Lục quân Hoa Kỳ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lục quân Hoa Kỳ
United States Department of the Army Seal.svg

Con dấu Bộ Lục quân Hoa Kỳ
Hoạt động 14/6/1775 đến nay
Quốc gia Hoa Kỳ
Quân chủng Lục quân
Lực lượng 561984 quân chính thức, 567299 quân trừ bị và vệ binh quốc gia
Bộ phận thuộc Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ
Bộ Lục quân Hoa Kỳ
Khẩu hiệu "Ea Nos Vallo"
(Chúng tôi bảo vệ điều này)
Tham chiến Chiến tranh Cách mạng Mỹ
Chiến tranh Mỹ-Mexico
Nội chiến Hoa Kỳ
Chiến tranh Mỹ-Tây Ban Nha
Chiến tranh Mỹ-Philippines
Chiến tranh chống Nghĩa Hòa Đoàn
Đệ nhất Thế chiến
Đệ nhị Thế chiến
Chiến tranh Triều Tiên
Chiến tranh Việt Nam
Chiến tranh vùng vịnh
Chiến tranh Kosovo
Chiến tranh Afghanistan
Chiến tranh Iraq
Các tư lệnh
Tham mưu trưởng Đại tướng George W. Casey, Jr.
Tham mưu phó Đại tướng Peter W. Chiarelli
Quân hiệu
Phù hiệu tuyển mộ US Army logo.svg

Lục quân Hoa Kỳ là một quân chủng của Quân đội Hoa Kỳ có trách nhiệm với các chiến dịch quân sự trên bộ. Đây là quân chủng xưa nhất và lớn nhất về quân sự của Hoa Kỳ, và là một trong 7 lực lượng đồng phục của Hoa Kỳ (uniformed services). Lục quân hiện đại có nguồn gốc từ Lục quân Lục địa được thành lập vào ngày 14 tháng 6 năm 1775,[1] trước khi Hoa Kỳ được khai sinh để đáp ứng nhu cầu cho Chiến tranh Cách mạng Mỹ. Quốc hội Liên hiệp (Congress of the Confederation) thành lập Lục quân Hoa Kỳ vào ngày 14 tháng 6 năm 1784 sau khi kết thúc chiến tranh để thay thế Lục quân Lục địa bị giải tán. Lục quân tự xem mình là hậu duệ của Lục quân Lục địa và vì thế coi ngày thành lập của mình chính là ngày thành lập của lực lượng Lục quân Lục địa.[1]

Nhiệm vụ chính của Lục quân Hoa Kỳ là "cung ứng các lực lượng và khả năng cần thiết... để hỗ trợ chiến lược phòng vệ và an ninh quốc gia."[2] Lục quân Hoa Kỳ được điều hành và trông coi bởi Bộ Lục quân Hoa Kỳ, đây là một trong ba bộ quân sự trực thuộc Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ. Người lãnh đạo dân sự là Bộ trưởng Lục quân Hoa Kỳ. Sĩ quan quân sự cao cấp nhất trong bộ là Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ trừ khi Tổng tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ hay Tổng tham mưu phó Liên quân Hoa Kỳ là sĩ quan lục quân. Lục quân hiện dịch hiện có khoảng 539.675 binh sĩ; Lục quân Vệ binh Quốc gia có khoảng 360.351 và Lục quân Trừ bị Hoa Kỳ có khoảng 197.024. Tính chung tất cả thì tổng lực lượng lên đến 1.097.050 binh sĩ (năm tài chính 2008).[3]

Sứ mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Lục quân Hoa Kỳ phục vụ với vai trò là binh chủng trên bộ của Quân đội Hoa Kỳ. Mục §3062 trong Điều 10 Bộ luật Hoa Kỳ đã định nghĩa mục đích của Lục quân như sau:[4]

  • Duy trì hòa bình và an ninh, cung ứng lực lượng bảo vệ Hoa Kỳ, các thịnh vượng chung, thuộc địa, và bất cứ vùng đất nào mà Hoa Kỳ chiếm giữ
  • Hỗ trợ các chính sách của quốc gia
  • Thực thi các mục tiêu của quốc gia
  • Vượt lên chiến thắng bất cứ quốc gia nào có những hành động gây hấn mà đe dọa hòa bình và an ninh của Hoa Kỳ

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Tấn công đồn số 10 trong trận bao vây Yorktown.

Lục quân Lục địa được Quốc hội Lục địa thành lập vào ngày 14 tháng 6 năm 1775 với vai trò là quân đội thống nhất của mười ba thuộc địa chống lại Vương quốc Anh. Khi đó George Washington được bổ nhiệm làm tư lệnh của đội quân thống nhất này.[1] Lục quân ban đầu do các quân nhân phục vụ trong Lục quân Anh hay các dân quân thuộc địa. Những người này đã mang theo di sản quân đội Anh cùng với họ khi gia nhập Lục quân Lục địa. Khi Chiến tranh Cách mạng Mỹ đang tiến triển thì Lục quân Lục địa nhận được sự trợ giúp và tiếp liệu cũng như học thuyết của Pháp nên có phần ảnh hưởng đến lực lượng này. Sự trợ giúp của Phổ và các huấn luyện viên Phổ như Friedrich Wilhelm von Steuben cũng có ảnh hưởng rất lớn đối với Lục quân Lục địa.

George Washington đã sử dụng chiến lược Fabian (tránh đối đầu trực tiếp, từng bước tiêu hao lực lượng địch), chiến thuật đánh và rút nhằm vào nơi yếu điểm nhất của địch để tiêu hao các lực lượng Anh và đồng minh đánh thuê của họ. Washington đã dẫn dắt lục quân chiến thắng chống lại người Anh tại các trận TrentonPrinceton, và rồi quay trở về miền nam. Với chiến thắng có tính quyết định tại trận bao vây Yorktown và sự giúp đỡ của người Pháp, Tây Ban Nha, và Hà Lan, Lục quân Lục địa toàn thắng trước người Anh. Theo Hiệp định Paris (1783), nền độc lập của Hoa Kỳ được công nhận.

Sau chiến tranh, Lục quân Lục địa nhanh chóng bị giải tán vì người Mỹ không tin tưởng vào quân đội hiện có mà thay vào đó quân dân từ các tiểu bang trở thành lực lượng bộ binh duy nhất của quốc gia mới, trừ một trung đoàn được giữ lại để bảo vệ vùng Lãnh thổ Tây Bắc và một đại đội pháp binh bảo vệ kho vũ khí ở West Point. Tuy nhiên vì xung đột tiếp tục xảy ra giữa Hoa Kỳ và người bản thổ Mỹ nên Hoa Kỳ nhận thấy rằng một lục quân hiên dịch được huấn luyện là điều cần thiết. Đơn vị đầu tiên là Lê Dương Hoa Kỳ, được thành lập vào năm 1791.

Thế kỷ 19[sửa | sửa mã nguồn]

Trận Gettysburg, bước ngoặt của Nội chiến Hoa Kỳ

Chiến tranh năm 1812 là cuộc chiến thứ hai và cũng là cuối cùng của người Mỹ chống lại người Anh nhưng không thành công bằng Chiến tranh Cách mạng Mỹ trước kia. Một cuộc xâm nhập vào Canada bị thất bại và quân đội Hoa Kỳ không thể ngăn cản được người Anh hỏa thiêu thủ đô mới của Hoa Kỳ vào lúc đó là Washington, D.C.. Tuy nhiên, Lục quân chính quy dưới quyền của các vị tướng Winfield ScottJacob Brown đã chứng tỏ được sự chuyên nghiệp của họ và có thể đánh bại quân đội Anh trong Chiến dịch Niagara vào năm 1814. Hai tuần sau khi một hiệp ước được ký kết, Andrew Jackson đã đánh bại cuộc xâm nhập New Orleans của người Anh. Tuy nhiên cuộc chiến thắng này không có ảnh hưởng vì lớn vì hiệp ước đã bắt buộc hai bên trở về vị trí ban đầu của mình.

