Chiến tranh Lạnh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Chiến tranh lạnh)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Máy bay trinh sát P-3A của Mỹ bay trên chiến hạm Varyag của Liên Xô năm 1987.
Flag of the USA Flag of the USSR

Một phần của một loạt bài về
Chiến tranh Lạnh

Những nguyên nhân của cuộc Chiến tranh Lạnh
Thế chiến II
Các hội nghị thời chiến
Khối Đông Âu
Bức màn sắt
Chiến tranh Lạnh (1947-1953)
Chiến tranh Lạnh (1953-1962)
Chiến tranh Lạnh (1962-1979)
Chiến tranh Lạnh (1979-1985)
Chiến tranh Lạnh (1985-1991)

Chiến tranh Lạnh hay Lãnh chiến (1945–1991) là tình trạng tiếp nối xung đột chính trị, căng thẳng quân sự, và cạnh tranh kinh tế tồn tại sau Thế chiến II (1939–1945), chủ yếu giữa Liên bang Xô viết và các quốc gia vệ tinh của nó, với các cường quốc thuộc thế giới phương Tây, gồm cả Hoa Kỳ. Dù các lực lượng tham gia chủ yếu không bao giờ chính thức xung đột, họ đã thể hiện sự xung đột thông qua các liên minh quân sự, những cuộc triển khai lực lượng quy ước chiến lược, một cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân, tình báo, chiến tranh ủy nhiệm, tuyên truyền, và cạnh tranh kỹ thuật, như cuộc chạy đua không gian.

Dù là các đồng minh chống lại Phe Trục, Liên Xô, Hoa Kỳ, Anh QuốcPháp đã không đồng thuận trong và sau Thế chiến II, đặc biệt về việc thiết lập thế giới thời hậu chiến. Khi cuộc chiến kết thúc, họ chiếm hầu hết châu Âu, với việc Hoa Kỳ và Liên Xô là các lực lượng quân sự mạnh nhất.

Liên Xô lập ra Khối Đông Âu với các quốc gia Đông Âu mà họ chiếm đóng, sáp nhập một số trở thành Các nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết và duy trì các quốc gia khác như nước vệ tinh của mình, một số nước trong số đó sau này được củng cố vào Khối hiệp ước Warsaw (1955–1991). Hoa Kỳ và một số quốc gia Tây Âu thành lập chính sách ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản như là chính sách phòng vệ của họ, và lập ra các liên minh (ví dụ NATO, 1949) cho mục đích đó.

Nhiều quốc gia trong số đó cũng tham gia vào kế hoạch tái thiết châu Âu, đặc biệt là Tây Đức, vốn bị Liên Xô phản đối. Ở những nơi khác, tại Mỹ LatinhĐông Nam Á, Liên Xô ủng hộ các cuộc cách mạng cộng sản, bị nhiều nước phương tây và đồng minh trong vùng của họ phản đối; một số nước tìm cách hạ thấp, với những kết quả khác nhau. Một số nước liên kết với NATO và Khối hiệp ước Warsaw, tuy thế các khối của những quốc gia không liên kết cũng xuất hiện.

Cuộc chiến tranh Lạnh có đặc điểm ở những giai đoạn khá yên tĩnh và những giai đoạn căng thẳng lên cao trong quan hệ quốc tế – cuộc Phong toả Berlin (1948–1949), Chiến tranh Triều Tiên (1950–1953), Khủng hoảng Berlin năm 1961, Chiến tranh Việt Nam (1954–1975), Khủng hoảng tên lửa Cuba (1962), Chiến tranh Xô viết tại Afghanistan (1979–1989), và những cuộc tập trận Able Archer 83 của NATO vào tháng 11 năm 1983. Cả hai phía đã tìm cách làm giảm các căng thẳng chính trị và tránh một cuộc tấn công quân sự trực tiếp, vốn dường như sẽ dẫn tới một sự tiêu diệt có đảm bảo từ hai phía với các loại vũ khí hạt nhân.

Trong thập niên 1980, Hoa Kỳ tăng cường sức ép ngoại giao, quân sự và kinh tế chống lại Liên Xô, vốn đang ở tình trạng trì trệ kinh tế. Sau đó, Tổng thống Liên Xô Mikhail Gorbachev đưa ra những cuộc cải cách tự do perestroika ("tái cơ cấu", "xây dựng lại", 1987) và glasnost ("mở cửa", khoảng năm 1985). Liên bang Xô viết sụp đổ năm 1991, khiến Hoa Kỳ còn lại là cường quốc quân sự có vị thế thống trị, và Nga sở hữu hầu hết kho vũ khí hạt nhân của Liên Xô.

