M1 Abrams

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
M1 Abrams
Abrams-transparent.png
M1A2 Abrams với nguyên mẫu thiết bị TUSK (không lắp đặt súng máy đồng trục.50)
Trước  · Sau
Loại Xe tăng chiến đấu chủ lực
Nguồn gốc USA
Lược sử hoạt động
Trang bị 1980–hiện tại
Quốc gia sử dụng Xem Bên sử dụng
Sử dụng trong Chiến tranh vùng Vịnh (Chiến dịch Bão táp Sa mạc)
Chiến tranh Afghanistan (Chiến dịch Tự do Bền vững)
Iraq War (Chiến dịch Iraq Tự do)
Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế Chrysler Defense
Nhà sản xuất Lima Army Tank Plant (1980-hiện tại)[1]
Detroit Arsenal Tank Plant (1982-1996)
Giá thành US$6.21 triệu (M1A2 / FY99)[3]
Số lượng chế tạo Hơn 9,000[2]
Các biến thể Xem Biến thể
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng 67,6 short ton (61,3 t; 60,4 tấn Anh)
Chiều dài Súng hướng phía trước: 32,04 ft (9,77 m)[4]
Chiều dài thân: 26,02 ft (7,93 m)
Chiều rộng 12 ft (3,66 m)
Chiều cao 8 ft (2,44 m)
Kíp chiến đấu 4 (chỉ huy, pháo thủ, người nạp đạn, lái xe)

Bọc giáp Chobham, giáp RH, giáp thép bọc uranium nghèo
Vũ khí chính Pháo nòng rãnh xoắn 105 mm M68 (M1)
Pháo nòng trơn 120 mm M256 (M1A1, M1A2, M1A2SEP))
Vũ khí phụ 1 x.50 (12.7 mm) súng máy hạng nặng M2HB
2 x 7.62 mm (.308) súng máy M240 (1 trục, 1 đồng trục)
Động cơ Động cơ turbine đa nhiên liệu Honeywell AGT1500C
1,500 shp (1,120 kW)
Công suất/trọng lượng 24.5 hp/mét tấn
Hệ truyền động Allison DDA X-1100-3B
Hệ thống treo Thanh xoắn
Khoảng sáng gầm 0,48 m (1 ft 7 in) (M1, M1A1)
0,43 m (1 ft 5 in) (M1A2)
Sức chứa nhiên liệu 500 galông Mỹ (1.900 l; 420 gal Anh)
Tầm hoạt động 289 mi (465.29 km)[5]
Với hệ thống NBC: 279 mi (449.19 km)
Tốc độ Trên đường: 42 mph (67.7 km/h)
Việt dã: 30 mph (48.3 km/h)

M1 Abrams là loại xe tăng chủ lực do hãng General Dynamics của Hoa Kỳ sản xuất năm 1980, theo thiết kế của Chrysler Defense. Tên hiệu xe được đặt theo tên của Creigton Williams Abrams Jr, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Hoa Kỳ kể từ tháng 12 năm 1972 đến trước khi ông qua đời vào năm 1974. Hiện tại, đây là loại xe tăng chiến đấu chủ lực thông dụng nhất trong quân đội Hoa Kỳ.

Thông số chính của xe: Khối lượng chiến đấu 54,1 tấn, kíp xe 4 người. Thân xe dài 7,92 m (cả pháo quay phía trước 9,77 m); rộng 3,65 m; cao 2,38 m (đến nóc tháp pháo). Động cơ tuabin khí; công suất 1,100kw (1,500vc); khả năng leo dốc 30 độ; vách đứng 1,24 m; hào rộng 2,77 m; lội nước sâu 1,22 m (không có thiết bị lội ngầm). Tốc độ lớn nhất 72,4 km/h; hành trình dự trữ 500 km. Vũ khí: pháo rãnh xoắn 105 mm ổn định trong hai mặt phẳng (đạn biên chế 55 viên); súng máy 7,62 mm (đạn biên chế 11400 viên); súng máy phòng không 12,7 mm (đạn biên chế 1000 viên). Được trang bị hệ thống điều khiển hoả lực có máy tính đường đạn, máy đo xa laser, kính ngắm ảnh nhiệt...

Biến thể M1A1 được sản xuất từ 1985 có khối lượng chiến đấu 57,2t; tốc độ lớn nhất 66,77 km/h, pháo nòng trơn (đạn biên chế 40 viên); dài (cả pháo) 9,83m; rộng 3,66m; cao 2,44m (đến nóc tháp pháo); vỏ được tăng cường lớp hợp kim có thành phần uran nghèo...

Trên cơ sở M1, đã sản xuất xe bắc cầu hạng nặng HAB, xe tăng phá mìn TMMCR, xe sửa chữa, cứu kéo ARV-90.

Các xe M1 (-1A1) đã được sử dụng trong chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 và đang được xuất khẩu sang nhiều nước khác.

Lịch sử ra đời[sửa | sửa mã nguồn]

Từ giữa thập niên 70, giới lãnh đạo quân đội Mĩ bắt đầu thúc đẩy việc hiện đại hoá quân đội để hạn chế nguy cơ thất bại trên chiến trường. Công nghệ kĩ thuật của Mĩ vào lúc đó vẫn chưa thể hiện tương xứng trên chiến trường Việt Nam. Môi trường khắc nghiệt và chi phí leo thang của cuộc chiến ngăn cản ý định hiện đại hoá quân đội cho tới khi cuộc chiến Việt Nam đã hoàn toàn kết thúc. Cuộc chiến chống du kích trong rừng đã kết thúc, thế trận lúc này được tập trung vào những cuộc chiến siêu quy mô ở chiến trường châu Âu-Liên Xô. Cùng với đó là cuộc chiến giữa Israel và các nước Hồi giáo Trung Đông với những cuộc đấu tăng lớn kèm theo nhiều kinh nghiệm chiến trường từ đồng minh Israel khiến cho việc hiện đại hoá tập trung vào lĩnh vực tăng-thiết giáp.

Phiên bản xe tăng thử nghiệm XM1 - tiền thân của xe tăng M1 Abrams. Hàn Quốc đã dựa trên cơ sỡ mẫu tăng thử nghiệm này để thiết kế xe tăng K1 88.

Từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 đến tận những năm 1980, lực lượng tăng của Mĩ chủ yếu dựa trên sự phát triển của cái rễ M26 Persing thành các ngọn M46, M47, M48, M60. Những nỗ lực thay thế đột phá như MBT-70, T-95(không phải xe tăng T-95 của Nga về sau) đều thất bại vì chi phí cao và quá phức tạp. M1 đã ra đời vào đúng thời điểm lí tưởng với các công nghệ vừa mới ra lò: giáp composite, thiết bị quan sát đêm bằng hồng ngoại, thiết bị xác định khoảng cách bằng laser, máy tính đạn đạo và động cơ turbine. Những công nghệ này sau đó đã được trang bị cho xe tăng M1. Rút kinh nghiệm thất bại từ MBT-70, người Mỹ quyết định thiết kế Abram theo một hướng mới: thay vì cố gắng chế tạo loại xe tăng tốt nhất thế giới, họ chế tạo loại xe tăng tốt và có chi phí vừa phải. So với Leopard 2 của ĐứcChallenger của Anh, Abram có giá rẻ hơn nhưng vẫn là một địch thủ mạnh không hề thua kém.

M1 là đỉnh cao của chương trình thay thế M60 bắt đầu từ những năm 1960. Một trong những cố gắn đầu tiên trong chương trình là MBT-70 của liên minh Mĩ-Đức, tuy nhiên dự án MBT-70 đã thất bại với sự rút lui của Đức vì quá phức tạp và tốn kém. Phiên bản ít phức tạp hơn của MBT-70 là XM803 được nghiên cứu tuy nhiên vẫn bị huỷ vào cuối năm 1971. Tháng 2 năm 1972, nhóm nghiên cứu xe tăng chủ lực (MBT) mới được thành lập tại Fort Knox dưới quyền của thiếu tướng William Desobry để nghiên cứu yêu cầu cho loại MBT mới. Những yêu cầu cho loại MBT mới được đặt theo thứ tự ưu tiên: Sự an toàn của tổ lái, khả năng giám sát và phát hiện mục tiêu, tỉ lệ trúng của phát đạn đầu và các phát sau, thời gian phát hiện và bắn mục tiêu thấp, độ di động trên địa hình mở, tích hợp vũ khi đầy đủ, sự an toàn cho thiết bị, môi trường cho tổ lái, sự lộ diện của xe, tăng tốc và giảm tốc, sắp xếp đạn, yếu tố con người, khả năng sản xuất, tầm hoạt động, tốc độ, hậu cần, khả năng phát triển, thiết bị hỗ trợ và khả năng chuyên chở(bằng máy bay, xe...). Việc sản xuất phiên bản thử nghiệm xe tăng XM815 sau đó được trao cho hai nhà thầu Chrysler(sản xuất M60) và GM(chế tạo MBT-70) vào tháng 6 năm 1973.

M1A1 Abrams bên trong thiết giáp hạm.

Sự lựa chọn vũ khí tập trung vào 3 loại pháo chính: M68 105mm có sẵn, pháo nòng xoắn 110mm của Anh và pháo Rheinmentall 120mm nòng trơn của Đức. người Mỹ sau đó quyết định chọn pháo 105mm vì những tiến bộ trong chế tạo đạn APFSDS DU cho khả năng xuyên giáp cao (đạn M833 nâng cấp có khả năng xuyên phá 420mm RHA ở khoảng cách 2.000m, 60 độ) so với nhiều loại đạn APFSDS lõi tungsten khác(đạn 120mm APFSDS của Anh có khả năng xuyên 400mm và 125mm của LX có thể xuyên 450mm) mà vẫn giữ được tiêu chuẩn cho quân đội. Hơn nữa khi nghiên cứu pháo 120mm của Đức, người Mỹ kết luận rằng nó quá phức tạp và mắc tiền đối với tiêu chuẩn của Mĩ. Phiên bản được đơn giản hoá rẻ tiền hơn là M256 sau đó được cho ra đời cùng vài điều chỉnh trong hệ thống điều khiển hoả lực. Phiên bản M256 không ra đời kịp lúc cho sản xuất hàng loạt với xe tăng Abram.