Giữa năm 1815 và 1860, tinh thần của cái gọi là Vận mệnh hiển nhiên trở nên quen thuộc tại Hoa Kỳ và khi người định cư Mỹ di chuyển về phía tây thì Lục quân Hoa Kỳ lại phải đối phó với một loại các vụ tập kích và trận đánh để chống lại người bản thổ Mỹ trong khi những người thực dân Mỹ đã làm lật tung nơi ăn chốn ở của họ. Lục quân Hoa Kỳ cũng phải chiến đấu trong Chiến tranh Mỹ-Mexico (1846–1848). Đây là sự kiện mang tính định đoạt đối với cả hai quốc gia.[5] Sự chiến thắng của người Mỹ đã thu về cho Hoa Kỳ một vùng lãnh thổ rộng lớn mà sau này trở thành toàn bộ hay một phần của các tiểu bang California, Nevada, Utah, Colorado, Arizona, WyomingNew Mexico.

Nội chiến Hoa Kỳ là cuộc chiến đắt giá nhất thời kỳ này. Sau khi đa số các tiểu bang miền nam ly khai và thành lập liên minh miền Nam Hoa Kỳ, Lực lượng miền nam nổ súng tấn công lực lượng miền bắc và khởi sự cuộc nội chiến tại Đồn SumterCharleston, Nam Carolina. Trong khoảng thời gian hai năm đầu nội chiến, lực lượng miền nam thắng đậm Lục quân Hoa Kỳ nhưng sau các trận đánh có tính quyết định tại Gettysburg ở miền đông và Vicksburg ở miền tây cùng với sức mạnh siêu đẳng về quân số cũng như công nghệ quân đội liên bang đã thực hiện một chiến dịch thần sầu vượt qua lãnh thổ của phe miền nam và cuộc nội chiến kết thúc khi phe miền nam đầu hàng vào tháng tư năm 1865. Theo con số điều tra dân số năm 1860, có đến 8% nam người Mỹ da trắng tuổi từ 13 đến 43 chết trong cuộc chiến này trong đó khoảng 6% ở miền bắc và 18% ở miền nam.[6]

Sau nội chiến, Lục quân Hoa Kỳ đánh một cuộc chiến kéo dài với người bản thổ Mỹ vì người bản thổ Mỹ chống lại việc người Mỹ mở rộng lãnh thổ vào bên trong giữa lục địa Bắc Mỹ. Vào thập niên 1890, Hoa Kỳ trở thành một nhân tố tầm cỡ quốc tế khi Hoa Kỳ thắng cuộc trong Chiến tranh Mỹ-Tây Ban Nha và thắng cuộc chiến gây tranh cãi và ít biết đến hơn là Chiến tranh Mỹ-Philippines cũng như sự can thiệp của Hoa Kỳ vào châu Mỹ Latincuộc khởi nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn.

Thế kỷ 20[sửa | sửa mã nguồn]

Binh sĩ thuộc Sư đoàn Bộ binh 89 thuộc Lục quân Hoa Kỳ vượt sông Rhine bằng tàu, năm 1945.

Năm 1910, binh chủng thông tin Hoa Kỳ trực thuộc Lục quân Hoa Kỳ (U.S. Signal Corps) mua và sử dụng các phi cơ đầu tiên cho Lục quân Hoa Kỳ, đó là các phi cơ có cánh hai tầng Wright Type A.[7] Hoa Kỳ tham chiến trong Đệ nhất Thế chiến vào năm 1917 bên cạnh Vương quốc Anh, Pháp, và Nga. Quân đội Hoa Kỳ được đưa đến mặt trận và tham gia vào cuộc tấn công mà cuối cùng đã phá vỡ được các phòng tuyến của Đức. Khi hiệp ước đình chiến được ký kết ngày 11 tháng 11 năm 1918 thì Lục quân Hoa Kỳ một lần nữa bị cắt giảm lực lượng.

Hoa Kỳ tham chiến trong Đệ nhị Thế chiến sau khi Đế quốc Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng. Tại chiến trường châu Âu, các lực lượng thuộc Lục quân Hoa Kỳ đã hình thành nên một bộ phận nổi bật của các lực lượng chiếm Bắc PhiSicilia. Vào ngày mà ngày nay gọi là D-Day và sau đó là giải phóng châu Âu và đánh bại Phát xít Đức thì đã có đến hàng triệu binh sĩ Lục quân Hoa Kỳ đóng vai trò trung tâm của lực lượng đồng minh. Tại mặt trận Thái Bình Dương, các binh sĩ Lục quân Hoa Kỳ đã cùng với Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ tham gia vào chiến dịch tấn công chớp nhoáng vào các hải đảo để giành lấy từng đảo này từ tay của Đế quốc Nhật Bản. Sau khi phe trục đầu hàng vào tháng 5 (Đức) và tháng 8 (Nhật) năm 1945, binh sĩ Lục quân Hoa Kỳ được triển khai để chiếm đóng hai quốc gia bại trận là Nhật và Đức. Hai năm sau Đệ nhị Thế chiến, Không lực Lục quân Hoa Kỳ được tách ra khỏi Lục quân Hoa Kỳ và trở thành Không lực Hoa Kỳ vào ngày 18 tháng 9 năm 1947 sau nhiều thập niên tìm cách tách ra khỏi lục quân. Vào năm 1948, Lục quân Hoa Kỳ cũng chấm dứt việc tách ly chủng tộc trong quân đội.

Tuy nhiên, cuối Đệ nhị Thế chiến cũng là thời điểm sinh ra sự đối đầu giữa Đông và Tây mà được biết đến với tên gọi Chiến tranh lạnh. Với sự kiện nổ ra Chiến tranh Triều Tiên, mối quan tâm đến sự phòng thủ Tây Âu phát sinh. Hai quân đoàn, V và VII, được tái phối trí hoạt động dưới quyền của Lục quân 7 Hoa Kỳ vào năm 1950. Lực lượng của Hoa Kỳ tại châu Âu gia tăng từ một sư đoàn lên đến bốn sư đoàn. Hàng trăm ngàn binh sĩ đóng quân Tây Đức cùng với một số khác ở Bỉ, Hà Lan, Vương quốc Anh cho đến thập niên 1990 nhằm ngăn chăn một cuộc tấn công có thể có của Liên Xô.

Binh sĩ thuộc Sư đoàn Bộ binh số 2 đang chốt giữ một khẩu súng máy trong Chiến tranh Triều Tiên

Trong Chiến tranh lạnh, các binh sĩ Mỹ và đồng minh đã chiến đấu chống các lực lượng cộng sản tại Triều Tiên và Việt Nam (xem Thuyết Domino). Chiến tranh Triều Tiên xảy ra vào năm 1950 khi Liên Xô rời bỏ phòng họp của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc và vì thế đã bỏ mất quyền phủ quyết có thể có của họ. Dưới cây dù của Liên Hiệp Quốc, hàng trăm ngàn binh sĩ của Hoa Kỳ đã tham chiến để ngăn cản Bắc Triều Tiên chiếm Nam Triều Tiên và rồi sau đó xâm nhập vào lãnh thổ miền bắc. Sau nhiều lần tiến thoái của cả hai bên và Trung Quốc nhảy vào vòng chiến thì một cuộc ngưng bắn được tuyên bố, kêu gọi hai bên rút về vị trí mà đã được tạo ra vào năm 1953.