Nguồn gốc thuật ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Việc sử dụng lần đầu tiên thuật ngữ Chiến tranh Lạnh [1] miêu tả những căng thẳng địa chính trị thời hậu Thế chiến II giữa Liên bang Xô viết và các Đồng minh Tây Âu của họ được gán cho Bernard Baruch, một nhà tài chính và là cố vấn tổng thống Hoa Kỳ.[2] Tại Nam Carolina, ngày 16 tháng 4 năm 1947, ông đã có bài phát biểu (theo nhà báo Herbert Bayard Swope)[3] nói rằng, "Hãy để chúng ta không bị lừa gạt: chúng ta hiện ở giữa một cuộc chiến tranh lạnh."[4] Nhà báo Walter Lippmann đã làm cho thuật ngữ được biết đến rộng rãi, với cuốn sách Cold War (1947).[5]

Trước đó, trong cuộc chiến, George Orwell đã sử dụng thuật ngữ Chiến tranh Lạnh trong tiểu luận "You and the Atomic Bomb" (Bạn và quả bom nguyên tử) được xuất bản ngày 19 tháng 10 năm 1945, trên tờ Tribune của Anh. Suy ngẫm về một thế giới sống dưới bóng của một mối đe doạ chiến tranh hạt nhân, ông đã cảnh báo về một "nền hoà bình không có hoà bình", mà ông gọi là một cuộc "chiến tranh lạnh" thường trực,[6] Orwell đã trực tiếp đề cập tới cuộc chiến tranh đó như là một sự đối đầu ý thức hệ giữa Liên bang Xô viết và các cường quốc phương Tây.[7] Hơn nữa, trong tờ The Observer xuất bản ngày 10 tháng 3 năm 1946, Orwell đã viết rằng "... sau hội nghị Moskva vào tháng 12 vừa rồi, Nga đã bắt đầu thực hiện một cuộc ‘chiến tranh lạnh’ với Anh và Đế chế Anh."[8]

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm thông tin: Lo sợ Đỏ
Quân đội Mỹ tại Vladivostok, tháng 8 năm 1918, khi Đồng Minh can thiệp vào cuộc Nội chiến Nga

Đã có một sự bất đồng trong giới sử học về điểm khởi đầu của Chiến tranh Lạnh. Trong khi hầu hết các nhà sử học coi nó bắt nguồn từ giai đoạn ngay sau Thế chiến II, những người khác cho rằng nó bắt đầu vào gần cuối Thế chiến I, dù những căng thẳng giữa Đế chế Nga, và các quốc gia châu Âu khác cùng Hoa Kỳ có từ giữa thế kỷ 19.[9]

Như một hậu quả của cuộc Cách mạng Bolshevik năm 1917 tại Nga (tiếp đó là sự rút lui của nước này khỏi Thế chiến I), nước Nga cảm thấy mình bị cô lập khỏi quan hệ ngoại giao quốc tế.[10] Lãnh tụ Vladimir Lenin đã nói rằng Liên bang Xô viết bị bao vây bởi một "vòng vây tư bản thù địch", và ông coi ngoại giao là một vũ khí để khiến các kẻ thù của Liên Xô bị chia rẽ, bắt đầu với việc thành lập Quốc tế Cộng sản Xô viết, kêu gọi những cuộc nổi dậy cách mạng ở nước ngoài.[11]

Lãnh tụ sau đó Joseph Stalin, người coi Liên bang Xô viết là một "hòn đảo xã hội chủ nghĩa", đã nói rằng Liên Xô phải thấy rằng "vòng vây chủ nghĩa tư bản hiện tại sẽ bị thay thế bởi một vòng vây xã hội chủ nghĩa."[12] Ngay từ năm 1925, Stalin đã nói rằng ông coi chính trị quốc tế là một thế giới lưỡng cực trong đó Liên bang Xô viết sẽ thu hút các quốc gia đang hướng theo chủ nghĩa xã hội và các quốc gia tư bản sẽ thu hút các quốc gia đang hướng theo chủ nghĩa tư bản, trong khi thế giới đang ở trong một giai đoạn "bình ổn tạm thời của chủ nghĩa tư bản" trước sự sụp đổ cuối cùng của nó.[13]

Nhiều sự kiện đã làm gia tăng sự nghi ngờ và không tin tưởng lẫn nhau giữa các cường quốc phương tây và Liên Xô: sự thách thức của những người Bolsheviks với chủ nghĩa tư bản;[14] việc Liên Xô tài trợ tổng đình công của công nhân Anh năm 1926 dẫn tới việc ngừng quan hệ giữa hai nước;[15] Tuyên bố năm 1927 của Stalin rằng sự cùng tồn tại hoà bình với "các quốc gia tư bản... đang trôi dần vào quá khứ";[16] những cáo buộc bí ẩn trong phiên xử án mẫu Shakhty về một cuộc đảo chính đã được lập kế hoạch do Pháp và Anh chỉ đạo;[17] cuộc Đại thanh trừng gây ra một loạt các chiến dịch đàn áp chính trị và truy tố trong đó hơn nửa triệu người Liên Xô đã bị hành quyết;[18] những vụ xử án điểm Moskva gồm cả những cáo buộc gián điệp của Pháp, Anh, Nhật và Đức;[19] cái chết gây tranh cãi của 6-8 triệu người tại Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Ukraina trong nạn đói Ukraina tháng 3 năm 1932; phương Tây ủng hộ Bạch vệ trong cuộc Nội chiến Nga; Hoa Kỳ từ chối công nhận Liên Xô cho tới tận năm 1933;[20] và việc Liên Xô tham gia Hiệp ước Rapallo.[21] Những việc này làm trở ngại các quan hệ Xô-Mỹ và là một vấn đề gây lo ngại dài lâu với các lãnh đạo ở cả hai nước.[9]

Thế chiến II và thời kỳ hậu chiến (1939–47)[sửa | sửa mã nguồn]

Hiệp ước Molotov-Ribbentrop (1939-41)[sửa | sửa mã nguồn]

