Thompson bị bắt ngày 26 tháng 3 năm 1964 và được phóng thích ngày 16 tháng 3 năm 1973. Chỉ thiếu 10 ngày là đủ 9 năm làm tù binh chiến tranh, ông bị bắt giữ làm tù binh lâu nhất trong Chiến tranh Việt Nam và là tù binh Hoa Kỳ bị bắt giữ lâu nhất trong lịch sử Hoa Kỳ.

Hàn Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

  • 5.099 tử trận
  • 11.232 bị thương
  • 4 mất tích trong chiến đấu[15]

CHDCND Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

14 phi công chết, 2 cố vấn bị thương.

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Liên Xô[sửa | sửa mã nguồn]

Khoảng 6.000 quân nhân Xô Viết tham gia vào Chiến tranh Việt Nam với vai trò cố vấn kỹ thuật và huấn luyện; 16 trong số đó thiệt mạng do bệnh tật hoặc tai nạn (không có ghi nhận thiệt mạng trong chiến đấu)[cần dẫn nguồn].

Philippines[sửa | sửa mã nguồn]

Thái Lan[sửa | sửa mã nguồn]

  • 351 tử trận[15]
  • 1.358 bị thương

Úc[sửa | sửa mã nguồn]

Khoảng 500 chết, bao gồm 426 chết trong chiến đấu và 76 chết vì các nguyên nhân khác (tai nạn hoặc bị bệnh).

New Zealand[sửa | sửa mã nguồn]

  • 55 tử trận + 2 dân thường
  • 212 bị thương[15]

Campuchia[sửa | sửa mã nguồn]

Thường dân Campuchia

Lào[sửa | sửa mã nguồn]

Thường dân Lào

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ [1]
  2. ^ [2]
  3. ^ [3]
  4. ^ a ă Phạm Ngọc Thạch - Hồ Khang. Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975). Tập VIII. NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội. 2008. trang 436.
  5. ^ 900.000 hài cốt liệt sĩ đã được quy tập, Báo Quân đội Nhân dân online, Thứ Sáu, 13/01/201
  6. ^ Spencer Tucker, Vietnam, (Routledge: 1999), pp. 120-145
  7. ^ Counting Hell, Bruce Sharp
  8. ^ http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB6.1A.GIF
  9. ^ a ă Turse 2013, tr. 251.
  10. ^ Turse 2013, tr. 212.
  11. ^ Statistical information about casualties of the Vietnam Conflict, US National Archives
  12. ^ Bill Abbott, Names On The Wall: A Closer Look At Those Who Died In Vietnam, HistoryNet.com
  13. ^ The Vietnam-Era Prisoner-of-War/Missing-in-Action Database, Vietnam-Era Unaccounted for Statistical Report, CURRENT AS OF: November 7, 2001, Library of Congress
  14. ^ American War and Military Operations Casualties: Lists and Statistics, Congressional Research Service, February 26, 2010 Available online
  15. ^ a ă â KOREA military army official statistics, 28 tháng 8, 2005 (tiếng Triều Tiên)

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Edward Doyle, Samuel Lipsman, et al, Setting the Stage. Boston: Boston Publishing Company, 1981.
U.S.—57,605. South Vietnamese military—220,357. Republic of Korea, Australia, New Zealand, and Thailand—not listed. DRV and NLF deaths—444,000. Combined DRV and RVN civilian deaths—587,000.
  • Harry G. Summers, The Vietnam War Almanac. Novato CA: Presidio Press, 1985.
U.S. killed in action, died of wounds, died of other causes, missing and declared dead—57,690. South Vietnamese military killed—243,748. Republic of Korea killed—4,407. Australia and New Zealand (combined)—469. Thailand—351. The Vietnam People's Army and NLF (combined)—666,000. North Vietnamese civilian fatalities—65,000. South Vietnamese civilian dead—300,000.
  • Marc Leepson, ed, Webster's New World Dictionary of the Vietnam War. New York: Simon and Schuster, 1999.
U.S. killed in action, etc.—58,159. South Vietnamese military—224,000. Republic of Korea, Australia, New Zealand, and Thailand—not listed. DRV military—not listed. DRV civilians—65,000. South Vietnamese civilians—300,000.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]