Một toán bộ binh Hoa Kỳ đang tấn công một vị trí ở Đắk Tô trong Chiến dịch Hawthorne, Chiến tranh Việt Nam

Chiến tranh Việt Nam thường được xem như một điểm thấp trong hồ sơ lịch sử của Lục quân Hoa Kỳ vì việc sử dụng các binh sĩ bị bắt buộc thi hành quân dịch, thiếu sự ủng hộ chiến tranh của dân chúng Mỹ và những hạn chế gây bức xúc bị áp đặt cho Lục quân Hoa Kỳ từ các nhà lãnh đạo chính trị Hoa Kỳ (thí dụ như không có cuộc xâm nhập nào của bộ binh được tiến hành vào lãnh thổ của Bắc Việt). Trong lúc các lực lượng Mỹ đóng quân tại Việt Nam Cộng hòa từ năm 1959 với vai trò tình báo, huấn luyện và cố vấn thì họ vẫn chưa triển khai quân với số lượng lớn mãi cho đến năm 1965, sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ. Các lực lượng Mỹ thiết lập và kiểm soát hữu hiệu chiến trường "truyền thống" nhưng họ lại phải đối phó với các chiến thuật đánh và rút của Quân Giải phóng miền Nam Việt NamQuân đội Nhân dân Việt Nam. Về cấp chiến thuật, các binh sĩ Mỹ không thua một trận chiến tầm cỡ nào.[8] Thí dụ trong trận công kích Tết Mậu Thân năm 1968, Lục quân Hoa Kỳ đã chuyển được tình thế từ bị tấn công thành phản công gây thiệt hại nặng cho các lực lượng Cộng sản tại miền Nam Việt Nam. Chính do kết quả này mà sau đó, đa số các trận đánh lớn khác của Lục quân Hoa Kỳ chỉ xảy ra với lực lượng quân đội chính quy của miền Bắc được bổ sung vào với danh nghĩa Quân giải phóng miền Nam. Tuy nhiên, cuối cùng, sự phản chiến của giới chính trị trong nước buộc Hoa Kỳ rút quân khỏi Việt Nam vào năm 1973. Năm 1975, Việt Nam thống nhất dưới một chính phủ cộng sản.

Chính sách tổng lực lượng được Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ là Đại tướng Creighton Abrams đưa ra sau Chiến tranh Việt Nam là coi ba thành phần của Lục quân Hoa Kỳ – Lục quân Chính quy, Lục quân Vệ binh Quốc gia và Lục quân Trừ bị là một lực lượng đơn độc.[9] Vì tin rằng không có một vị Tổng thống Hoa Kỳ nào có thể đưa Hoa Kỳ (và đặc biệt hơn là Lục quân Hoa Kỳ) vào chiến tranh mà không có sự ủng hộ của dân chúng Mỹ nên đại tướng Abrams kết hợp cơ cấu tổ chức ba thành phần của Lục quân Hoa Kỳ theo cái cách khiến cho các hoạt động quân sự kéo dài không thể nào thực hiện được mà không có sự tham gia của cả Lục quân Vệ binh Quốc gia và Lục quân Trừ bị.

Thập niên 1980 là một thập niên tái tổ chức của Lục quân. Lục quân đã biến đổi lực lượng thành lực lượng toàn binh sĩ tình nguyện phục vụ với điểm nhấn là huấn luyện và sử dụng kỹ thuật. Đạo luật Goldwater-Nichols năm 1986 tạo nên các Bộ tư lệnh Chiến đấu Thống nhất (unified combatant command), đưa Lục quân Hoa Kỳ cùng với bốn quân chủng khác nằm dưới các cơ cấu chỉ huy theo vị trí địa lý và thống nhất. Lục quân cũng đóng một vai trò trong cuộc xâm nhập Grenada năm 1983 (Chiến dịch Urgent Fury) và Panama năm 1989 (Chiến dịch Just Cause).

Năm 1989 nước Đức thống nhất và Chiến tranh lạnh kết thúc. Các nhà lãnh đạo lục quân thực hiện một kế hoạch cắt giảm quân số. Đến tháng 11 năm 1989 các nhà phát thảo quân sự của Ngũ Giác Đài trình lên một kế hoạch nhằm cắt giảm 23% lực lượng thuộc Lục quân Hoa Kỳ từ 750.000 xuống còn 580.000.[10] Một số sáng kiến giảm quân số được đưa ra như việc cho hồi hưu sớm được sử dụng. Năm 1990 khi Iraq xâm lược quốc gia nhỏ bé lân cận là Kuwait, các lực lượng bộ binh Hoa Kỳ do Sư đoàn Dù 82 lãnh đạo, nhanh chóng triển khai binh sĩ nhằm bảo vệ Ả Rập Saudi. Tháng 1 năm 1991 Chiến dịch Bảo Sa mạc bắt đầu, lực lượng liên minh do Hoa Kỳ lãnh đạo khai triển trên 500.000 binh sĩ, đa số từ các lực lượng thuộc Lục quân Hoa Kỳ cho đến khi Iraq bị đánh bật khỏi lãnh thổ Kuwait. Chiến dịch kết thúc bằng sự toàn thắng đối với Lục quân khi các lực lượng liên quân phương Tây đánh bật Quân đội Iraq trong chỉ một trăm giờ.

Sau Chiến dịch Bảo Sa mạc, Lục quân Hoa Kỳ không gặp một chiến dịch quân sự lớn nào cho hết thập niên 1990. Các đơn vị của lục quân tham gia vào một số hoạt động gìn giữ hòa bình như ở Somalia năm 1993, nơi mà Chiến dịch Gothic Serpent thất bại đã khiến cho 18 binh sĩ Mỹ tử trận và các lực lượng quốc tế rút bỏ. Lục quân cũng góp binh sĩ vào lực lượng gìn giữ hòa bình tại cựu Nam Tư trong giữa thập niên này.

Thế kỷ 21[sửa | sửa mã nguồn]

Binh sĩ Hoa Kỳ và Iraq tuần tra biên giới tại Iraq.

Sau sự kiện 11 tháng 9, và như là một phần của cuộc Chiến tranh chống khủng bố toàn cầu, các lực lượng kết hợp của Hoa Kỳ và Tổ chức Liên phòng Bắc Đại Tây Dương xâm chiếm Afghanistan vào 2001, lật đổ chính phủ Taliban.

Lục quân Hoa Kỳ tham gia vào cuộc xâm chiếm phối hợp giữa Hoa Kỳ và đồng minh vào Iraq năm 2003. Những năm theo sau đó, sứ mệnh của cuộc xâm chiếm này thay đổi từ xung đột vũ trang giữa các quân đội chính quy sang chống chiến tranh du kích. Có một con số lớn các vụ tấn công tự sát đã khiến cho Hoa Kỳ tổn thất hơn 4.000 binh sĩ (tính đến tháng 3 năm 2008) và làm bị thương hàng ngàn binh sĩ khác.[11] Vì bất ổn tại Iraq nên Hoa Kỳ đã phải khai triển dài hạn lực lượng Lục quân chính quy cũng như các lực lượng vệ binh quốc gia và trừ bị.