Quan hệ của Liên Xô với phương Tây càng xấu đi khi, một tuần trước khi Thế chiến II nổ ra, Liên bang Xô viết và Đức ký Hiệp ước Molotov-Ribbentrop, với một thoả thuận bí mật phân chia Ba Lan và Đông Âu giữa hai nước.[22] Bắt đầu một tuần sau đó, vào tháng 9 năm 1939, Đức và Liên Xô phân chia Ba Lan và phần còn lại của Đông Âu thông qua một loạt các cuộc xâm lược vào các nước đã được nhượng cho nhau theo Hiệp ước.[23][24]

Trong một năm rưỡi tiếp theo, họ đã tham gia vào một mối quan hệ kinh tế trên diện rộng, trao đổi với nhau các vật liệu tối cần thiết cho cuộc chiến tranh[25][26] cho tới khi Đức phá vỡ Hiệp ước Molotov-Ribbentrop với Chiến dịch Barbarossa, cuộc xâm lược Liên Xô qua lãnh thổ hai quốc gia đã bị phân chia từ trước.[27]

Đồng minh chống Phe Trục (1941-45)[sửa | sửa mã nguồn]

Trong nỗ lực chiến tranh chung của mình, bắt đầu từ năm 1941, người Liên xô nghi ngờ rằng người Anh và người Mỹ đã âm mưu để người Liên xô phải chịu gánh nặng chiến đấu chống Phát xít Đức. Theo quan điểm này, các Đồng minh phương Tây đã cố tình trì hoãn việc mở một mặt trận chống Phát xít thứ hai nhằm chỉ tham chiến ở thời điểm cuối cùng và đặt ra những quy định cho hoà bình.[28] Vì thế, những nhận thức của Liên xô về phương Tây đã để lại một sự căng thẳng ngầm và thù địch mạnh giữa các cường quốc Đồng Minh.[29]

Hậu chiến và những mâu thuẫn ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Hội nghị Yalta

Hội nghị Yalta, diễn ra từ ngày 4 đến ngày 11 tháng 2 năm 1945, là cuộc gặp giữa tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt, thủ tướng Anh Winston ChurchillChủ tịch Liên Xô Iosif Vissarionovich StalinYalta (thuộc bán đảo Krym, Liên Xô). Nội dung của cuộc họp để bàn về tương lai hậu chiến của ĐứcBa Lan, cũng như việc tham chiến của Liên Xô ở mặt trận Thái Bình Dương.

Bộ ba Anh - Mỹ - Liên Xô đồng ý chia nước Đức dưới sự kiểm soát của Anh, Mỹ, Pháp và Liên Xô. Sau này ba phần của Anh, Mỹ, Pháp được nhập lại thành Tây Đức và phần của Liên Xô được gọi là Đông Đức. Stalin yêu cầu Đức bồi thường 20 tỷ đô la tiền chiến phí, nhưng bị bác bỏ tại hội nghị.

Ba nhà lãnh đạo phe Đồng Minh trong Thế chiến thứ hai

Lúc này, dù sao chiến tranh vẫn diễn ra ở mặt trận Thái Bình Dương (chủ yếu giữa quân Mỹ và phát xít Nhật). Roosevelt gợi ý Stalin tuyên chiến với Nhật, giúp Mỹ đánh đổ phát xít Nhật. Stalin đồng ý.

Ba Lan, dưới sự chi phối của Hồng quân Liên Xô, có lẽ gặp nhiều khó khăn nhất. Trong hội nghị, Stalin bác bỏ thỉnh cầu mang chính quyền Ba Lan về trạng thái trước thế chiến. Theo Stalin, Liên Xô sẽ cung cấp an ninh cần thiết cho Ba Lan. Ông đồng ý cho Ba Lan bầu cử tự do dựa trên nền tảng chính quyền cộng sản.

Sự thành lập của Liên Hiệp Quốc

Cũng tại hội nghị Yalta, bộ ba đồng ý thành lập Liên Hiệp Quốc. Một tổ chức tương tự Hội Quốc Liên cũng đã được thành lập sau Thế chiến thứ nhất, nhưng không hiệu quả về sau - có nhiều ý kiến cho rằng lý do là ở chỗ Mỹ không tham gia. Mục đích chủ yếu của Liên Hiệp Quốc là bảo đảm an ninh thế giới.

Nhiệm kỳ của Truman

Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt đột ngột qua đời vào ngày 12 tháng 4 năm 1945. Phó tổng thống Harry S. Truman lên thế (chú ý rằng đường lối của Truman ảnh hưởng nhiều đến cách chính sách của Mỹ thời hậu chiến và trong Chiến tranh Lạnh).

Hội nghị Potsdam

Truman gặp Stalin lần đầu là ở Hội nghị Potsdam (ngoại ô của Berlin) vào tháng 7 năm 1945. Đại diện cùa Anh lúc này là Clement Attlee, vừa đắc cử Thủ tướng ở Anh.

Hội nghị nhấn mạnh các vấn đề được đưa ra ở Hội nghị Yalta, trong đó có các vấn đề về tương lai của Đức và Ba Lan. Stalin tiếp tục yêu cầu bồi thường thiệt hại chiến tranh. Truman nhắc lại lời hứa hẹn của Stalin về bầu cử tự do tại Ba Lan.