Ngoài ra cũng có một số ý tưởng phát triển độc đáo: tên lửa chống tăng phóng từ pháo chính như loại tên lửa Shillelagh 152mm của xe tăng M551 Sheridan, M60A2 Paton và MBT-70 phiên bản của Mĩ nhưng bị huỷ bỏ vì nhiều tiến bộ trong hệ thống điều khiển hoả lực (FCS) chính xác cao cũng như thực tế là đạn pháo thường có giá bằng 5% giá tên lửa. Một ý tưởng khác là lắp 1 pháo 25mm Bushmaster đồng trục với pháo chính để tiêu diệt các thiết giáp nhẹ nhằm giảm tiêu thụ đạn cho pháo chính (bị huỷ vì quyết định chế tạo dòng IFV Bradley).

Một quan ngại khác là về sự an toàn của chiếc MBT mới. Trong lịch sử, nguyên nhân chính của việc mất mát xe tăng chạy bằng động cơ diesel là do đạn bốc cháy. Để khắc phục điều này, khoang chứa đạn của XM815 được thiết kế để đặt sau tháp pháo để tránh bị bắt lửa khi vỏ xe bị xuyên phá.

Cách thức phát triển công đoạn nghiên cứu, chế tạo MBT mới của quân đội Mĩ cũng khá khác lạ. Đó là đặt hàng phiên bản mẫu từ hai hãng Chrysler Defense và GM. Người của quân đội Mĩ không dính líu sâu vào việc nghiên cứu chế tạo MBT mới mà chủ yếu là quản lí ở cấp cao của chương trình và thực hiện những cuộc kiểm tra sau này. Tuy nhiên cách thức này giúp cho thế hệ MBT mới tốt hơn và có giá rẻ hơn. Hai nhà thầu đã đồng ý phát triển XM815 vào tháng 6 năm 1973. GM thiết kế 1 mẫu xe sử dụng động cơ diesel, Chrysler thì sử dụng động cơ turbine. Ngoài những yêu cầu kĩ thuật cho loại MBT mới thì yêu cầu về giá cả không vượt quá 507.790 USD/ chiếc(thời giá 1972) cũng được đặt ra.

Tháng 7 năm 1973, một nhóm nghiên cứu của Mĩ đến thăm cơ sở nghiên cứu ở Chobham, Anh để tìm hiểu về loại giáp đặc biệt đang được phát triển. Loại giáp mới này có tên Burlington đặt bởi quân đội Mĩ hay tên thông dụng hơn là Chobham. Loại giáp mới này cho khả năng kháng cự "ngoại hạng" đối với đạn nổ lỏm so với giáp thép.

Cuối năm 1973, chương trình XM815 được đổi tên thành XM1.

Việc quyết định áp dụng giáp Chobham lên M1 cũng buộc hai nhà thầu thiết kế lại lớp ngoài của giáp cho phù hợp. Hai mẫu thử nghiệm của hai nhà thầu sau đó được đưa tới bãi thử Aberdeen và các cuộc thử nghiệm bắt đầu từ tháng 1 đến tháng 5 năm 1976.

Cùng lúc đó, Mĩ cũng đang hối thúc các đồng minh châu Âu trong NATO tiêu chuẩn hoá các loại vũ khí của mình. Chính quyền Đức lúc đó đề nghị Mĩ nên xem xét việc dùng Leopard 2 làm MBT mới của Mĩ để khởi động cho kế hoạch tiêu chuẩn hoá NATO. Dù làm khó chịu nhiều nhà lãnh đạo quân đội, bộ quốc phòng Mĩ vẫn quyết định đồng ý xem xét Leopard 2. Một phiên bản của Leopard 2 là Leopard 2 AV sau đó được đưa tới Mĩ vào mùa thu năm 1976 để nghiên cứu. Leopard 2 được đánh giá là có hệ thống điều khiển hoả lực tốt hơn, nhưng lại yếu hơn về giáp, cách chứa đạn, xoay tầm hướng của tháp pháo và yếu tố quyết định: Leopard 2 mắc hơn 25% so với XM1. Tháng 1 năm 1977, cả hai nước quyết định chỉ nên tiêu chuẩn hoá vài phần của xe tăng thay vì là nguyên cả xe. Mĩ quan tâm tới việc trang bị pháo Rheinmentall 120mm cho xe tăng M1 tương lai còn Đức thì cân nhắc việc dùng động cơ turbine AGT-1500 cho xe tăng Leopard.

Ban đầu, quân đội Mĩ tỏ vẻ muốn giao hợp đồng cho GM vì thích thiết kế của GM hơn, tuy nhiên quân đội vẫn muốn GM thay đổi lại thiết kế cho động cơ turbine AGT-1500. Ý định dùng động cơ turbine của quân đội cũng là vì những kết quả tốt từ động cơ turbine trực thăng trong những năm 1960. Quân đội Mĩ phát hiện rằng động cơ turbine có thời gian hoạt động cao hơn trước khi cần đại cần tu giúp xe giảm nhiều chi phí hoạt động. Người ta thường quên rằng chi phí hoạt động và bảo dưỡng của 1 xe tăng thường ngang với giá của chính nó. Văn phòng bộ trưởng quốc phòng (ODS) chống lại ý định của quân đội và đề nghị tiến hành việc giao thầu sau những thủ nghiệm kiểm tra cuối cùng sau khi 2 nhà thầu đã hoàn tất mẩu thử với việc thay động cơ và chỉnh lại tháp pháo cho khẩu 120mm trong tương lai. Chrysler quyết định thay đổi thực sự thiết kế của phiên bản XM1 để giảm giá thành, vốn là yếu tố quan trong mà ODS đề ra. Nhóm nghiên cứu của Chrysler dưới sự lãnh đạo của Dr Philip Lett Jun thiết kế lại lớp ngoài của loại giáp đặc biệt ở tháp pháo để tăng ưu thế về công nghệ. Thiết bị quan sát của xạ thủ cũng được đặt xa ra khỏi vị trí của xa trưởng để tránh cản tầm nhìn của xa trưởng. Nhiều cải tiến và đơn giản hoá được thêm vào nắp vòm của xa trưởng và hệ thống xát định khoảng cách bằng laser.

Xe tăng M1 Abrams tại Dona Anna Range.

Ngày 12 tháng 11 năm 1976, mẫu xe của Chrysler được chọn thực hiện hợp đồng phát triển kĩ thuật mức độ lớn (FSED). Giai đoạn FSED đòi hỏi Chrysler sản xuất 11 xe tăng thí điểm cho kiểm tra. Chiếc đầu tiên được giao vào tháng 2 năm 1978. Kiểm tra sau đó phát hiện sự cố do động cơ turbine bị nhiễm cát và bùn bị dính vào bánh răng trên xích. Để giải quyết, người ta cải tiến các bộ lọc không khí và các tấm chắn bùn đơn giản. Những xe tăng này sau đó được đưa vào kiểm tra sự an toàn với nhiều loại đạn khác nhau trong khi xe chở đầy đủ nhiên liệu và đạn dược. Cuộc thử nghiệm đã thành công và làm ấn tượng nhiều quan chức quân đội về sự vượt trội của M1 so với M60. Giai đoạn sản xuất qui mô nhỏ ban đầu được hco phép vào ngày 7 tháng 5 năm 1979. Có 110 chiếc được sản xuất trong giai đoạn này sau đó được đưa đikiểm tra khả năng hoạt động ở các bang Texas, Yuma, Arizona, điều kiện cực ở Alaska, điều kiện nhiệt đới ở Florida và điều kiện điện từ và phóng xạ ở bãi thử tên lửa White Sand.

XM1 được đưa vào sản xuất hàng loạt vào tháng 2 năm 1981 và được xếp loại tuyệt mật. Ban đầu người ta định đặt tên của tướng Geogre C. Marshall, tuy nhiên vì liên hệ đến tăng nên người ta chọn tên của tướng Creighton Abram, chỉ huy tiểu đoàn tăng của sư đoàn thiết giáp số 4 và là chỉ huy quân đội quân đội Mĩ tại Việt Nam sau này. Xe tăng M1 Abram cuối cùng được sản xuất ở hai nhà máy sản xuất tăng ở Lima (Ohio) và Detroit (Michigan). Trong giai đoạn này thì Chrysler Defense, phân nhánh quân sự của tập đoàn Chrysler bị bán cho General Dynamic Land Systems(GDLS).[6]

Tính cơ động[sửa | sửa mã nguồn]

Động cơ của xe tăng Abram là động cơ AGT-1500 đa nhiên liệu kiểu turbine khí. Động cơ turbine khí nhỏ hơn và có ít bộ phận hơn và ít ồn hơn so với động cơ piston có cùng công suất. Tuy nhiên động cơ turbine khí tốn nhiều nhiên liệu hơn và toả nhiều nhiệt hơn so với động cơ piston. Động cơ AGT-1500 có trọng lượng khoảng 3,855 kg. Có thể thay thế các phần riêng rẽ của hệ thống động cơ-truyền động mà không cần phải lấy nguyên toàn bộ hệ thống ra. Thời gian để lấy toàn bộ động cơ và hệ thống truyền động tự động chỉ mất 1h(đối với M60 là 4h). Để khởi động, M1 ngốn 34 lít xăng JP-8. M1 có thể tăng tốc từ 0 lên 32 km/h trong 7s. Nguyên lý hoạt động của động cơ turbine khí là hút không khí vào trong một máy nén có áp suất cao. Tại đây, không khí được trộn với nhiên liệu và đốt cháy. Luồng hơi nóng có áp suất cao từ máy nén thổi tiếp vào trong làm xoay cánh quạt turbine, vận hành động cơ. Sau đó luồng hơi được thải 1 phần, một phần luồng hơi được đưa vào bộ thu hồi khí để sử dụng lại. Hệ thống bánh răng truyền động truyền lực xoay của cánh quạt vào 2 bánh xe chủ động ở sau xe. Cuối cùng, động cơ của M1 là loại không khói.