Kế hoạch hiện đại hóa chính của Lục quân Hoa Kỳ là chương trình FCS (future combat systems có nghĩa là Hệ thống chiến đấu tương lai). Nhiều hệ thống đã bị hủy bỏ và phần còn lại được đưa vào chương trình hiện đại hóa BCT (brigade combat team có nghĩa là Đội ngũ chiến đấu lữ đoàn).

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Các bộ phận của Lục quân Hoa Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Công việc tổ chức Lục quân Hoa Kỳ đã được bắt đầu vào năm 1775.[12] Trong thời Đệ nhất Thế chiến, "Lục quân Quốc gia" được tổ chức để tham chiến cuộc xung đột này.[13] Nó bị giải thể vào cuối Đệ nhất Thế chiến và được thay thế bởi Lục quân chính quy, các quân đoàn trừ bị có tổ chức, và dân quân tiểu bang. Trong thập niên 1920 và 1930, các quân nhân theo "binh nghiệp" được gọi là "Lục quân chính quy" và các quân đoàn sĩ quan trừ bị và quân đoàn binh sĩ trừ bị sẽ được thay thế vào các vị trí trống khi cần thiết.[14]

Năm 1941, "Lục quân của Hoa Kỳ" (Army of the United States) là bộ phận binh sĩ thi hành quân dịch trực thuộc Lục quân Hoa Kỳ được thành lập để tham chiến trong Đệ nhị Thế chiến. Lục quân chính quy, Lục quân của Hoa Kỳ, Vệ binh Quốc gia và các quân đoàn sĩ quan/binh sĩ trừ bị cùng tồn tại. Sau Đệ nhị Thế chiến, các quân đoàn sĩ quan và binh sĩ trừ bị được kết hợp lại thành Lục quân Trừ bị Hoa Kỳ. Lục quân của Hoa Kỳ được tái thành lập cho Chiến tranh Triều TiênChiến tranh Việt Nam và rồi bị giải thể ngay khi việc tuyển mộ quân dịch bị đình chỉ.[14]

Hiện tại, Lục quân Hoa Kỳ được chia thành Lục quân Chính quy, Lục quân Trừ bị, và Lục quân Vệ binh Quốc gia.[13] Lục quân cũng được chia thành cách phân binh chủng chính như pháo phòng không, bộ binh, không lực, thông tin (signal corps), công binh, và cơ giới. Trước năm 1903, các binh sĩ thuộc Vệ binh Quốc gia được coi là binh sĩ thuộc các tiểu bang trừ khi được Tổng thống Hoa Kỳ liên bang hóa. Từ khi Đạo luật Dân quân 1903 ra đời, tất cả các binh sĩ thuộc Vệ binh Quốc gia là thuộc cả tiểu bang mà họ đóng quân và thuộc liên bang Hoa Kỳ: các binh sĩ vệ binh này nằm dưới quyền của thống đốc tiểu bang của họ và cũng là lực lượng trừ bị của Lục quân Hoa Kỳ dưới quyền của Tổng thống Hoa Kỳ.

Từ khi áp dụng chính sách tổng lực lượng theo sau kết cục của Chiến tranh Việt Nam, các binh sĩ thuộc thành phần trừ bị đóng một vai trò hoạt động hơn trong các chiến dịch quân sự của Hoa Kỳ. Các đơn vị Vệ binh Quốc gia và lực lượng trừ bị đã tham gia trong Chiến tranh vùng Vịnh, giữ hòa bình tại Kosovo, và cuộc xâm chiếm Iraq vào năm 2003.

Vô số lực lượng phòng vệ tiểu bang cũng tồn tại, đôi khi được gọi là dân quân tiểu bang do các chính quyền tiểu bang riêng biệt bảo trợ và phục vụ như là một đoàn quân thay thế cho Vệ binh quốc gia. Trừ khi trong thời gian quá nguy cấp cho quốc gia, thí dụ như Hoa Kỳ bị xâm chiếm, nếu không thì các lực lượng dân quân được hoạt động độc lập với Lục quân Hoa Kỳ và được xem là các lực lượng của chính quyền tiểu bang hơn là một thành phần quân sự quốc gia.

Mặc dù Lục quân ngày nay gồm toàn lực lượng tình nguyện, được gia tăng quân số khi cần từ các lực lượng Lục quân Trừ bị và Lục quân Vệ binh Quốc gia nhưng chính sách quân dịch vẫn còn tồn tại trong trường hợp có tai họa, thí dụ như Hoa Kỳ bị tấn công trong phạm vi lớn hay chiến tranh thế giới bùng nổ.

Giai đoạn cuối cùng của việc tổng động viên được biết đến với tên gọi "tái hoạt động các quân dân chưa được tổ chức" sẽ đặt toàn thể nam giới trong hạn tuổi phục vụ gia nhập Lục quân Hoa Kỳ. Lần cuối cùng xảy ra sự việc như thế là trong thời Nội chiến Hoa Kỳ khi liên minh miền Nam Hoa Kỳ kêu gọi nhập ngũ vào năm 1865, bắt buộc tất cả nam giới không phân biệt tuổi tác hay sức khỏe vào quân đội miền Nam.

Các bộ tư lệnh Lục quân và bộ tư lệnh thành phần của Lục quân[sửa | sửa mã nguồn]

Các bộ tư lệnh Lục quân (Army commands) Tư lệnh hiện thời Tổng hành dinh
Bộ tư lệnh các lực lượng Lục quân Hoa Kỳ (United States Army Forces Command) Đại tướng Charles C. Campbell Trại McPherson, Georgia
Bộ tư lệnh Học thuyết và Đào tạo Lục quân Hoa Kỳ (United States Army Training and Doctrine Command) Đại tướng Martin Dempsey Trại Monroe, Virginia
Bộ tư lệnh Quân trang Lục quân Hoa Kỳ (U.S. Army Materiel Command)) Đại tướng Ann E. Dunwoody Trại Belvoir, Virginia
Các bộ tư lệnh thành phần của Lục quân (Army service component commands) Tư lệnh hiện thời Tổng hành dinh
Lục quân Hoa Kỳ đặc trách châu Phi (United States Army Africa) Thiếu tướng William B. Garrett III Vicenza, Ý
Lục quân Hoa Kỳ đặc trách miền Trung (United States Army Central) Trung tướng William G. Webster[15] Trại McPherson, Georgia
Lục quân Hoa Kỳ đặc trách miền Bắc (United States Army North) Trung tướng Thomas R. Turner II Trại Sam Houston, Texas
Lục quân Hoa Kỳ đặc trách miền Nam (United States Army South) Thiếu tướng Keith M. Huber Trại Sam Houston, Texas
Lục quân Hoa Kỳ đặc trách châu Âu (United States Army Europe) Đại tướng Carter F. Ham[16] Heidelberg, Đức
Lục quân Hoa Kỳ đặc trách Thái Bình Dương (United States Army Pacific) Trung tướng Benjamin R. Mixon[17] Trại Shafter, Hawaii
Lục quân 8 Hoa Kỳ (Eighth United States Army) Trung tướng Joseph F. Fil, Jr. Binh trại Yongsan, Seoul
Bộ tư Hành quân Đặt biệt Lục quân Hoa Kỳ (United States Army Special Operations Command) Trung tướng John F. Mulholland Jr Trại Bragg (North Carolina)
Bộ tư lệnh Phối trí và Triển khai Vận tải (Surface Deployment and Distribution Command) BG James L. Hodge[18] Trại Eustis, Virginia
Bộ tư lệnh Phòng không chống tên lửa và không gian Lục quân Hoa Kỳ (United States Army Space and Missile Defense Command) Trung tướng Kevin T. Campbell Khu quân trang Redstone, Alabama
Các đơn vị trực thuộc khác Tư lệnh hiện thời Tổng hành dinh
Bộ tư lệnh Kỹ thuật Hệ thống Điện toán Lục quân (Army Network Enterprise Technology Command) Thiếu tướng Susan Lawrence Trại Huachuca, Arizona
Bộ tư lệnh Quân y Lục quân Hoa Kỳ (United States Army Medical Command)) Trung tướng Eric Schoomaker Trại Sam Houston, Texas
Bộ tư lệnh An ninh và Tình báo Lục quân Hoa Kỳ (United States Army Intelligence and Security Command) Thiếu tướng David B. Lacquement Trại Belvoir, Virginia
Bộ tư lệnh Điều tra tội phạm Lục quân Hoa Kỳ (U.S. Army Criminal Investigation Command) Chuẩn tướng Colleen L. McGuire Trại Belvoir, Virginia
Công binh Lục quân Hoa Kỳ (United States Army Corps of Engineers) Trung tướng Robert Van Antwerp Jr. Washington, D.C.
Quân khu thủ đô Washington Lục quân Hoa Kỳ Thiếu tướng Richard J. Rowe Jr. Trại McNair, Washington, D.C.
Bộ tư lệnh Thử nghiệm và Định lượng Quân trang (U.S. Army Test & Evaluation Command) Thiếu tướng Roger A. Nadeau Alexandria, Virginia
Học viện Quân sự Hoa Kỳ (United States Military Academy) Trung tướng Franklin Hagenbeck West Point, New York
Bộ tư lệnh Lục quân Trừ bị Hoa Kỳ (United States Army Reserve Command) Trung tướng Jack C. Stultz Trại McPherson, Georgia
Bộ tư lệnh Quản lý Cơ sở Lục quân Hoa Kỳ (United States Army Installation Management Command)) Trung tướng Robert Wilson Arlington, Virginia