Ở hội nghị, Truman cũng tuyên bố bom nguyên tử đã được thử nghiệm ở New Mexico, Stalin - mặc dù đã biết điều này thông qua các gián điệp ở Mỹ - gật đầu.

Bom nguyên tử có ý nghĩa lớn đối với Chiến tranh Lạnh, trong đó là sự chạy đua công nghệ nguyên tử giữa Mỹ và Liên Xô. Bom nguyên tử cũng được dùng đầu tiên trong chiến tranh ở Nhật theo yêu cầu của Truman.

Quan điểm của Liên Xô

Sau khi mất gần 22 triệu người trong cuộc chiến, Liên Xô muốn thành lập các quốc gia vệ tinh xung quanh họ vì vấn đề an ninh.

Ngoài ra, một trong những mục tiêu của xây dựng chủ nghĩa cộng sản là lan tư tưởng cộng sản ra khắp thế giới, loại bỏ chủ nghĩa tư bản, và nhiệm vụ của đảng cộng sản là thúc đẩy sự lan truyền đó.

Stalin bác bỏ những sự hợp tác với Ngân hàng Thế giớiQuỹ Tiền tệ Quốc tế. Vì nếu làm ngược lại, vô hình trung ông đang đóng góp vào sự lớn mạnh của chủ nghĩa tư bản. Stalin ủng hộ sự bành trướng chủ nghĩa cộng sản ở Tây Âuchâu Á sau này.

Liên bang Xô Viết và sự lớn mạnh của chủ nghĩa cộng sản[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Thế chiến thứ hai, Hồng quân Liên Xô giúp các nước Đông Âu thoát khỏi quân phát xít, đồng thời chính quyền theo đường lối cộng sản cũng được thiết lập tại các nước này.

Albania và Bulgaria

Albania, lực lượng cộng sản bị loại trừ vào những năm chiến tranh, sau này được Stalin thiết lập lại. Khi bầu cử diễn ra các năm sau đó, những nhà lãnh đạo chống cộng bị giữ im lặng.

Bulgaria, chủ nghĩa cộng sản được thiết lập từ năm 1944 đến 1948.

Tiệp Khắc

Tiệp Khắc có truyền thống chống lại chủ nghĩa cộng sản từ trước thế chiến. Trong cuộc bầu cử tự do năm 1946, các người lãnh đạo cộng sản giành được 40% tổng số. Sau này các đảng viên lên thay thế nhiều vị trí trong bộ Công an, cùng với sự hỗ trợ của Liên Xô, họ tổ chức các cuộc mít-tinh, đình công v.v. Đến năm 1948, Tiệp Khắc trở thành một nước vệ tinh của Liên Xô.

Hungary và Romania

Cuối năm 1945, tại Hungary các người cộng sản thất bại trong cuộc bầu cử, các lực lượng Xô Viết vẫn được giữ lại. Họ yêu cầu đưa đảng cộng sản lên nắm bộ Công an. Việc bắt bỏ những phần tử chống cộng có thể đã giúp các người cộng sản lên nắm chính quyền vào cuộc tái bầu cử năm 1947.

Hồng quân Liên Xô cũng được lưu lại ở România. Năm 1945, vua của Romania bị buộc phải phong quyền thủ tướng cho một người cộng sản, hai năm sau nhà vua bị buộc phải thoái vị.

Tây Đức

Các nhà lãnh đạo Đồng Minh muốn giúp Đức xây dựng lại đất nước, hàn gắn vết thương chiến tranh. Tuy nhiên Stalin, theo như ý ông, cho thiết lập chính quyền toàn quyền ở Tây Đức để nước Đức không thể là mối hiểm họa nữa (*).

Phần Lan và Nam Tư

Phần Lan được giữ độc lập với Liên Xô và ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản. 1948, Phần Lan ký ràng buộc không can thiệp chuyện ngoại quốc.

Nam Tư cũng tương đối độc lập khỏi sự ảnh hưởng của Liên Xô. Tuy nhiên quốc gia này dưới sự lãnh đạo của một nhà toàn quyền với tên Josip Broz, hay còn được biết đến như là Tito. 1948, Stalin muốn lật đổ Tito, nhưng thất bại.

Bức màn Sắt[sửa | sửa mã nguồn]

Trong một bài diễn văn vào tháng 2 năm 1946. Stalin khẳng định sự thành công của chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản sẽ bị đánh đổ. Mặc dù sẽ phải trải qua nhiều năm trước khi có đủ lực lượng vũ trang để đối đầu với Mỹ, Liên Xô vẫn cố ráo riết thúc đẩy sự lan truyền của chủ nghĩa cộng sản bằng cách thiết lập nền tảng ở các nước Tây Âu.

Một tháng sau, để đáp trả, Winston Churchill (lúc này không còn là thủ tướng, nhưng vẫn là một nhân vật có tiếng nói mạnh mẽ trong chính trị Anh) đưa ra ý kiến phản bác lại Stalin, và sự thành lập "Bức màn Sắt" là một biểu tượng cho sự chia cắt giữa hai hệ tư tưởng đối nghịch nhau ở châu Âu lúc này. Churchill cũng kêu gọi Mỹ tiếp tục ngăn chặn Stalin lôi các nước vào bên kia của bức màn, nơi chủ nghĩa cộng sản đang ngự trị.