Một chiếc M1 Abrams đang làm nhiệm vụ cảnh giới tại một vị trí quân sự ở phía Tây Nam thủ đô Baghdad, Iraq

Hệ thống treo của M1 bao gồm 7 thanh đòn nối với bánh xe đi đường ở mỗi bên thân xe. Các thanh đòn này có trục ở giữa để gắn hai bánh xe đi đường lại với nhau thành một bánh đôi. 14 thanh đòn này được nối với nhau bằng các thanh xoắn làm từ thép có độ cứng cao. Các thanh xoắn này chạy ngang thân xe, nối 2 thanh đòn ở hai bên sườn lại với nhau. Hệ thống truyền động của M1 cho phép bánh xe đi đường có thể di chuyển lên xuống 38 cm. Để ổn định các thanh xoắn, 6 thiết bị giảm sốc ở các cặp bánh số 1,2 và 7. Các thiết bị giảm sốc giúp xe không bị đung đưa trên các thanh xoắn khi di chuyển. Bởi vì các bánh đi đường ở đầu thường chịu ảnh hưởng lớn của địa hình nên cặp bánh 1, 2 được trang bị thiết bị giảm sốc. Bánh xe cuối được trang bị thiết bị giảm sốc để ổn định xích xe trước khi đi vào bánh răng của bánh truyền động. Hệ thống truyền động của M1 bao gồm 4 số tiến và 2 số lùi.

Xích T-158 được bọc cao su rộng 61 cm, phần tiếp xúc với mặt đất dài khoảng 7,6m. Các mắt xích bị hỏng có thể được thay thế. Bình xăng bao gồm 4 khoang chứa 1.909 lít của M1 có thể giúp xe lái được trong khoảng 8 tiếng đồng hồ tuỳ theo điều khiện khác nhau. Trong điều kiện lí tưởng, một xe tăng cần 10 phút để nạp nhiên liệu, một trung đội(4 xe tăng) cần 30 phút. Mức tiêu thụ nhiên liệu trung bình:

  • 0,6 dặm(0,96 km) cần 1 gallon(3,785l) nhiên liệu.
  • Hơn 30 gallon(227l) đi được 1h trên địa hình lí tưởng.
  • 60 gallon(454l) khi di chuyển trên địa hình ghồ ghề.
  • Lưỡi cày mìn tăng 25% tiêu thụ nhiên liệu.

Cần lưu ý rằng phiên bản M1A2 SEP chỉ có bình xăng 3 khoang dung tích 1.680 lít nên tầm hoạt động ngắn hơn(350 km) so với các phiên bản khác. Tốc độ di chuyển cao nhất trên địa hình gồ ghề của M1 là 48 km/h, cao gấp đôi so với M60A3. M1 có thể tăng tốc từ 0 lên 32 km/h chỉ trong 7s trên đường. Tốc độ di chuyển cao nhất trên đường trung bình khoảng 67 km/h cho phiên bản mang pháo 120mm. Tốc độ tối đa của M1 có thể cao hơn nếu không có thiết bị điều chỉnh vận tốc của động cơ. Trọng lượng lớn (M1A1 nặng 57 tấn, M1A2 nặng 67 tấn trong khi xe tăng T-90 của Nga chỉ nặng 46,5 tấn) của xe khiến cho tốc độ di chuyển trên địa hình ẩm ướt và đất mềm cũng như khả năng vượt hào bị hạn chế nhiều, tuy nhiên nó giúp cho xe an toàn hơn khi lái trên địa hình ghồ ghề. M1 không có hiện tượng bay lên khỏi mặt đất sau khi vượt qua chướng ngại vật như các xe tăng có trọng lượng dưới 50 tấn, thay vào đó, nó lướt qua chướng ngại, xích xe vẫn áp sát mặt đường. Khi tiếp đất với kiểu bay, tổ lái nếu không mang đai an toàn có thể bị thương nặng ở đầu và cổ, nhưng với M1 thì không sao, điều này cho phép tổ lái của xe M1 linh hoạt và thoải mái hơn. Trọng lượng nặng và hệ thống treo thuỷ lực của M1 giúp cho nó di chuyển một cách đặc biệt êm ái trên địa hình ghồ ghề. Động cơ turbine khí giúp M1 di chuyển ít ồn và tuổi thọ động cơ cao hơn so với động cơ diesel của M60. Tuy nhiên, M1 vẫn có 1 điểm yếu là nó không có khả năng lặn sâu so với nhiều loại xe tăng khác. Thiết bị lặn của M1 chỉ cho phép xe vượt qua chỗ nước sâu không quá nóc xe.

M1A2 Abrams hành quân trên sa mạc

Nhờ có hệ thống lọc không khí trước khi đưa vào động cơ nên M1 không chịu nhiều ảnh hưởng do cát bụi và thời tiết. Tuy nhiên, vì tiêu thụ quá nhiều nhiên liệu nên thường chỉ có những xe bồn cỡ lớn mới có thể giải khát cho một lực lượng M1, và những xe bồn này có khả năng di chuyển địa hình cũng như chịu đựng thời tiết kém hơn so với xe tăng nên việc tiếp tế thường tốn nhiều thời gian.[6]

Thiết kế bên trong và bên ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí của xa trưởng: được trang bị sáu kính quan sát có thể quan sát toàn bộ 360 độ quanh xe. Thiết bị quan sát hồng ngoại độc lập (ITV/independent thermal viewer) của hãng Texas Instruments cung cấp khả năng quan sát ngày và đêm độc lập (với xạ thủ) được ổn định, có thể quan sát 360 độ, tự động quét khu vực, tự động chuyển thông tin về mục tiêu cho xạ thủ và một hệ thống điều khiển hỏa lực dự phòng cho phép xa trưởng sử dụng pháo chính. Khẩu M2 của xa trưởng cũng được trang bị một kính nhắm 3X.

Xe tăng M1A1 Abrams của lực lượng Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ tại Hàn Quốc
M1 Abrams được vận chuyển bằng tàu hỏa đến các căn cứ quân sự
M1 Grizzly

Vị trí của xạ thủ: được trang bị GPS (gunner’s primary sight/(thiết bị) ngắm chính của xạ thủ) từ Electro-Optical Systems Division của công ty Hughes Aircraft. Hệ thống tạo ảnh hồng ngoại (thermal imaging systerm/TIS) cũng của công ty Hughes tạo ra một hình ảnh dựa trên sự khác biệ về nhiệt độ của các vật thể trong khu vực nhìn thấy. Hình ảnh tạo ra được hiển thị trong một thị kính cùng với thông số về khoảng cách có sai số dưới 10m từ thiết bị xác định khoảng cách bằng laser của Hughes. Cùng với đó là một máy tính đạn đạo. Dữ liệu về khoảng cách được truyền trực tiếp vào máy tính đạn đạo, sau đó được tự động tính toán. Dữ liệu bao gồm: 1) Góc bắn đón, 2) Góc nâng hạ của pháo chính được tính bằng cảm ứng đầu nòng đặt trên pháo chính, 3) Dữ liệu về gió đo bằng cảm biến gió trên nóc tháp pháo, 4) dữ liệu từ con quay hồi chuyển đặt tại trung tâm của nóc tháp pháo. Cuối cùng, người xa trưởng hay xạ thủ sau đó đưa thông tin về loại đạn, nhiệt độ và áp suất khí áp vào. GPS được trang bị hai kính quan sát đôi 3X và 10x ban ngày cũng như 3X và 10X ban đêm. Ngoài GPS, còn có một kính nhắm phụ trợ 8X khác.

Vị trí của người nạp đạn: không được trang bị các thiết bị điều khiển hỏa lực đặc biệt nào. Tuy nhiên, từ vị trí của mình, người nạp đạn có thể quan sát toàn bộ bên trong xe, điều này rất quan trọng nên hầu hết xa trưởng đều chọn người có kinh nghiệm nhiều thứ hai vào vị trí của người nạp đạn. Phía sau lưng người nạp đạn là khoang chứa đạn của pháo chính được ngăn cách bằng một lớp cửa thép. Để lấy đạn từ khoang, người nạp đạn phải nhấn giữ một nút để mở cửa trượt ngăn cách. Khi buôn nút, của tự động đóng lại. Trên nắp ra vào của người nạp đạn cũng có một kính quan sát 1X có thể xoay 360 độ.

Vị trí của lái xe: Lái xe có một ghế ngồi tự ngã về sau khi hách ra vào đóng lại cũng như khi xe đang trong trạng thái hoạt động. Vị trí của lái xe cũng được thiết kế để thích hợp với 95% nam giới Mĩ, cho phép người lái dù mập hay ốm cũng có thể điều khiển xe. Bên cạnh lái xe có trang bị các thiết bị đo đạc và màn hình tiêu chuẩn thể hiện tình trạng nhiên liệu, điện năng của các pin, các thiết bị điện tử. Thiết bị quan sát của lái xe bao gồm ba kính quan sát cung cấp tầm nhìn 120 độ. Kính quan sát ở chính giữ có thể được gắn một thiết bị hồng ngoại để quan sát ban đêm hay trong điều kiện khói bụi.