Nguồn: Tổ chức Lục quân Hoa Kỳ[19]

Cơ cấu[sửa | sửa mã nguồn]

Lục quân Hoa Kỳ gồm có ba thành phần: chính quy; 2 thành phần trừ bị là Lục quân Vệ binh Quốc gia và Lục quân Trừ bị. Cả hai thành phần trừ bị gồm có các binh sĩ bán thời gian, tham dự huấn luyện chỉ một lần trong tháng và tham dự một khóa huấn luyện thường niên dài từ hai đến ba tuần mỗi năm. Trong khi Lục quân Vệ binh Quốc gia được tổ chức, huấn luyện và trang bị như một thành phần của Lục quân Hoa Kỳ, khi nó không phục vụ cho liên bang thì mỗi đơn vị riêng của nó nằm dưới quyền của các thống đốc lãnh thổ và tiểu bang riêng biệt hay thị trưởng Đặc khu Columbia. Tuy nhiên Vệ binh Quốc gia Hoa Kỳ có thể bị liên bang hóa bằng sắc lệnh của Tổng thống Hoa Kỳ cho dù thống đốc tiểu bang có đồng ý hay không.[20]

Phù hiệu cầu vai Lục quân Hoa Kỳ cấp đại đội

Lục quân Hoa Kỳ do Bộ trưởng Lục quân thuộc giới dân sự lãnh đạo. Bộ trưởng này trực tiếp báo cáo với Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ và phục vụ với vai trò giám sát về mặt dân sự cho Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ. Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ là một thành viên của Bộ tổng tham mưu Liên quân Hoa Kỳ, đây là một bộ phận chung gồm các tham mưu trưởng của các quân chủng có nhiệm vụ cố vấn cho Tổng thống Hoa Kỳ và Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ trong các vấn đề về quân sự dưới sự chỉ đạo của Tổng tham mưu trưởng và Tổng tham mưu phó Liên quân Hoa Kỳ.

Năm 1986, Đạo luật Goldwater-Nichols đặt ra thứ tự lãnh đạo theo hệ thống dây chuyền từ Tổng thống Hoa Kỳ đến Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ rồi trực tiếp đến các tư lệnh của các Bộ tư lệnh Tiền phương Thống nhất (Unified Combatant Command). Những vị tư lệnh này nắm giữ tất cả các đơn vị vũ trang thuộc mọi quân chủng trong vùng địa lý trách nhiệm của họ. Vì thế mỗi tham mưu trưởng của các quân chủng chỉ có trách nhiệm tổ chức, huấn luyện và trang bị cho quân chủng của mình. Các quân chủng này sẽ cung ứng lực lượng đã được huấn luyện cho các tư lệnh chiến trường sử dụng.

Cho đến năm 2013, Lục quân Hoa Kỳ sẽ thực hiện xong việc chuyển đổi sang sáu bộ tư lệnh vùng địa lý để hợp với sáu Bộ tư lệnh Tiền phương Thống nhất của Hoa Kỳ (mỗi Bộ tư lệnh Tiền phương Thống nhất gồm có tất cả các quân chủng):

Lục quân cũng đang thay đổi cấp đơn vị cơ bản từ sư đoàn sang lữ đoàn. Khi hoàn thành, lục quân chính quy sẽ có sự gia tăng đơn vị cấp lữ đoàn từ 33 lên đến 48. Tương tự cũng có sự gia tăng trong Vệ binh Quốc gia và lực lượng trừ bị. Cấp sư đoàn vẫn còn giữ nhưng các tổng hành dinh sư đoàn sẽ có thể chỉ huy bất cứ lữ đoàn nào, không phải chỉ có các lữ đoàn trực thuộc sư đoàn của mình. Phần chính trong kế hoạch này là mỗi lữ đoàn cùng loại sẽ giống hệt như nhau và vì thế bất cứ sư đoàn nào cũng có thể chỉ huy bất cứ lữ đoàn nào. Sẽ có ba loại lữ đoàn bộ binh chiến đấu chính:

  • Lữ đoàn Hạng nặng sẽ có khoảng 3.700 binh sĩ và tương đương với một lữ đoàn xe tăng hay bộ binh cơ giới.
  • Lữ đoàn Stryker (sử dụng loại xe cơ giới 8 bánh thuộc dòng xe Stryker) có khoảng 3.900 binh sĩ.
  • Lữ đoàn Bộ binh sẽ có khoảng 3.300 binh sĩ và tương đượng với lữ đoàn dù hay bộ binh nhẹ.

Ngoài ra cũng sẽ có các lữ đoàn hỗ trợ phục vụ và hỗ trợ chiến đấu. Các lữ đoàn hỗ trợ chiến đấu gồm có các lữ đoàn không vận gồm có các phi cơ hạng nặng và nhẹ các loại, các lữ đoàn pháo binh, và các lữ đoàn trinh sát trận địa.

Tổ chức lực lượng chiến đấu chính quy[sửa | sửa mã nguồn]

Sư đoàn Kỵ binh số 1, Trại Hood, Texas tham dự Diễu hành Hoa hồng năm 2007
Binh sĩ thuộc Trung đoàn Kỵ binh Cơ giới số 3 đang tuần tra tại Iraq.