Chính sách của Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Sau một bài phân tích của George Kennan, một nhà chính trị Mỹ ở Moskva, nội dung chủ yếu là chủ nghĩa cộng sản không thể bị đánh đổ một cách nhanh chóng, Mỹ thừa nhận việc thất bại của các nước Đông Âu vào tay của Liên Xô. Nhưng đồng thời cũng thúc giục những hành động giúp đẩy khỏi Tây Âu, kể cả ở Liên Xô. Mặc dù vậy, quan điểm của Kennan coi chủ nghĩa cộng sản như là "một hạt giống với mầm mống tự hủy" và sẽ tự sụp đổ.

Chính sách Truman[sửa | sửa mã nguồn]

12 tháng 3 năm 1947, đây là thời điểm cho Truman thực thi các chính sách của Mỹ. Từ năm 1945, Liên Xô đã đe dọa Thổ Nhĩ Kỳ. Đồng thời nội chiến diễn ra ở Hy Lạp có sự can thiệp của chủ nghĩa cộng sản đem đến nguy cơ hai nước này có thể sẽ trở thành hai nước vệ tinh của Liên Xô.

Sau những tổn thất của cuộc chiến, Anh không còn khả năng viện trợ cho Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỷ. Anh gợi ý Mỹ hỗ trợ họ.

Trong Chính sách Truman, vai trò lãnh đạo thế giới được giao cho Mỹ... chính sách này vô hình trung đẩy Mỹ vào các hành động trong cuộc chiến này.

"Hầu như mọi quốc gia đều phải chọn những cách sống khác nhau. Và sự lựa chọn thường không phải là một sự lựa chọn tự do. Một cách là dựa vào ý muốn của số đông... Cách thứ hai là dựa vào ý muốn của số ít một cách bắt buộc... Tôi tin tưởng rằng các đường lối của Mỹ là ủng hộ những con người tự do, những người đang chống lại sự phụ thuộc theo số ít (có vũ trang) hoặc bằng áp lực. Tôi tin tưởng rằng chúng ta phải giúp đỡ những con người tự do để họ quyết định số phận của mình bẳng những cách riêng của họ."

Chiến tranh Lạnh được "hâm nóng lên"[sửa | sửa mã nguồn]

Hai quả bom nguyên tử thả xuống Hiroshima và Nagasaki là một sự kiện rất quan trọng trong Thế chiến thứ hai và trong Chiến tranh Lạnh. Quan trọng ở chỗ nó mở ra một thời kỳ nguyên tử với sự xuất hiện của vũ khí tàn phá lớn. Nó cũng mở ra cuộc chạy đua về công nghệ nguyên tử gay gắt giữa Mỹ và Liên Xô.

Kế hoạch Marshall[sửa | sửa mã nguồn]

Sở dĩ Thế chiến thứ hai nổ ra cũng là do những kết quả của Thế chiến thứ nhất, là nghèo đói và thiếu ổn định về kinh tế ở các nước châu Âu. Để không tái diễn hiện trạng này, George C. Marshall phát thảo bản Kế hoạch Marshall, ủng hộ sự thành lập các chương trình phục hồi kinh tế cho châu Âu bằng cách gia cố nền dân chủ và nền thương mại tự do ở châu Âu sẽ giúp khắc phục các khó khăn, mở thị trường ra khắp thế giới.

Trong bài diễn văn ở Đại học Harvard vào tháng 6 năm 1947, Marshall phát biểu:

"Đây là một điều logic khi nước Mỹ nên làm bất cứ điều gì nó có thể để giúp đỡ nền kinh tế thế giới, đem lại trạng thái lành mạnh cho nó. Chính sách của chúng ta không chống lại một đất nước hay một chính sách nào khác. Chính sách của chúng ta chống lại nghèo đói, suy sụp, và hỗn loạn..."

Cùng với Chính sách Truman, Kế hoạch Marshall nhấn mạnh sự tự do trong kinh tế và sự viện trợ của Mỹ sẽ khắc phục các khó khăn lúc bấy giờ.

Viện trợ cho Tây Berlin[sửa | sửa mã nguồn]

Hiểu rằng Stalin sẽ không đồng ý thống nhất nước Đức, ba nước Anh-Pháp-Mỹ quyết định nhập ba vùng phụ thuộc vào, thành lập Cộng hòa Liên bang Đức (không phải Cộng hòa Liên bang Đức ngày nay), hay còn gọi là Tây Đức. Liên Xô thành lập Cộng hòa Dân chủ Đức, hay Đông Đức, dười sự lãnh đạo của đảng Cộng sản. Thủ đô của Đức – Berlin - tuy nằm trong lãnh thổ Đông Đức, bị chia cắt thành hai: Đông Berlin là thủ đô của Đông Đức và Tây Berlin là thủ đô của Tây Đức. Tuy nhiên, hàng trăm ngàn người bỏ trốn từ các nước Đông Âu sang Đông Berlin, rồi lần sang Tây Berlin và từ đó đi máy bay sang các nước như Mỹ, Canada hoặc Tây Âu để tìm tự do.

Stalin quyết định đóng con đường trốn chạy này và đóng các con đường giao thông vào Tây Berlin. Cuộc bủa vây này gây ra sự thiếu hụt lương thực và đồ tiêu dùng cho 2,5 triệu người ở Tây Berlin.

Truman không muốn đe dọa vũ trang để mở lại các mối giao thông vào Tây Berlin mà ông cũng không muốn Tây Berlin rơi vào tay của Liên Xô. Cho nên Truman quyết định các chiến dịch viện trợ cho Tây Berlin bằng cách thả hàng viện trợ xuống từ trên không.