Khả năng bảo vệ[sửa | sửa mã nguồn]

Với ưu tiên thiết kế hàng đầu là bảo vệ tố lái, M1 Abram là một trong những loại xe tăng an toàn nhất thế giới ngay cả khi giáp xe không cản nổi đạn của đối phương.

Giáp ERA được lắp đặt trên tháp pháo của xe tăng M1 Abrams.

Như hầu hết các loại xe tăng được thiết kế vào thời chiến tranh lạnh, giáp xe tăng Abram được tập trung dày nhất ở 60 độ trước xe. Giáp của Abram là loại giáp Burlington theo tên gọi của hay Chobham theo tên gọi của Anh. Giáp Chobham có khả năng chống đạn cao hơn nhiều lần so với thép thường. Đến những năm 1980, giáp xe tăng Abram được tăng cường thêm Uranium nghèo(DU) ở giữa hai lớp giáp của tháp pháo giúp tăng thêm khả năng chống đạn xuyên giáp bằng động năng. Cũng như nhiều xe tăng kiểu phương Tây khác, giáp chính ở phía trước xe tăng Abram là 100% giáp thô, không lệ thuộc vào ERA. Điều này khiến cho xe có trọng lượng lớn, nhưng bù lại giáp có độ bền cao hơn nhiều. Trong chiến tranh vùng Vịnh, không hề thiếu những trường hợp xe tăng Mĩ bị tấn công bởi RPGsúng trường.

Thiết bị nhắm chính của xạ thủ (GPS) được trang bị cửa đóng mở để bảo vệ trước các loại miểng pháo và đạn súng cá nhân. Phía trước tháp pháo của M1 cũng được thiết kế khá vuông vức, các khí tài quan sát được đặt lùi về sau so với mặt trước của tháp pháo giúp tăng độ an toàn cho khí tài khi mặt trước tháp pháo bị tấn công bằng đạn HE hoặc HEAT. Hai bên và phía sau tháp pháo được gắn những khung chứa hàng đôi khi cũng giúp giảm hiệu quả sát thương của các loại đạn HEAT. Hai bên sườn xe cũng được trang bị giáp hông (skirt armor) khá dày cũng nhằm mục đích giảm hiệu quả của đạn HEAT. Tuy nhiên những biện pháp này không thể bảo vệ xe hoàn toàn trước các loại đạn, nhất là những loại đạn HEAT hiện đại, kèm thêm một thực tế là phần động cơ phía sau thân xe hoàn toàn không thể chịu được bất kì loại đạn nào mang nhãn chống tăng. Nhằm khắc phục nhược điểm này, gói nâng cấp TUSK đã ra đời. Nâng cấp chính bao gồm giáp ERA lắp hai bên sườn thân xe và giáp lồng ở phía sau xe.

Đằng sau lớp giáp cứng là một lớp chống miểng làm bằng Kevlar giúp chống lại mảnh vở của giáp khi giáp bị xuyên phá.

Ở bên trong xe, khoang chứa đạn của Abram được đặt sau tháp pháo, cá biệt với khoang chiến đấu bằng một lớp của thép. Khoang chứa đạn có hai tấm ván blow-off trên nóc. Khi đạn trong khoan phát nổ, sức nổ của chúng sẽ thổi bay các tấm ván blow-off, giải phóng sức nổ ra ngoài xe mà không gây thiệt hại cho tổ lái. Thiết kế an toàn này là điểm độc đáo mà hầu như không loại xe tăng nào khác có. Phần thân dưới phía trước có hai bình nhiên liệu lớn. Tuy nhiên, chúng lại giúp tăng khả năng bảo vệ chống đạn từ phía trước cho xe. Chất lỏng cũng có khả năng chống đạn. Ví dụ như nước có khả năng chống đạn CE bằng 45% RHA, KE bằng 15%. Ethanol có khả năng chống đạn CE bằng 63% RHA, KE bằng 15%. Ngoài ra, hai bình nhiên liệu này có vỏ làm bằng các lớp nhôm có lỗ giống tổ ong kẹp giữa các tấm nhôm mỏng. Thiết kế này có khả năng chống đạn bằng 70% RHA nhưng có chi phí thấp và trọng lượng nhẹ.

Ngoài ra, Abram còn được trang bị hệ thống chữa cháy tiên tiến bằng khí halon có khả năng phát hiện hoả hoạn chỉ trong 2 phần nghìn giây và dập tắt chúng trong vòng 1/4 giây. Cả khoang lái lẫn khoang động cơ đều có hệ thống chữa cháy bằng khi halon. Tuy nhiên, với dung tích bình xăng hơn 1900 lít, thì các hệ thống chữa cháy này chỉ có thể dập tắc các đám cháy nhỏ-vừa và cầm chân các đám cháy lớn cho tổ lái có thời gian thoát thân. Trong trường hợp hệ thống tự động bị trục trặc, tổ lái có thể kích hoạt hệ thống chữa cháy bằng tay từ bên trong(đối với hệ thống dập lửa khoang lái) hoặc bên ngoài(đối với khoang động cơ). Trong tương lai, M1 sẽ được bảo vệ thêm bởi hệ thống phòng thủ tích cực Quick-Kill có khả năng đánh chặn hầu hết các loại đạn từ mọi hướng xung quanh xe. Hệ thống Quick-Kill sẽ được đưa vào trang bị thử nghiệm trong năm 2009 cho lực lượng Mĩ. Trong thời gian chờ loại APS "hard kill" này, quân đội Mĩ đã trang bị các thiết bị hình hộp AN VLQ-8A "soft kill" có khả năng gây nhiễu các loại tên lửa chống tăng SACLOS đời đầu.

M1 Abrams đổ bộ bằng tàu đệm khí LCAC
  • Thiết bị phản ứng chống tên lửa(MCD) AN VLQ-8A:

Thiết bị phản ứng chống tên lửa AN VLQ-8A của hãng Sander(thuộc công ty Lockheed Martin) cung cấp khả năng bảo vệ tức thời chống lại một số lớn tên lửa chống tăng có điều khiển (ATGM) cho các loại xe thiết giáp. Hơn 1.000 hệ thống đã được giao cho quân đội Mĩ. Hiện vẫn chưa có thông tin về việc xuất khẩ hệ thống này. Thiết bị AN VLQ-8A này có thể làm nhiễu các loại tên lửa SACLOS, qua đó ngăn chặn chúng tới được mục tiêu. Thời gian trung bình trước khi gặp sự cố của thiết bị này vào khoảng 400 h, được cho là rất đáng tin cậy và không cần bảo trì ở cấp độ lớn. Tất cả những gì cần làm cho một thành viên tổ lái là bật tắt hệ thống, lau chùi bụi đất để cho hệ thống hoạt động trong thời gian dài. Hệ thống này thường được đặt trên nóc tháp pháo xe tăng Abram. Nhiều hệ thống cũng có thể được trang bị cho một xe tăng nếu cần vùng bảo vệ lớn hơn. Tuy nhiên, hệ thống MCD này tỏa ra một lượng lớn tia hồng ngoại có thể đốt cháy mắt và da người đứng trước nó. Vì vậy, binh sĩ được khuyến cáo không nên nhìn vào thiết bị này trong tầm 4m.

  • TUSK(Tank Urban Survability Kit:

Bao gồm: Giáp ERA cho tăng Abram (ARAT) 2 bên sườn xe, Giáp lồng phía sau xe, RWS cho súng máy.50 của xa trưởng, Tấm chắn đạn cho súng máy 7,62mm của người nạp đạn, Súng máy.50 đồng trúc với pháo chính, Điện thoại liên lạc giữa tăng-bộ binh, Mũ nhắm bắn hồng ngoại khẩu M240 cho người nạp đạn

  • TUSK 2: Thông tin về hệ thống bạo vệ này vẫn chưa được công bố.

Hỏa lực[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống điều khiển hoả lực[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống nhắm chính của M1 gồm kính quan sát đôi 10x và 3x ngày-đêm. Hệ thống hồng ngoại của Abram có tầm hoạt động vào khoảng hơn 4000 m. Máy tính đạn đạo của Abram tính đường đạn dựa trên các thông số: góc bắn (xác định bằn cảm biến đầu nòng), khoảng cách (xác định bằng hệ thống laser), tốc độ và hướng gió (cảm biến gió trên nóc xe), thông số từ con quay hồi chuyển, tốc độ của mục tiêu(xác định bằng máy đếm số vòng), nhiệt độ, áp suất khí quyển, loại đạn, nhiệt độ của đạn. Cộng chung lại, máy tính đạn đạo cho khả năng bắn chính xác 95% ở khoảng cách bình thường. Cả xa trưởng lẫn xạ thủ đều có thể sử dụng pháo chính. Trong trường hợp cần thiết, pháo chính và súng máy đồng trục của xe tăng Abram có thể được nhắm bắn bằng thiết bị nhắm phụ trợ 8X của xạ thủ (GAS/Gunner Auxiliary Sight). GAS có hai đầu ruồi để nhắm bắn loại đạn HEAT và loại đạn APFSDS, STAFF. Khẩu M2 của xa trưởng được trang bị một kính nhắm 3X và có thể điều khiển từ trong xe.[6]

Súng-Pháo[sửa | sửa mã nguồn]

Vũ khí của xe tăng Abram gồm 3 loại: pháo chính, súng máy hạng nặng và súng máy hạng trung nếu không tính đến vũ khí riêng của tổ lái.