Lục quân Hoa Kỳ gồm có 10 sư đoàn hiện dịch cũng như có một số đơn vị độc lập. Lực lượng đang trong tình trạng phát triển với bốn lữ đoàn nữa theo kế hoạch sẽ được hoạt động vào năm 2013 với quân số sẽ tăng thêm 74.200 binh sĩ tính từ tháng 1 năm 2007. Mỗi sư đoàn sẽ có bốn lữ đoàn tác chiến bộ binh, sẽ có ít nhất một lữ đoàn không vận cũng như một lữ đoàn pháo binh và một lữ đoàn hậu cần.

Trong Lục quân Vệ binh Quốc gia và Lục quân Trừ bị có thêm 8 sư đoàn, trên 15 lữ đoàn tác chiến.

Từ giữa năm 2013, lục quân quyết đinh cắt giảm quân số xuống 490000 vào năm 2017 và 400000 vào năm 2019. Sẽ có 10 lữ đoàn bị giải thể trong 10 sư đoàn chính quy. Ngoài ra do cắt giảm ngân sách nên 2 lữ đoàn bộ binh 170 và 172 đóng quân tại Đức cũng bị giải thể vào năm 2012 và cuối 2013

Tên Tổng hành dinh tổ chức
1st US Armored Division SSI.svg Sư đoàn thiết giáp 1 Fort Bliss, Texas lữ đoàn thiết giáp 2 và 4, lữ đoàn stryker 1, lữ đoàn bộ binh 3 và lữ đoàn không vận tác chiến.
1 Cav Shoulder Insignia.svg Sư đoàn Kỵ binh 1 Fort Hood, Texas lữ đoàn thiết giáp 1,2,3 và lữ đoàn không vận tác chiến.
1st US Infantry Division.svg Sư đoàn Bộ binh 1 Fort Riley, Kansas lữ đoàn thiết giáp 1 và 2, lữ đoàn bộ binh 4 và lữ đoàn không vận tác chiến đóng tại Fort Riley; lữ đoàn bộ binh 3 đóng tại Fort Knox.
2 Infantry Div SSI.svg Sư đoàn Bộ binh 2 Camp Red Cloud, Nam Triều Tiên lữ đoàn thiết giáp 1 đóng tại Camp Casey, lữ đoàn không vận tác chiến đóng tại Camp Humphrey, lữ đoàn stryker 2, 3 đóng tại Fort Lewis.
3 Infantry Div SSI.svg Sư đoàn Bộ binh 3 Fort Stewart, Georgia lữ đoàn thiết giáp 1 và 2, lữ đoàn bộ binh 4 đóng tại Fort Stewart, lữ đoàn thiết giáp 3 đóng tại Fort Benning, lữ đoàn không vận tác chiến đóng tại sân bay lục quân Hunter.
4 Infantry Division SSI.svg Sư đoàn Bộ binh 4 Fort Carson, Colorado
10th Mountain Division SSI.svg Sư đoàn sơn cước 10 Fort Drum, New York
25th Infantry Division SSI.svg Sư đoàn Bộ binh 25 Schofield Barracks, Hawaii
82 ABD SSI.svg Sư đoàn Dù 82 Trại Bragg, North Carolina
US 101st Airborne Division patch.svg Sư đoàn Dù 101 Trại Campbell, Kentucky
173Airborne Brigade Shoulder Patch.png Lữ đoàn dù 173 Vicenza, Ý
US 2nd Cavalry Regiment SSI.jpg Trung đoàn Kỵ binh Stryker 2 Vilseck, Đức
3dACRSSI.PNG Trung đoàn Kỵ binh Stryker 3 Fort Hood, Texas
11th Armored Cavalry Regiment SSI.gif Trung đoàn Kỵ binh 11 Fort Irwin, California

Các lực lượng hành quân đặc biệt[sửa | sửa mã nguồn]

US Army Special Operations Command SSI.svg Bộ tư lệnh Chiến dịch Đặc biệt Lục quân Hoa Kỳ (lính dù)

Tên Tổng hành dinh
US Army Special Forces.Airborne patch.jpg Lực lượng Đặc biệt (green berets) (mũ nồi xanh) Trại Bragg, North Carolina
75 Ranger Regiment Shoulder Sleeve Insignia.svg Trung đoàn Biệt động số 75 (Biệt động quân) Trại Benning, Georgia
160th SOAR Distinctive Unit Insignia.png Trung đoàn không vận các chiến dịch Đặc biệt 160 (biệt kích đêm) Trại Campbell, Kentucky
4psyopgp.gif Liên đoàn Chiến tranh Tâm lý 4 (4th Psychological Operations Group) Trại Bragg, North Carolina
95CivilAffairsBdeSSI.jpg Lữ đoàn Công chính 95 (95th Civil Affairs Brigade) Trại Bragg, North Carolina
Soscom crest.gif Lữ đoàn Hậu cần 528 (lực lượng đặc biệt,dù) Trại Bragg, North Carolina
US Army Special Operations Command SSI.svg Lực lượng Delta Trại Bragg, North Carolina

Nhân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là các cấp bậc của Lục quân Hoa Kỳ hiện đang được sử dụng và các cấp bậc tương ứng của chúng trong lực lượng NATO.

Các sĩ quan:[21]

Có nhiều cách để trở thành một sĩ quan trong đó phải kể đến là các trường đào tạo sĩ quan trừ bị, Học viện Quân sự Hoa Kỳ ở West Point hay Học viện Hàng hải Thương mại Hoa Kỳ ở Kings Point, và Trường Ứng viên Sĩ quan. Một số các chuyên gia, bác sĩ, y tá, luật sư, và giáo sĩ tuyên úy cũng được nhận thẳng vào Lục quân. Nhưng cho dù chọn đường đi nào thì các sĩ quan của Lục quân Hoa Kỳ cũng đeo các quân hàm giống nhau.
Bậc lương O-1 O-2 O-3 O-4 O-5 O-6 O-7 O-8 O-9 O-10 Đặc biệt1
Quân hàm US-O1 insignia.svg US-O2 insignia.svg US-O3 insignia.svg US-O4 insignia.svg US-O5 insignia.svg US-O6 insignia.svg US-O7 insignia.svg US-O8 insignia.svg US-O9 insignia.svg US-O10 insignia.svg US-O11 insignia.svg
Cấp bậc Thiếu úy Trung úy Đại úy Thiếu tá Trung tá Đại tá Chuẩn tướng Thiếu tướng Trung tướng Đại tướng Thống tướng
Tiếng Anh Second
Lieutenant
First
Lieutenant
Captain Major Lieutenant
Colonel
Colonel Brigadier
General
Major
General
Lieutenant
General
General General
of the Army
Viết tắt tiếng Anh 2LT 1LT CPT MAJ LTC COL BG MG LTG GEN GA
Chuẩn bậc NATO OF-1 OF-2 OF-3 OF-4 OF-5 OF-6 OF-7 OF-8 OF-9

1 Được trao như cấp bậc vinh dự hoặc trong lúc tuyên chiến.

Chuẩn úy:[21]

Các chuẩn úy là các sĩ quan đeo quân hàm một vạch đơn. Các sĩ quan này chuyên nghiệp trong một lĩnh vực nào đó, đầu tiên là do Bộ trưởng Lục quân bổ nhiệm với cấp bậc chuẩn úy bậc 1 (CW1) nhưng khi nhận nhiệm vụ sẽ được thăng lên bậc chuẩn úy bậc 2 (CW2).

Thực tế thì các sĩ quan cấp chuẩn úy được gọi là "Mr. (tên nam)" hay "Ms. (tên nữ)." Tuy nhiên nhiều nhân sự không dùng các thuật từ này mà gọi bằng "Sir", "Ma'am", hay thông dụng nhất gọi là "Chief".