Căn cứ không quân Rhein-Main của Mỹ giúp bảo tu các máy bay trong chiến dịch viện trợ Tây Đức

Trong vòng 15 tháng, quân đội Anh và Mỹ cung cấp 200.000 chuyến bay cung cấp lương thực, nhiên liệu. Mỗi ngày 13.000 tấn hàng hóa được viện trợ cho Tây Berlin.

Tháng 5 năm 1949, Stalin tháo bỏ lệnh phong tỏa Tây Berlin. Chiến dịch viện trợ của Anh-Mỹ ngừng vào tháng 9 cùng năm.

Điều này chứng tỏ một phần sự thành công của các chính sách Mỹ trong việc đem lại sự cân bằng về kinh tế của châu Âu.

Sự hình thành các khối liên hiệp[sửa | sửa mã nguồn]

NATO

Liên Hiệp Quốc là một ủy ban tín nhiệm trong việc giúp đỡ phục hồi kinh tế các nước trên thế giới. Tuy nhiên, Liên Xô cũng là một thành viên, nhiều chính sách đưa ra bị Liên Xô bác bỏ vì tin rằng nó là con bài cho sự bành trướng của Tư bản Phương tây. 1946, Louis St. Laurent, bộ trưởng bộ ngoại giao Canada đưa ra ý tưởng thành lập một khối dân chủ – chuộng hòa bình để giúp châu Âu chống lại những sự chi phối của Liên Xô. Các nhà lãnh đạo Mỹ tỏ ra quan tâm đến ý tưởng trên, mặc dù có người không đồng tình, cho rằng việc thành lập một ủy ban như vậy có thể dẫn đến chiến tranh. [Một trong những nguyên nhân mà hai cuộc chiến tranh thế giới xảy ra trên một mức độ liên quan tới nhiều quốc gia trên thế giới là sự thành lập các "khối" đối lập nhau. Tấn công vào một nước trong khối đồng nghĩa với tấn công toàn khối.]

Tháng 4 năm 1949, Canada, Mỹ tham gia với Bỉ, Anh, Đan Mạch, Pháp, Iceland, Ý, Luxembourg, Hà Lan, Na Uy, Bồ Đào Nha thành lập Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (North Atlantic Treaty Organization hay NATO).

Sự tham gia liên minh NATO có ý nghĩa lớn trong lịch sử Mỹ, chấm dứt chính sách cô lập của Mỹ đối với các vấn đề châu Âu. [Mỹ không có ý định can thiệp vũ trang vào hai cuộc chiến tranh thế giới cho tới khi có các đụng độ trên Đại Tây Dương giữa tàu dân sự Mỹ và tàu ngầm Đức, hiệp định Đức và Mexico trong Thế chiến thứ nhất và vụ tấn công Trân Châu Cảng trong Thế chiến thứ hai.]

Khối Warszawa

Tương tự, Liên Xô trả lời bằng cách thành lập khối Hiệp ước Warszawa (Организация Варшавского договора) gồm Liên Xô và các nước đồng minh trong phe xã hội chủ nghĩa ở châu Âu (Albania, Ba Lan, Hungary, Bulgaria, Cộng hoà dân chủ Đức, Tiệp Khắc, Romania).

Sự đối đầu giữa NATO và Khối Warszawa
  • Sự ra đời của NATO và khối Hiệp ước Warszawa đã đánh dấu sự xác lập của cục diện 2 cực, 2 phe. "Chiến tranh lạnh" đã bao trùm toàn thế giới.

Sự lớn mạnh của chủ nghĩa cộng sản[sửa | sửa mã nguồn]

Liên Xô và vũ khí hạt nhân

Năm 1949, Liên Xô thành công trong việc chế tạo vũ khí hạt nhân, xóa bỏ thế độc quyền về công nghệ hạt nhân của Hoa Kỳ. Để lấy lại ưu thế, Truman phê chuẩn việc nghiên cứu bom hạt nhân tại Hoa Kỳ.

Cũng vào thời điểm này, Truman thành lập Ủy ban An ninh Liên bang (Federal Civil Defense Administration) nhằm thành lập các phương tiện truyền thông cho nhân dân về việc đối phó với chiến tranh hạt nhân (thành lập hầm chống bom v.v.) nhưng thực tế không hiệu quả.

Trung Quốc về phe cộng sản

Sau khi chống lại Phát xít Nhật, uy tín của nhà lãnh đạo Đảng cộng sản Mao Trạch Đông lên cao. Mỹ giúp đỡ Tưởng Giới Thạch chống lại Mao Trạch Đông. Nhưng về sau Mỹ chấm dứt viện trợ vì cho rằng sự nắm quyền của Mao Trạch Đông là không thể tránh khỏi.

Chiến tranh Lạnh và nước Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Vảo khoảng thời kỳ khủng hoảng kinh tế thế giới, số lượng người Mỹ tham gia vào đảng cộng sản tăng lên, chủ yếu là do suy nghĩ rằng cuộc khủng hoảng trên là điểm yếu, là dấu hiệu sụp đổ của chủ nghĩa tư bản. Một lần nữa, "Nỗi sợ Đỏ" (Red Scare) – sợ những tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản - tồn tại trên đất Mỹ.