  • Pháo chính của xe tăng M1 Abram gồm hai loại là M68 105mm (M1, M1IP) và M256 120mm (M1A1 về sau).
    • Pháo M256 là loại pháo nòng trơn, phiên bản của kiểu pháo Rhenmental L44 (Đức):
      • Trọng lượng: 3084 kg
      • Lực đẩy khi bắn: 7000 lb- giây
      • Chiều dài nòng: 5,301 m
      • Tuổi thọ của khoá nòng: 4500 phát
      • Tuổi thọ của nòng: 1500 phát
    • Pháo M256 bao gồm các tính năng:
      • Bắn các loại đạn tiêu chuẩn NATO STANAG 4385
      • Có bậu giữ khí nòng pháo
      • Có tính năng cách nhiệt
      • Có cảm biến đầu nòng
      • Khoá nòng phải được người điều chỉnh trước khi bắn phát đầu tiên
      • Không cân bằng đồng tâm

Các phiên bản:

  • M256: phiên bản pháo nòng trơn L44 120 mm. Thông số như trên
  • M256E1: phiên bản của pháo nòng trơn L55 120 mm(có nòng dài hơn 130 cm so với L44, tăng 30% thể hiện so với pháo thường cùng loại). Một phần của dự án nghiên cứu Hệ thống vũ khí xe tăng tiên tiến(Advanced Tank Armament System/ATAS).[6]
  • Súng máy đồng trục và phòng không hạng trung: là loại M240 bắn đạn 7,62x51mm tiêu chuẩn NATO.[6]
  • Súng máy phòng không hạng nặng: loại M2HB Browning bắn đạn.50 cal(12,7x99mm).[6]

Đạn[sửa | sửa mã nguồn]

Đạn 120mm của Abram được sản xuất bởi hãng Alliant Techsystems và hãng General Dynamics Ordnance and Tactical System. Các sơ sở chính:

M1 Abrams với lưỡi cày quét mìn.

Đạn 120mm được sản xuất hầu như bằng tay theo những quy trình nghiêm ngặt, có rất nhiều khâu kiểm tra ở giữa những khâu chế tạo. Các khâu này kiểm tra được thực hiện bởi người hoặc máy, ví dụ như một loại máy giống máy X quang giúp kiểm tra từng vết nứt trên đáy viên đạn, hoặc đưa viên đạn vào buồng thử nghiệm mô phỏng viên đạn được đưa vào buồng phóng của pháo chính. Nếu viên đạn thất bại trong một kiểm tra quan trọng, toàn bộ công đọn có thể bị dừng lại cho đến khi tìm ra được sai sót. Mỗi lô đạn đầu được lấy ra một viên để đưa đi bắn thử. Nguồn thông tin về sản xuất đạn này được viết vào năm 1998.

Đạn pháo chính 120mm của Mĩ là loại đạn bao gồm hai phần dính liền nhau là hệ thống phóng (bao gồm vỏ đạn loại có thể cháy được, phần đế làm từ kim loại là phần duy nhất còn lại trong pháo sau khi viên đạn được bắn đi, thuốc phóng đựng trong thiết bị chứa) và đầu đạn.

  • APFSDS/ Armor Piercing Fin Stabilized Discarding Sabot/ Đạn xuyên giáp có cánh ổn định và vỏ tách rời(giảm cỡ nòng)

Là loại đạn chống tăng chính của xe tăng Abram và hầu hết các loại xe tăng phương Tây. Sở dĩ đạn APFSDS được chọn là vì hầu hết các loại giáp tăng hiện đại đều có khả năng chống đạn động năng (Kinetic Energy/ KE: đạn tác dụng xuyên giáp bằng động năng, không có chất nổ trong đầu đạn) thấp hơn so với đạn hoá năng (Chemmical Energy/ CE: xuyên giáp bằng sức ép của chất nổ trong đầu đạn nổ lõm). Cùng một loại giáp, khả năng chống đạn KE có khi chỉ bằng một nửa so với CE(coi ví dụ ở các bảng trên). Đạn APFSDS có hai loại chính là loại có đầu xuyên (tạm dịch từ chữ "penetrator") làm từ Tungsten(Vonfam) và Uranium nghèo(Depleted uranium/ DU).

Trong đó loại đạn làm từ DU được quân đội Mĩ lựa chọn vì có hai ưu điểm lớn so với Tungsten:

    • Hiệu ứng tự cháy: DU là một kim loại nặng có tỉ trọng gấp 2,5 lần thép và rất dễ bốc cháy giống như Magie. Nhiệt độ khi đầu xuyên tiếp xúc với mục tiêu là khoảng 1132 độ C. Khi đầu xuyên đang trong giai đoạn xuyên qua giữa lớp giáp, cả đầu xuyên lẫn lớp giáp sẽ bị chảy ra một phần dưới nhiệt độ và áp suất cực lớn. Khi đầu xuyên đã xuyên qua lớp giáp, thì phần chưa bị nung chảy của đầu xuyên, những phần bị nung chảy và mảnh vỡ sẽ tuôn vào bên trong khoang xe. Nếu những phần này chạm tới chỗ chứa đạn hoặc nhiên liệu thì sẽ gây thiệt hại toàn bộ cho cả xe lẫn tổ lái. Điều này đặc biệt hiệu quả đối với những loại xe tăng sử dụng máy nạp đạn kiểu LX-Nga vốn để đạn xung quanh khoang xe.
    • Hiệu ứng tự làm nhọn: Khi xuyên giáp, đầu xuyên có thể bị gãy, nhưng phần đầu nhọn của đầu xuyên vẫn giữ được hình mũi tên trong khi ở đầu xuyên tungsten, phần đầu nhọn sẽ bị biến dạng thành hình giống cây nấm. Vì thế, đầu xuyên Du tạo ra một lỗ nhỏ hơn, sâu hơn so với đầu xuyên Tungsten.

Ngoài ra, đầu xuyên DU có thể làm giảm sức cản không khí, nên có tốc độ, độ chính xác cao hơn so với đầu xuyên tungsten cùng loại. Du cũng có giá rất rẽ so với Tungsten, gần như là cho không đối với những nước có các nhà máy điện hạt nhân. Nhược điểm lớn nhất của DU là nó rất độc. Khi viên đạn chạm mục tiêu, phần lớn lượng DU bị oxy hoá thành các loại bụi, khí độc hại. DU bị nghi là tác nhân gây nên "Hội chứng vùng Vịnh" của nhiều cựu binh Mĩ từng tham gia chiến tranh vùng Vịnh lần nhất (1991). Trong cuộc chiến này, 85% binh sĩ Mĩ thú nhận từng lại gần các mục tiêu bị bắn phá bằng đạn DU. Trong cuộc chiến Balkan (BosniaKosovo), binh sĩ NATO được khuyến cáo không nên sử dụng nước uống, thực phẩm địa phương, tránh xa các địa điểm bị bắn phá bằng đạn DU và không được nhặt các mảnh vở tình nghi là từ đạn DU.

Hiện nay, quân đội Mĩ sử dụng loại đạn M829 APFSDS-T DU(chữ "T" là viết tắt của "Tracer" - "vạch đường", viên đạn bắn ra có luồng sáng ở cuối đuôi giúp nhìn rõ đường đạn).

Các phiên bản:

    • M829: Phần hệ thống phóng giống như mô tả trên, phần đầu đạn bao gồm 4 vỏ tách rời(sabot) làm bằng nhôm, mỗi vỏ là một cung 90 độ, có rãnh bên trong để khít với đầu đạn con, một kíp nổ M125, một đầu đạn con(đầu xuyên) DU có sáu cánh ổn định ở cuối đuôi. Các vỏ tách rời còn có niêm nhựa silicon ở cuối đuôi để tránh rò rĩ khí.
    • M829A1: Mang kíp nổ M129, ba vỏ tách rời, mỗi vỏ 120 độ. Còn lại giống như M829. Loại đạn M829A1 đã được sử dụng rất thành công ở vùng Vịnh năm 1991. M829A1 được lính Mĩ đặt tên là "Viên đạn bạc" do lớp hợp kim nhôm bọc phần đầu xuyên có màu bạc.
    • M829A2: Là một trong những loại đạn xuyên giáp hữu hiệu nhất của xe tăng Abram. Đầu đạn của loại này bao gồm các vỏ sabot làm từ plastic gia cố với graphite được phân đoạn được giữ lại bằng một đai plastic sẽ tách ra khỏi đầu xuyên siêu DU (Super DU/ SDU). Một niêm bằng cao su tổng hợp được đổ khuôn vào phần cuối của tổ hợp các miếng sabot để ngăn không cho luồn hơi phóng thoát ra phái trước. Đạn M829A2, mặc dù sử dụng các thánh phần của đạn M829A1, nhưng đã được cải tiến kĩ thuật để tăng sức công phá so với loại đạn cũ. Tính năng của đạn M829A2 vẫn được giữ bí mật, nhưng được đảm bảo bởi các cải tiến mới. Những cải tiến bao gồm công đoạn sản xuất mới để tăng sự ổn định cấu trúc của đầu xuyên DU, sử dụng vật liệu composite cacbon-epoxy cho phần sabot(lần đầu tiên được sử dụng trên thế giới ở loại đạn cỡ lớn) và loại thuốc phóng mới giúp cho đạn M829A2 có sơ tốc tăng thêm 100 m/s so với loại A1. Loại đạn M829A2 được thiết kế để chống lại các loại giáp ERA tiên tiến như Kontakt-5 của Nga.
    • M829A3: Là loại đạn xuyên giáp hiện đại và tốt nhất hiện nay của quân đội Mĩ. Loại đạn này sử dụng nhiều thành phần chung với các phiên bản A1, A2, nhưng được tích hợp những tiến bộ khoa học mới để cung cấp khả năng chống tăng cao hơn đáng kể so với các loại đạn cũ. Đầu xuyên của đạn M829A3 được coi là loại dài nhất, nặng nhất và có tỉ khối lớn nhất so với các loại đầu xuyên pháo 120-125mm.
    • KEW: Là loại đạn APFSDS có đầu xuyên tungsten được Mĩ phát triển cho các đơn vị tăng Abram của Ai Cập. Mĩ không sử dụng loại đạn này.