Bậc lương của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ W-1 W-2 W-3 W-4 W-5
Quân hàm US-Army-WO1.png US-Army-CW2.png US-Army-CW3.png US-Army-CW4.png US-Army-CW5.png
Cấp bậc Chuẩn úy 1 Chuẩn úy 2 Chuẩn úy 3 Chuẩn úy 4 Chuẩn úy 5
Tiếng Anh Warrant Officer 1 Chief Warrant Officer 2 Chief Warrant Officer 3 Chief Warrant Officer 4 Chief Warrant Officer 5
Viết tắt WO1 CW2 CW3 CW4 CW5
chuẩn bậc NATO WO-1 WO-2 WO-3 WO-4 WO-5

Binh sĩ và hạ sĩ quan:[21][22]

Các cấp bậc "Sergeant" có thể là "trung sĩ" hoặc "thượng sĩ" là nhóm thuộc hạ sĩ quan. Cấp bậc "Corporal" là hạ sĩ và được xem là cấp bậc căn bản của nhóm hạ sĩ quan. Tuy cấp bậc "Specialist" có cùng bậc lương với "Corporal" nhưng không có trách nhiệm về lãnh đạo.
Bậc lương của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ E-1 E-2 E-3 E-4 E-5 E-6 E-7 E-8 E-9
Quân hàm Không quân hàm Army-USA-OR-02.svg Army-USA-OR-03.svg Army-USA-OR-04b.svg Army-USA-OR-04a.svg Army-USA-OR-05.svg Army-USA-OR-06.svg Army-USA-OR-07.svg Army-USA-OR-08b.svg Army-USA-OR-08a.svg Army-USA-OR-09c.svg Army-USA-OR-09b.svg Army-USA-OR-09a.svg
Cấp bậc Binh nhì Binh nhì Binh nhất Hạ sĩ nghiệp vụ Hạ sĩ Trung sĩ Trung sĩ tham mưu Trung sĩ nhất Thượng sĩ Thượng sĩ nhất Thượng sĩ Cố vấn Thượng sĩ Cố vấn Chỉ huy trưởng Thượng sĩ Cố vấn Lục quân
Tiếng Anh Private Private Private
First Class
Specialist Corporal Sergeant Staff
Sergeant
Sergeant
First Class
Master
Sergeant
First
Sergeant
Sergeant
Major
Command
Sergeant Major
Sergeant Major
of the Army
Viết tắt tiếng Anh PVT ¹ PV2 ¹ PFC SPC ² CPL SGT SSG SFC MSG 1SG SGM CSM SMA
Chuẩn bậc NATO OR-1 OR-2 OR-3 OR-4 OR-4 OR-5 OR-6 OR-7 OR-8 OR-8 OR-9 OR-9 OR-9
¹ PVT cũng được dùng để viết tắt cho các cấp bậc binh khi bậc lương không được phân biệt
² SP4 đôi khi bị bắt gặp ở chỗ của SPC để chỉ cấp bậc Specialist. Đây là một chỉ số được dùng khi có thêm các cấp bậc phụ Specialist nằm ở bậc lương cao hơn.

Trang bị[sửa | sửa mã nguồn]

Vũ khí[sửa | sửa mã nguồn]

Một số loại súng M16

Lục quân khai triển nhiều loại vũ khí cá nhân khác nhau cho mục đích tạo hỏa lực nhẹ ở tầm ngắn.

Vũ khí phổ biến nhất mà Lục quân Hoa Kỳ sử dụng là súng M16[23] và chủng loại nhỏ hơn của nó là M4 carbine.[24] Loại súng M4 đang từ từ thay thế loại súng M16 trong một số đơn vị, chủ yếu là bộ binh, biệt kích, và lực lượng đặc biệt.[25] Các binh sĩ với nhiệm vụ mà cần có một loại vũ khí nhẹ hơn, thí dụ như các binh sĩ phục vụ trên xe chiến đấu, các sĩ quan tham mưu, quân cảnh, được trang bị với loại M4. Loại vũ khí đeo bên mình và phổ biến nhất trong Lục quân Hoa Kỳ là súng lục M9 9 mm[26] được cấp cho đa số các đơn vị tác chiến và hỗ trợ. Biệt kích Hoa Kỳ sẽ được trang bị với loại súng trường SCAR-H vào cuối năm 2010.

Nhiều loại vũ khí đặc biệt khác nhau được cung cấp gồm có súng máy nhẹ M249 để tăng cường hỏa lực cho cấp tiểu đội,[27] súng săn Benelli M4 Super 90 hay Mossberg 590 dùng để bật tung cửa khóa và cận chiến, súng trường M14 dành cho các binh sĩ bắn xẻ tầm xa, súng trường bắn xẻ tầm xa M107, hệ thống bắn xẻ tầm xa M24, hay súng trường bắn xẻ bán tự động M110 dành cho các xạ thủ bắn xẻ. Lựu đạn như M67 và trái cay M18 cũng được dùng trong tác chiến.

Lục quân cũng triển khai nhiều loại vũ khí tập thể để tăng cường hỏa lực ở ngoài tầm vũ khí cá nhân.

Súng máy M249 là loại súng máy chuẩn hạng nhẹ của Lục quân. Súng máy M240 là loại chuẩn tầm trung của Lục quân.[28]. Súng máy hạng nặng M2 được dùng như súng máy chống cá nhân và chống phá vật cản. Súng máy M2 cũng thường là vũ khí chính trên các loại xe tác chiến bộ binh Stryker và là hệ thống vũ khí thứ hai trên xe tăng M1 Abrams. Súng máy phóng lựu MK 19 được sử dụng chính yếu trong các đơn vị cơ giới.[29] Loại này được sử dụng phổ biến trong vai trò bổ sung đối với súng máy hạng nặng M2.

Lục quân sử dụng ba loại súng cối để hỗ trợ hỏa lực gián tiếp khi pháo binh nặng bắn không chính xác hay chưa sẵn có. Loại nhỏ nhất trong số súng cối là loại súng cối M224 60 mm, thường được giao cho các đơn vị cấp đại đội bộ binh.[30] Ở cấp bậc đơn vị kế tiếp là cấp tiểu đoàn thì dùng súng cối M252 81 mm.[31] Loại súng cối lớn nhất của Lục quân là súng cối M120 120 mm hay M121, thường được các tiểu đoàn cơ giới, các đơn vị xe Stryker, và các binh sĩ kỵ binh sử dụng bởi vì chúng cồng kềnh và nặng nề nên cần phải chuyển vận bằng vận xa hay kéo đằng sau xe.[32]

Các loại pháo binh kéo theo xe được sử dụng để yểm trợ hỏa lực cho các đơn vị bộ binh nhẹ trong đó có pháo binh M119A1 105 mm[33]pháo binh M777 155 mm (sẽ thay thế pháo binh M198).[34]

Các loại xe và phi cơ[sửa | sửa mã nguồn]

Lục quân Hoa Kỳ đã sử dụng một phần đáng kể ngân sách để quân sự của mình để duy trì một số lượng xe và phi cơ đủ các chủng loại.