Mối đe dọa cộng sản sẽ lên nắm chính quyền ở Mỹ lên cao, điều này dẫn đến những cuộc chống cộng mang tính chất không đúng với bản chất của các tư tưởng Mỹ từ khi lập quốc.

Truman thành lập những chương trình chống các gián điệp của Liên Xô thâm nhập vào chính quyền của Mỹ... các chương trình này điều tra hàng triệu nhân viên chính phủ, tuy nhiên chỉ khoảng vài trăm người bị buộc từ chức.

Quốc hội Mỹ cũng có tổ chức riêng để bảo vệ an ninh quốc gia. HUAC (House Un-American Activities Committee - Ủy Ban Hạ Viện Kiểm Tra Hành Động Bất Hợp Hoa Kỳ) được thành lập năm 1938, giúp điều tra các phần tử không trung thành. Đặc biệt là Hollywood vì Hollywood được cho là có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư tưởng của nhân dân.

Chính sách McCarren-Walter: Cùng với Truman và Quốc hội Mỹ, thượng nghị sĩ Pat MacCarren đóng góp công cuộc chống cộng sản ở Mỹ. Tuy nhiên, theo ý kiến của ông, đa phần các phần tử không trung thành là thành phần nhập cư từ các vùng mà chủ nghĩa cộng sản đang thống trị.

McCarren thúc đẩy Quốc hội phê chuẩn bản hiệp định McCarren-Walter, trong đó gia hạn lại số lượng dân nhập cư cho phép. Truman phản bác, nhưng được sự ủng hộ của Quốc hội, bản hiệp ước được thông qua.

Xem thêm: Gián điệp Ethel và Julius Rosenberg

Chiến tranh Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời kỳ Thế chiến thứ hai, bán đảo Triều Tiên chịu sự cai trị của Phát xít Nhật, sau được Liên XôMỹ giải phóng. Tuy nhiên, đất nước Triều Tiên không được thống nhất mà bị chia ra làm hai phần, Bắc Triều Tiên dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản và Nam Triều Tiên theo đường lối tư bản, lấy vĩ tuyến 38 làm ranh giới.

Thập niên 1950[sửa | sửa mã nguồn]

Nếu như mục tiêu của Mỹ trong những năm đầu của Chiến tranh Lạnh là ngừng sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản, giai đọan này đối đầu với việc "đẩy lùi" chủ nghĩa đó. Tuy nhiên, tổng thống lúc bấy giờ, Dwight D. Eisenhower, muốn tránh các đụng chạm với Liên Xô.

Mỹ Latin[sửa | sửa mã nguồn]

Mỹ thiết lập các chế độ có lợi cho nền kinh tế của mình (Mỹ có nhiều đầu tư vào kinh tế của các nước Nam Mỹ).

1954, CIA cho rằng những nhà lãnh đạo của Guatemela ủng hộ những suy nghĩ sai lầm, và sau đó thay thế chính quyền ở đây..

Châu Á[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Chiến tranh Việt Nam

Eisenhower thành lập chiến dịch kết thúc Chiến tranh Triều Tiên. Viện trợ Pháp trong việc quản lý thuộc địa của họ ở Đông Dương, trong đó có Việt Nam, sau này viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa còn Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN thì viện trợ cho Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tại miền Bắc và Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng tại miền Nam.

Trung Đông[sửa | sửa mã nguồn]

Mỹ cũng thực hiện những kế hoạch để giúp các nước Ả Rập với nguồn dầu hỏa trù phú không rơi vào tay của Liên Xô (1952, cố gắng thiết lập lại chính quyền thân Mỹ).

1957, Eisenhower tuyên bố Chính sách Eisenhower, trong đó nói lên rằng Mỹ sẽ dùng vũ trang để bảo vệ nền tự chủ của một quốc gia hay một nhóm quốc gia ở Trung Đông trước sự đe dọa của các thái độ thù nghịch.

Cuộc chạy đua giữa Mỹ và Liên Xô[sửa | sửa mã nguồn]

Tên lửa Minuteman 3

Vào giai đoạn này, cuộc chay đua vũ trang giữa Mỹ và Liên Xô trở nên gay gắy và quyến liệt hơn.

Vũ khí hạt nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Đáng đề cập ở đây là sự thành công trong việc điều chế bom nhiệt hạch - hay còn gọi là bom H (với sức công phá có thể đạt gấp 1000 lần bom nguyên tử) của Liên Xô, chưa đầy 1 năm sau khi Mỹ cho nổ thử quả bom H đầu tiên. Trong khoảng 1954-1958, 19 quả bom H được Mỹ thử nghiệm.

Đây là sự đe dọa tàn phá toàn cầu bởi vũ khí hạt nhân.

Tên lửa liên lục địa[sửa | sửa mã nguồn]

Nói chung, Mỹ thua Liên Xô ở công nghệ tên lửa. Liên Xô hoàn thành tên lửa liên lục địa (thường chứa đầu đạn hạt nhân) đe dọa an ninh quốc phòng Mỹ. Lúc này nếu Mỹ muốn thâm nhập lãnh thổ của Liên Xô, các máy bay phải vượt qua hàng phòng thủ của Xô Viết với các tên lửa đất đối không. Vào tháng 5 năm 1960, Liên Xô hạ một chiếc máy bay U-2 (máy bay thám thính) của Mỹ trên bầu trời Xô Viết.