Có các loại: KEW: 1996, KEW-A1: 2000, KEW-A2: 2003

  • HEAT-MP-T/ High-explosive anti-tank Multi-Purpose Tracer/ Đạn chống tăng bằng chất nổ có sức công phá cao(nổ lõm), đa công năng, vạch đường: Là loại đạn được sử dụng để chống lại các loại thiết giáp hạng nhẹ, sườn và đuôi xe tăng, bộ binh, công sự….

Các phiên bản:

    • M830: Phần hệ thống phóng dùng kíp nổ M123A1. Đầu đạn bao gồm vỏ thép và chất nổ bao quanh dầu nổ lõm bằng đồng. Ngòi nổ của đầu đạn M830 được đặt ở phía cuối đầu đạn, một thanh dài cắm vào mũi đầu đạn. Thanh cắm này giúp đầu đạn phát nổ ở đúng khoảng cách thích hợp đã định so với mục tiêu bởi vì nếu nổ quá gần, luồng hơi vẫn chưa kịp tạo thành, nếu nổ quá xa, luồng hơi sẽ bị phân tán. Tuy vậy đầu đạn M830 vẫn có thể được kính nổ từ phần đầu của thanh cắm hay phần vai của đầu đạn, giúp viên đạn vẫn hoạt động ngay cả khi bắn vào hàng rào hay giáp lồng. Đạn M830 hiện không còn sản xuất, thay thế bởi loại M830A1.
    • M830A1: Có thêm tính năng chống trực thăng và chiến xa nhẹ có gắn ERA. Đầu đạn M830A1 bao gồm phần cánh ổn định, vỏ đầu đạn làm từ hợp kim chrome và thép, chất nổ, đầu nổ lỏm làm bằng đồng. Độc nhất so với các loại đạn HEAT khác, M830A1 được trang bị vỏ tách rời(sabot) vốn thường chỉ được trang bị cho các loại đạn động năng. Điều này giúp tăng tốc độ, độ chính xác và tầm bắn. Đạn M830A1 có thể dùng chế độ chạm nổ hoặc cảm biến nổ gần mục tiêu tuỳ theo nhiệm vụ. Khi chọn chế độ bắn trên không, đầu đạn sau khi bắn sẽ phụt ra một luồn khói đen khi cảm biến độ gần và ngòi nổ hoạt động, giúp tổ lái thấy được vị trí đầu đạn so với mục tiêu.
  • HE-OR-T/High explosive obstacle reduction tracer/ Đạn chất nổ mạnh-phá vật cản-vạch đường: Là loại đạn dùng để dọn dẹp các vật cản, phá huỷ các công sự. M908: Đạn M908 bao gồm chất nổ mạnh và hệ thống ngòi nổ 3 tầng. Hệ thống ngòi nổ bao gồm ngòi đáy M774, các mạnh dẫn phức tạp và phần điều chỉnh chạm nổ phía trước. Khi tiếp xúc, đầu nhọn bằng thép sẽ xuyên vào mục tiêu, gởi tín hiệu đến ngòi M774. Điều này làm đầu đạn phát nổ. Sự xuyên phá của đầu thép giúp cho viên đạn chui vào bên trong mục tiêu trước khi phát nổ, làm tăng hiệu quả phá mục tiêu. Đạn M908 có cấu tạo giống đạn M830A1, cũng bao gồm phần sabot, nhưng thay phần cảm biến nổ gần trước đầu đạn M830A1 bằng một đầu nhọn bằng thép.

Đạn M908 đước chứng minh là hiệu quả hơn cả loại đạn 165mm M123A1 HEP của loại xe công binh chiến trường M728 (phiên bản của xe tăng M60). Đầu đạn M908 cũng có một đầu nổ lõm cho phép chống lại các loại thiết giáp.

  • Canister: Là loại đạn dùng để chống lại bộ binh. M1028: đầu đạn chứa 1150 viên bi Tungsten, không có ngòi nổ. Là loại đạn công nghệ thấp, giá cả thấp.

Một viên đạn M1028 có thể tiêu diệt hơn 60% lính của một trung đội bộ binh ở trong đội hình. Giá: 2000$(2009)

Tốc độ bắn tối đa của pháo chính M1 theo các nguồn khác nhau có thể từ 6 đến 8 hay 10 phát/ phút. Tuy nhiên, trong trận chiến 73 Easting hồi chiến tranh vùng Vịnh lần 1 (1991), một chiếc xe tăng M1A1 đã bắn 3 phát đạn trong vòng 10s (tức nạp được 2 viên trong 10s), cả 3 phát đều trúng mục tiêu.[6]

Tuy nhiên thực tế tốc độ bắn còn phụ thuộc vào kỹ năng và sức khỏe của người nạp đạn, cũng như điều kiện chiến đấu (ví dụ nếu xe chạy trên đường gồ ghề thì tốc độ nạp đạn sẽ giảm đáng kể). Ngoài ra nếu M-1 thay pháo 120mm bằng các khẩu pháo cỡ 140mm như của Leopard 3 thì việc nạp đạn thủ công sẽ không thực hiện được nữa do trọng lượng viên đạn quá lớn.

Lịch sử chiến đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến tranh vùng vịnh lần 1 là nơi đầu tiên thử lửa của xe tăng Abram. Trong cuộc chiến này, nhờ có các lữ đoàn hạng nặng trang bị với xe tăng Abram và xe chiến đấu bộ binh Bradley mà quân đội Mĩ đã có một chiến thắng trên bộ ngoạn mục. Chỉ trong 100 tiếng đồng hồ, lực lượng trên bộ của Liên quân đứng đầu là Mĩ đã quét sạch quân Iraq ra khỏi đất Kuwait. Trong khi không quân mất 43 ngày không kích với cường độ cao và tiêu diệt 50% lực lượng tăng Iraq, các đơn vị thiết giáp Mĩ chỉ mất 4 ngày vài giờ để tiêu diệt thêm 25%.

Một trận đấu tăng lớn điển hình là trận chiến 73 Easting. Đây là trận chiến giữa Trung đoàn Kị binh thiết giáp số 2 (2nd Armored Cavalry regiment/ 2nd ACR) của Mĩ với Sư đoàn Tawakalna (vệ binh cộng hoà) của Iraq trên một khu vực sa mạc bình thường.

Di chuyển trong một trận bão cát, không có không quân yểm trợ, ACR được lệnh truy tìm và đánh bại các lực lượng đối phương, xác định vị trí và mở rộng tuyến phòng thủ và chuẩn bị cho các đơn vị hạng năng phía sau tấn công. Vào khoảng 4 giờ chiều ngày 26 tháng 2, đại đội đi đầu của ACR, dưới sự chỉ huy của Đại uý H. R McMaster đã tiếp cận với vị trí chính của quân Iraq. Thực hiện tấn công ngay lập tức, lực lượng của Macmaster bao gồm 9 xe tăng M1A1 Abram và 12 xe chiến đấu kị binh M3 Bradley sau đó đã tiêu diệt toàn bộ dãi phòng thủ của Iraq, bắn trúng 37 xe tăng T-72 và 32 xe thiết giáp trong vòng 40 phút. Các đơn vị Mĩ theo sau cũng chiến đấu tương tự. Trước khi dừng lại để tập hợp lại vào khoảng 5 giờ, 3 đại đội trinh sát Mĩ đã quét sạch một lữ đoàn Vệ binh cộng hoà. Những cuộc phản công sau đó của Iraq cũng bị đánh tan nát với thiệt hại 113 xe thiết giáp Iraq bị phá huỷ trong khi chỉ có một chiếc Bradley bị trúng đạn, một thành viên tổ lái thiệt mạng (một chiếc khác cũng bị hạ vì hoả lực Mĩ bắn nhầm). Khoảng 600 lính Iraq bị loại khỏi vòng chiến.

Cũng trong cuộc chiến 73 Easting này, một chiếc Abram đã lập thành tích bắn hạ 3 xe tăng Iraq chỉ trong vòng chưa tới 10 giây.

"Trong 10 giây, thực ra là trong ít hơn 10 giây, chúng tôi đã có thể nạp thêm 2 viên đạn cùng với viên thứ nhất và khai hoả, và người nạp đạn của chúng tôi là một nạp đạn ngoại hạng, có thể nạp một viên đạn chỉ trong 2 (hay 3 giây, nghe không rõ, thông cảm) và khoảng 6-9 giây sau, chúng tôi thấy 3 xe tăng đối phương đang bốc cháy…" ~R. H macMaster~

Những cuộc giao tranh khác cũng có kết quả tương tự. Trận chiến Medina Ridge, thực hiện bởi Lữ đoàn 2 của Sư đoàn thiết giáp số 1 (Mĩ) chống lại Lữ đoàn 2 của Sư đoàn Medina Luminous (Iraq). Trong vòng 40 phút, Lữ đoàn Mĩ đã tiêu diệt các đơn vị thiết giáp Iraq có mặt, giết 340 lính và bắt sống 55 tù binh. Không có thiệt hại nhân mạng về phía Mĩ. Tại Mục tiêu Norfolk(Objective Norfolk), hai tiểu đoàn của Sư đoàn bộ binh số 1(Mĩ) phá huỷ hơn 100 xe thiết giáp của Sư đoàn Twakalna và Sư đoàn thiết giáp số 12 với thiệt hại chỉ có 2 chiếc Bradley do hoả lực địch (thiệt hại tổng cộng 5 Abram và 5 Bradley). Trong cuộc chiến Wadi Al Batin, một tiểu đoàn của Sư đoàn thiết giáp số 3 (Mĩ) quét sạch một lữ đoàn Iraq, tiêu diệt hơn 160 xe thiết giáp trong khi chỉ bị thiệt hại gần 6 xe. Vào buổi sáng ngày 27 tháng 2, lực lượng Iraq đã bị quét sạch. Quân đoàn VII của Mĩ đã tiêu diệt tổng cộng 1350 xe tăng Iraq, 1224 xe thiết giáp, 285 khẩu pháo, 105 hệ thống phòng không và 1229 xe tải. Về phần mình, Quân đoàn VII thiệt hại dưới 36 xe thiết giáp vì hoả lực đối phương, 47 binh sĩ thiệt mạng và 129 người bị thương.