Loại xe phổ biến nhất của Lục quân là Humvee, có khả năng phục vụ với các vai trò như chở binh sĩ, tiếp liệu, nơi đặt vũ khí, tải thương và còn nhiều vai trò khác nữa.[35] Mặc dù lục quân sử dụng nhiều loại xe hỗ trợ tác chiến khác nhau nhưng loại phổ biến nhất là nhóm xe chiến thuật cơ động mở rông hạng nặng HEMTT. M1A2 Abrams là loại tăng xe tác chiến chính của lục quân,[36] trong khi đó M2A3 Bradley là xe chiến đấu bộ binh chuẩn của lục quân.[37] Các loại xe quân sự khác gồm có xe tác chiến kỵ binh M3A3 thuộc dòng xe chiến đấu Bradley, dòng xe Stryker,[38] và thiết vận xa bộ binh M113,[39] và nhiều loại xe bộ binh bọc thép có thể chống được mìn bẫy.

Vũ khí pháo binh của Lục quân Hoa Kỳ khá đa dạng. AN/TWQ-1 Avenger, MIM 104 PatriotTHAAD là 3 hệ thống tên lửa phòng không. Pháo mặt đất gồm lựu pháo M777, M119, pháo tự hành M109A6 Paladin[40], hệ thống pháo phóng loạt cơ động cao M142 HIMARS và hệ thống phóng nhiều tên lửa M270,[41] được đặt trên bệ phóng có thể di chuyển bằng dây xích hay được triển khai cho các đơn vị cơ giới nặng.

Mặc dù Lục quân Hoa Kỳ sử dụng một số ít phi cơ có cánh cố định nhưng lại sử dụng nhiều loại phi cơ cánh quạt. Trong số các loại cánh quạt là trực thăng tấn công AH-64 Apache(698 chiếc), trực thăng tấn công hạng nhẹ/trinh sát vũ trang OH-58 Kiowa,[42] trực thăng vận tải tiện ích chiến thuật UH-60 Black Hawk (1345 chiếc) và trực thăng vận tải hạng nặng CH-47 Chinook(394 chiếc).[43]

Quân phục[sửa | sửa mã nguồn]

Hai binh sĩ mặc quân phục, người bên trái đội mũ kết và bên phải đội mũ rộng vành.

Quân phục tác chiến của Lục quân Hoa Kỳ có hình thể màu sắc ngụy trang, được thiết kế để sử dụng hợp với những môi trường đô thị, sa mạc, rừng. Các binh sĩ đang tác chiến tại Afghanistan sẽ sớm được phát loại quân phục tác chiến có khả năng chống lửa và hình thể có nhiều màu sắc.[44]

Quân phục chuẩn dùng cho khi đóng quân thường được biết đến là màu xanh lá lục quân (army green)) và đã được tất cả các sĩ quan và binh sĩ mặc kể từ khi nó được sử dụng vào năm 1956 khi nó thay thế quân phục khaki màu olive. Quân phục màu xanh nước biển lục quân có lịch sử ngược về giữa thế kỷ 19, hiện nay là quân phục nghi thức của Lục quân Hoa Kỳ, nhưng nó sẽ thay thế quân phục màu trắng và màu xanh lá và sẽ trở thành quân phục thường ngày mới của Lục quân (dùng trong công việc văn phòng hay ở chốn công cộng). Mũ nồi (beret) sẽ tiếp tục được sử dụng cùng với quân phục tác chiến lục quân mớ khi làm nhiệm vụ ở nơi đóng quân và quân phục thường ngày được dùng khi thực hiện các nhiệm vụ không phải là nghi thức.

Áo giáp cá nhân trong đa số các đơn vị là loại áo chắn ở ngực có cải tiến (improved outer tactical vest) và nón sắt tác chiến MICH TC-2000.

Lều[sửa | sửa mã nguồn]

Lục quân Hoa Kỳ phụ thuộc nhiều vào lều để cung cấp nhiều cơ sở vật chất mà họ cần khi triển khai lực lượng tại một vùng nào đó. Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ có nhiều luật lệ gắt gao về chất lượng và đặc tính của lều. Đa số lều được dùng nhất là loại lều dựng làm nơi nghỉ ngơi tạm cho binh sĩ, khu nhà ăn, các căn cứ tiền phương, trung tâm hành quân chiến thuật, các khu giải trí, phúc lợi, tinh thần, các điểm gác...

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â United States Army, 14 June: The Birthday of the U.S. Army. Army.mil.
  2. ^ 2005 Posture Statement. U.S. Army, 6 tháng 2 năm 2005
  3. ^ Army FY2008 Demographics brochure. US Army
  4. ^ DA Pamphlet 10-1 Organization of the United States Army; Figure 1.2 Military Operations.
  5. ^ "The US-Mexican War (1846-1848)". PBS
  6. ^ The Deadliest War
  7. ^ Cragg, p.272.
  8. ^ Woodruff, Mark. Unheralded Victory: The Defeat of the Viet Cong and the North Vietnamese Army 1961-1973 (Arlington, VA: Vandamere Press, 1999).
  9. ^ Army National Guard Constitution
  10. ^ An Army at War: Change in the Midst of Conflict, p.515, via Google Books
  11. ^ U.S. Casualties in Iraq
  12. ^ Organization of the United States Army: America's Army 1775 - 1995, DA PAM 10–1. Headquarters, Department of the Army, Washington, 14 tháng 6 năm 1994 ]
  13. ^ a ă http://www.history.army.mil/books/Lineage/mi/ch2.htm
  14. ^ a ă Army Reserve Marks First 100 Years : Land Forces : Defense News Air Force
  15. ^ “United States Army Central, CG's Bio”. United States Army Central. 11 tháng 2 năm 2008. Truy cập 4 tháng 7 năm 2008. 
  16. ^ “United States Army, Seventh Army, Leaders”. United States Army, Seventh Army. 25 tháng 6 năm 2008. Truy cập 4 tháng 7 năm 2008. 
  17. ^ “Commanding General”. United States Army, Pacific. 23 tháng 4 năm 2008. Truy cập 4 tháng 7 năm 2008. 
  18. ^ “Commanding General”. United States Army, Surface Deployment and Distribution Command. 30 tháng 6 năm 2008. Truy cập 4 tháng 7 năm 2008. 
  19. ^ Tổ chức Lục quân Hoa Kỳ
  20. ^ Perpich v. Department of Defense, 496 U.S. 334 (1990)
  21. ^ a ă â From the Future Soldiers Web Site.
  22. ^ From the Enlisted Soldiers Descriptions Web Site.
  23. ^ M-16 Rifle, U.S. Army Fact Files.
  24. ^ U.S. Army Fact Files
  25. ^ Army position: M4 Carbine is Soldier's battlefield weapon of choice
  26. ^ U.S. Army Fact Files
  27. ^ U.S. Army Fact Files
  28. ^ U.S. Army Fact Files
  29. ^ U.S. Army Fact Files
  30. ^ U.S. Army Fact Files
  31. ^ U.S. Army Fact Files
  32. ^ U.S. Army Fact Files
  33. ^ U.S. Army Fact Files
  34. ^ M777 Lightweight 155 mm howitzer (LW155)
  35. ^ U.S. Army Fact Files
  36. ^ U.S. Army Fact Files
  37. ^ U.S. Army Fact Files
  38. ^ U.S. Army Fact Files
  39. ^ U.S. Army Fact Files
  40. ^ [1]
  41. ^ U.S. Army Fact Files
  42. ^ U.S. Army Fact Files
  43. ^ U.S. Army Fact Files
  44. ^ Lopez, C. (20 tháng 2, 2010). “Soldiers to get new cammo pattern for wear in Afghanistan”. US Army. US Army. Truy cập 22 tháng 2, 2010. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]