Trong cuộc chiến vùng vịnh lần 1, chỉ có 18 chiếc Abram bị loại khỏi vòng chiến do hoả lực đối phương, 9 trong số đó được sửa chữa lại. Thiệt hại nặng nề nhất đối với một chiếc xe tăng Abram trong cả cuộc chiến có lẽ là của một chiếc Abram trong trận chiến Norfolk vào sáng sớm ngày 27 tháng 2. Chiếc Bumper B-66 bị trúng 3 viên đạn 120mm DU, một viên trúng vào dưới tháp pháo làm cho xạ thủ bị thương(và chết sau đó) khi chiếc B-66 này di chuyển chệch khỏi đại đội(có thể là nguyên nhân dẫn đến việc bắn nhầm). không có viên đạn nào bắn vào các tấm giáp DU của xe. Ảnh hưởng của viên đạn thứ nhất khiến cho xa trưởng bị văng ra khỏi xe và chịu nhiều mảnh vở vào chân. Người nạp đạn sau đó cố gắn đưa xạ thủ ra khỏi xe thì viên đạn thứ hai trúng tiếp, làm phỏng cả người nạp đạn và lái xe. Người lái xe, bị bao phủ bởi dầu diesel từ bình xăng bị vỡ, vẫn ở trong xe khi các bình khí chữa cháy halon bắt đầu xả. Bị phỏng và gần như bị mù, anh ta chạy ra xa khỏi xe và được chiếc B-23 đón. Chiếc B-66 bắt đầu bốc cháy và phát nổ sau đó. Cũng trong trận chiến Norfolk này, còn có 4 chiếc Abram khác bị trúng đạn của Mĩ nhưng không có thiệt mạng nhân sự, một chiếc bị trúng đạn 120mm DU vào mặt nghiêng thân trước khi xe đang mang lưỡi cày mìn, chiếc còn lại bị trúng đạn 120mm DU vào phần thân trái, một chiếc bị trúng mảnh vở của đạn 120mm DU vào sườn, một chiếc bị trúng tên lửa chống tăng(có thể là từ xe Bradley) vào khoang động cơ.

Tuy nhiên, trong ngày 26 trước đó, cũng có một chiếc Abram bị trúng một viên 120mm DU từ phía sau nhưng không có ai bị thương. Một quả tên lửa chống tăng khác cũng bắn vào phía sau tháp pháo chiếc tăng này sau khi tổ lái đã được di tản, khiến cho các túi, ba lô trên máng để hàng bị cháy nhưng không gây ra thiệt hại nào trong tháp pháo. Chiếc xe này sau đó được lực lượng Mĩ thu hồi lại vào ngày 4 tháng 3 năm 1991.[6]

Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Một chiếc M1 bị phá hủy sau một trận đọ súng tại Iraq

Trong trận chiến này, xe tăng Abram cũng thể hiện tương tự như lần trước với ít thiệt hại nhân mạng cho tổ lái trong xe. Vào khoảng tháng 3 năm 2005, có khoảng 80 xe tăng Abram bị loại khỏi vòng chiến do hoả lực đối phương.

Cuộc chiến lần 2 đã đánh dấu lần đầu tiên có thiệt mạng trong xe tăng Abram do hoả lực đối phương.

Sau đó các lực lượng du kích Iraq đã tìm ra điểm yếu của loại tăng này và tấn công vào chúng với các loại bom tự tạo rẻ tiền và dễ chế tạo, cũng như các khẩu RPG-29 có khả năng xuyên giáp phản ứng nổ và giáp hỗn hợp ở sau nó của M1 khiến cho một lượng lớn xe tăng này bị hỏng và phá hủy tiếp sau khi kết thúc cuộc chiến[7][8][9].

Ngày 29 tháng 10 năm 2003, một chiếc Abram đã trúng một khối mìn chống tăng được tăng cường với chất nổ (khoảng 500 kg, bao gồm nhiều viên đạn 155mm). Quả mìn nổ dưới xe này khiến 2 thành viên tổ lái thiệt mạng, làm bị thương người thứ 3 và bật tháp pháo. Ngày 25 tháng 12 năm 2005, một chiếc M1A1 bị vô hiệu hoá bởi một quả mìn nổ lõm tự chế. Quả mìn này đâm xuyên qua một bánh đi đường và đâm vào khoang nhiên liệu khiến xe bị cháy gần trung tâm Baghdad. Một thành viên tổ lái thiệt mạng. Ngày 4 tháng 4 năm 2005, 2 thành viên tổ lái thiệt mạng khi một quả mìn tự chế nổ gần xe của họ. Một chiếc tăng khác của lực lượng lính thuỷ đánh bộ cũng bị rơi xuống sông Euphrates khi đang băng qua cầu. Cây cầu bị sập làm 4 lính thuỷ chết đuối.[6]

Các phiên bản[sửa | sửa mã nguồn]

  • XM815, XM1: nguyên mẫu thử nghiệm.
  • M1: Sản xuất: 1980-1985. Là phiên bản sản xuất đầu tiên. Có các tính năng: Giáp Chobham, Hệ thống treo tiên tiến(thanh xoắn và thiết bị giảm xốc xoay, Hệ thống ổn định pháo, pháo bằng thuỷ lực, Máy tính đạn đạo điện tử, Thiết bị xác định khoảng cách bằng laser, Thiết bị hồng ngoại quan sát đêm.
  • IPM1: Sản xuất: 1984-1986. Là phiên bản nâng cấp khả năng thể hiện của M1 (improved perfomance M1/IPM1). Các nâng cấp bao gồm: nâng cấp giáp, chỗ chứa hàng bên ngoài, nâng cấp hệ thống treo.
  • M1A1: Sản xuất: 1985-1993. Có các nâng cấp: Pháo 120mm, Giáp nâng cấp, Hệ thống chống NBC bằng áp suất, hệ thống báo động sóng radio, thiết bị phát hiện háo chất, tổ lái được bảo vệ riêng với áo và mắc nạ đạc biệt, Thiết bị quan sát hồng ngoại độc lập cho xa trưởng (CITV/ commander independent thermal viewer), Hệ thống phát hiện sự cố, Thiết bị lội nước sâu (DWFK/Deep water fording kit) cho phép xe lội nước sâu 2m (xe tăng của USMC), Hệ thống báo cáo vị trí (PLRS/Position location reporting system), Bộ điều khiển điện tử (DECU/Digital electronic control unit) (giúp giảm tiêu thụ nhiên liệu), Hệ thống liên lạc radio địa/ không 1 kênh (SINGCARS/ single channel ground/ air radio systerm)
  • M1A1 HA/ HC: Sản xuất: 1988-1991. Phiên bản heavy armor/ heavy common được tăng cường thêm giáp uranium nghèo (DU) trước tháp pháo. Giáp tháp pháo của M1A1 HA mạnh gần 2 lần giáp của M1 nguyên bản.
  • M1A1 D: Sản xuất: 1999-2001. Là phiên bản nâng cấp digital của M1A1 giúp tăng cường khả năng cảnh giác tình huống và chỉ định mục tiêu từ xa. Các nânng cấp của M1A1 D bao gồm: Gói nâng cấp chỉ huy và điều khiển rời:
    • A-kit: Nâng cấp bảng điều khiển của xa trưởng (UTCP/ upgraded tank commander's panel) với các phần cứng ngoại vi. (8.000 $/ 2009)
    • B-kit: Màn hình và bàn phím rời.(34.000 $/ 2005)
    • C kit: Cung cấp khả năng chỉ định mục tiêu từ xa nhờ module North Finding và bộ giao diện điện tử để xử lí thông tin thô đến các card rời. (52.000 $/ 2005).
  • M1A1 AIM: Sản xuất: 1999-2006. Chương trình Abram Intergrated Managerment cho thế kỉ XXI (AIM XXI) thực hiện khi quân đội Mĩ đại tu các lực lượng tăng của mình để giảm chi phí hoạt động và bảo dưỡng. M1A1 AIM không phải là tăng sản xuất mới mà là các xe tăng M1 cũ nâng cấp thành. Có các nâng cấp: Tình trạng như mới, Nâng cấp động cơ, Nâng cấp giáp, Thiết kế tạo điều kiện cho việc nâng cấp lên. M1A1 D trong tương lai M1A1 AIM được trang bị chủ yếu cho các lữ đoàn Vệ Binh Quốc Gia Mĩ.
  • M1A2: Sản xuất: 1992-1999.
    • - Thiết bị ngắm được ổn định hoàn toàn
    • - Hệ thống phát hiện sự cố
    • - Hệ thống liên lạc radio địa/ không 1 kênh (SINGCARS/ ingle channel ground/ air radio systerm)
    • - Bộ điều khiển điện tử (DECU/Digital electronic control unit) (giúp giảm tiêu thụ nhiên liệu)
    • - Hệ thống thông tin trong- ngoài xe
    • - Thiết bị quan sát hồng ngoại cho lái xe
    • - Thiết bị quan sát hồng ngoại độc lập cho xa trưởng (CITV/ commander independent thermal viewer)
    • - Màn hình tích hợp cho xa trưởng
    • - Màn hình tích hợp cho lái xe
    • - Khẩu M2 của xa trưởng không có điều khiển từ trong xe
  • M1A2 SEPv1: Sản xuất: 1999-nay. Quân đội Mĩ đã quyết định dừng việc sản xuất xe tăng M1A2 SEP kể từ năm 2004. Thay vào đó là nâng cấp các xe tăng M1 cũ lên chuẩn của M1A2 SEP. Các nâng cấp của SEP:
    • - Thiết bị quan sát hồng ngoại trực diện (FLIR/ forward looking infrared) thế hệ 2. FLIR 2 giúp việc phát hiện mục tiêu tốt hơn 70%, tốc độ bắn nhanh hơn 45% và chính xác hơn. Tổng cộng, FLIR 2 giúp tăng khoảng cách phát hiện và nhận dạng tăng thêm 30%. FLIR 2 được trang bị cho thiết bị hồng ngoại của xạ thủ và thiết bị quan sát hồng ngoại độc lập của xa trưởng.
    • - Thiết bị phát điện phụ trợ trong xe (UAAPU/ under armor auxiliary power unit)
    • - Bộ xử lí máy tính nâng cấp
    • - Màn hình màu có độ phân giải cao
    • - Tăng dung lượng bộ nhớ
    • - Giao diện người- máy tốt hơn
    • - Hệ thống được thế kế mở cho phát triển tương lai
    • - Hệ thống kiểm soát nhiệt độ giúp giảm nhiệt độ cho tổ lái xuống còn 35 độ C và 51,6 độ C cho máy móc trong điều khiện khắc ngiệt.
    • - Hệ thống chỉ huy chiến trường FBCB2
  • M1A2 SEPv2: 240 chiếc M1A2 SEPv1 đã được kí hợp đồng nâng cấp lên version 2 vào tháng 11 năm 2007. Dự kiến tháng 11 năm 2009 sẽ hoàn tất. Một hợp đồng khác nâng cấp 435 xe tăng M1A1 cũng được kí vào tháng 2 năm 2008. System Enhancement package version 2 sẽ nâng cấp khả năng quan sát, hiển thị và trang bị điện thoại liên lạc giữ lính và xe tăng.
  • TUSK

Gói nâng cấp khả năng tồn tại trong môi trường đô thị (tank urban survival kit/TUSK) bao gồm các nâng cấp: - Bệ vũ khí điều khiển từ xa RWS (tương tự Stryker) có thể tích hợp với súng máy.50cal M2 (dành cho xe tăng M1A2). - Giáp chống đạn cho khẩu M240 của loader. - Một khẩu M2 đồng trục phía trên pháo 120mm. - Giáp ERA bảo vệ hai bên sườn thân xe. - Giáp lồng bảo vệ khoang động cơ phía sau xe. Giáp được sơn bằng loại sơn chống nhiệt độ cao. - Điện thoại liên lạc lính-tăng - Camera quan sát sau lưng cho lái xe.

  • M1 Grizzly: Là loại xe dùng để dọn mìn hay mở đường. Grizzly được trang bị 1 lưỡi cày mìn dài 4,2m và 1 cần cẩu có tầm với 9m và dung tích 1,2 m2.
  • M1 Panther II: Sản xuất: 2000-2001. Là loại xe dọn mìn điều khiển từ xa được thiết kế cho chiến trường Bosnia và được dùng ở Iraq. Panther nặng 43 tấn được trang bị 1 lưỡi cày mìn hay 1 trục lăn. Ngoài chế độ điều khiển từ xa, Panther còn có thể được lái bằng tổ lái 2 người.
M104 Wolverine
  • M104 Wolverine: Là loại xe dựng cầu tiến công. M104 có thể dựng 1 cây cầu dài 26m trong 5 phút. M104 có thể chịu được 5.000 lần qua lại của các phương tiện cơ giới nặng 70 tấn.
  • M1A3: Quân đội Mĩ hiện đang nhắm tới việc sản xuất phiên bản M1A3 đầu tiên vào năm 2014 và đưa vào trang bị vào năm 2017. Chiếc M1A3 mới này sẽ có trọng lượng khoảng 60 tấn, được trang bị nhiều thiết bị điện tử hơn và bền hơn so với các loại xe tăng Abram cũ.
  • M-60-2000: Phiên bản xe tăng M-60 được cải tiến nâng cấp theo tiêu chuẩn M1 Abrams. Xe được trang bị trọng pháo nòng trơn 120mm M256, tháp pháo của xe được thiết kế mới theo kiểu tháp pháo của M1A1, xe còn được trang bị hai khẩu đại liên 12,7mm MG và 7,62mm MGs gắn trên tháp pháo. Xe sử dụng động cơ diesel GDLS AVDS–1790–9A V12 làm mát bằng hơi nước 1200 mã lực và hộp số của M1 Abrams. Loại này không được trang bị cho Quân đội Mỹ mà chủ yếu được dùng để xuất khẩu.
  • M1T72: Loại xe tăng mới của Iraq được chế tạo trên cơ sở cải tiến lại toàn bộ nội thất linh kiện bên trong xe tăng T-72 của Liên Xô theo tiêu chuẩn M1 Abrams. Tập đoàn Defense Solutions of Exton, Pa của Mỹ sẽ đảm nhận việc tháo khung và lắp đặt các thiết bị, linh kiện mới. Khoảng 2000 chiếc T-72 (Iraq vừa mua lại từ các nước Đông Âu) dự kiến sẽ được cải tiến theo gói nâng cấp này. Theo đánh giá của các chuyên gia, sau khi hoàn thành số tăng chiến trường có từ thời Liên Xô này sẽ có khả năng chiến đấu trong cả điều kiện ban đêm và ban ngày.

Các nước sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ các quốc gia sử dụng xe tăng M1 Abrams.
  •  Úc - Quân đội Australia đã đặt mua 59 chiếc M1 AIM SA của Hoa Kỳ vào năm 2006 và chuyển giao vào năm 2007 để thay thế những chiếc Leopard AS1 đã cũ.[10]
  • Flag of Egypt.svg Ai Cập - 1005 chiếc tăng chiến đấu chủ lực M1A1 do Mỹ và Ai Cập hợp tác sản xuất.[11]
  •  Iraq - Quân đội Iraq đang thỏa thuận với Mỹ về việc mua khoảng 280 xe tăng M1A1M để trang bị cho lực lượng lục quân nước này. 140 chiếc sẽ được chuyển giao từ năm 2010 đến năm 2011. Tổng số xe được Iraq đặt mua dự kiến là 700 chiếc. Hiện nay, Iraq đang thuê của Mỹ 22 chiếc M1 Abrams để dùng trong công tác huấn luyện binh sĩ. Ngoài ra, Quân đội Iraq còn ký với Tập đoàn Defense Solutions of Exton, Pa của Mỹ hợp đồng nâng cấp 2000 xe tăng T-72 theo kiểu M1 Abrams.[12][13][14][15]
  • Flag of Kuwait.svg Kuwait - 120 xe tăng M1A2[16]
  • Flag of Greece.svg Hy Lạp - 1000 chiếc M1A1 được sản xuất bởi Tổ hợp lắp ráp của Mỹ tại Hy Lạp.
  •  Ả Rập Saudi - 373 chiếc M1A1 đang dần được nâng cấp lên chuẩn M1A2S[17]
  • Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ - Khoảng 9000 chiếc với nhiều phiên bản khác nhau.[18]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ http://www.globalsecurity.org/military/facility/lima.htm
  2. ^ Pike, John. Lima Army Tank Plant (LATP). Globalsecurity.org, 21 tháng 8 năm 2005. Truy cập on 9 tháng 7 năm 2009. (Production cost of M1A2, upgraded)
  3. ^ "Department of Defense - Annual Report FY99".
  4. ^ Abrams fact file. U.S. Army
  5. ^ M1: 498 km (310 mi), M1A1: 465 km (288 mi), M1A2: 391 km (243 mi)
  6. ^ a ă â b c d đ e ê loại tăng thiết giáp của Mĩ
  7. ^ http://www.usatoday.com/news/world/iraq/2005-03-29-abrams-tank-a_x.htm?loc=interstitialskip
  8. ^ http://www.nytimes.com/2008/05/21/world/middleeast/21sadr.html?_r=2&hp&oref=slogin&oref=slogin
  9. ^ http://www.liveleak.com/view?i=d2b_1196260079
  10. ^ “Australian National Audit Office report on the DMO project Land 907”. Anao.gov.au. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2009. 
  11. ^ http://www.army-technology.com/projects/abrams/
  12. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên strategypage.com
  13. ^ “Procurement: Iraq Buys What It Knows”. Strategypage.com. 18 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2009. 
  14. ^ "Iraqi military plans major arms purchase". Your Defence News, 16 tháng 12 năm 2008.
  15. ^ M1 Abrams Tanks for Iraq. Defense Industry Daily, 15 tháng 3 năm 2009.
  16. ^ M1 Abrams. Militarium.net (Polish to English translation)
  17. ^ The 2006 Saudi Shopping Spree: $2.9B to Upgrade M1 Abrams Tank Fleet
  18. ^ John Pike. “Lima Army Tank Plant (LATP)”. Globalsecurity.org. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2009. 
  19. ^ a ă â John Pike. “M1 Abrams Main Battle Tank”. Globalsecurity.org. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2009. 

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]