Công nghệ vũ trụ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1957, Xô Viết cho phóng vệ tinh nhân tạo Sputnik. Mỹ e sợ tiếp theo họ có thể cải tiến Sputnik thành những công cụ giúp tấn công nước Mỹ từ trên không.

Ở Mỹ, song song với việc đầu tư vào công nghệ không gian như phát triển vệ tinh v.v. Mỹ cũng có những kế hoạch bí mật phát triển các khinh khí cầu gián điệp, đĩa bay (Kế hoạch Mogul...)

Vào tháng 12 năm 1968, Hoa Kỳ dẫn đầu trong Cuộc đua vũ trụ khi James Lovell, Frank Borman và Bill Anders bay vòng quanh Mặt Trăng. Họ trở thành những người đầu tiên ăn mừng Giáng sinh trong không gian và vài ngày sau đó hạ cánh an toàn. Người Mỹ Neil Armstrong trở thành người đầu tiên bước trên bề mặt của Mặt Trăng vào 21 tháng 7 năm 1969.

Chiến tranh Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh lạnh[sửa | sửa mã nguồn]

Kết quả tại chiến tranh Việt Nam thể hiện được một phần của cuộc Chiến tranh Lạnh, tuy nhiên điều này không được thể hiện rõ ràng vì ngoài cuộc chiến giữa hai phe chủ nghĩa xã hội và tư bản chủ nghĩa ra, nó còn thể hiện là một cuộc chiến nhằm thống nhất và giành độc lập dân tộc. Tinh thần độc lập dân tộc là yếu tố cơ bản giúp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chiến thắng chứ không phải nhờ ưu thế tư tưởng hay quân sự. Bản thân Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là một tổ chức đoàn kết rộng rãi, không chỉ những người cộng sản mà còn cả những thành phần dân tộc chủ nghĩa chống lại sự hiện diện của ngoại bang là Hoa Kỳ. Trung Quốc, đồng minh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã từng đề nghị đem quân sang trực tiếp chiến đấu như ở Triều Tiên, song các lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã từ chối với lý do "nợ tiền của thì sẽ trả được chứ nợ xương máu thì không thể trả được",[cần dẫn nguồn] hàm ý nếu cho phép Trung Quốc tham chiến, một quân đội ngoại bang giống Hoa Kỳ, sẽ làm mất đi tính chất giải phóng dân tộc của cuộc chiến.

Miền Bắc đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, về cơ bản vẫn là một quốc gia lạc hậu hơn so với quốc gia cùng phe, trong khi đó miền Nam đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Trong thập niên 50, 60 nền kinh tế của miền Nam có đạt được một số thành tựu phát triển nhất định, song nói chung vẫn lạc hậu so với các nước tư bản phương Tây, vẫn phải phụ thuộc đáng kể vào viện trợ.

Việc phân chia hai miền Bắc Nam Việt Nam trong suốt thời kỳ Chiến Tranh Lạnh lại được cả hai cường quốc lúc bấy giờ là Liên Xô và Hoa Kỳ đưa ra những nhận định khác nhau. Hoa Kỳ cho rằng sự tham chiến của quân đội Mỹ, viện trợ chiến phí cho Pháp và sau đó là Việt Nam Cộng hòa là để ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam nói riêng cũng như tại Châu Á nói chung theo thuyết Domino của Hoa Kỳ. Đó cũng chính là lý do quân đội Mỹ can thiệp ngày càng sâu vào chiến tranh tại Việt Nam cũng như trực tiếp đưa quân đội tham chiến trên chiến trường. Liên Xô thì cho rằng việc họ làm là muốn giúp nhân dân Việt Nam nói riêng (cũng như các nước thế giới thứ ba nói chung) giành độc lập và chống lại chủ nghĩa thực dân mới của tư bản phương Tây, điều mà họ đã làm trong suốt Chiến tranh Đông Dương trước đó. Liên Xô đã ra sức giúp đỡ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vũ khí, cố vấn huấn luyện... nhằm ủng hộ công cuộc đấu tranh giành độc lập đất nước của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Như vậy có thể nói tính chất của Chiến tranh Việt Nam là đa diện. Đối với đại đa số người Việt Nam, mục tiêu của cuộc chiến là nhằm giành độc lập dân tộc trước sự can thiệp và chia cắt đất nước đến từ Hoa Kỳ. Còn với Hoa Kỳ, đó là tuyến đầu để họ thể hiện tiềm lực trước Liên Xô trong thời kỳ từ năm 1955 đến 1975.

Chấm dứt Chiến tranh Lạnh (1985–91)[sửa | sửa mã nguồn]

Mikhail Gorbachev và Ronald Reagan ký Hiệp ước các Lực lượng Hạt nhân Tầm trung tại Nhà Trắng, 1987

Những cuộc cải cách của Gorbachev[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm thông tin: Mikhail Gorbachevperestroika, và glasnost

Tới khi Mikhail Gorbachev là người khá trẻ lên làm Tổng bí thư năm 1985, nền kinh tế Liên xô đang ở trong tình trạng trì trệ và phải đối mặt với sự giảm sút mạnh từ nguồn thu ngoại tệ nước ngoài vì sự sụt giá dầu mỏ trong thập niên 1980.[30] Những vấn đề này khiến Gorbachev đầu tư vào các biện pháp nhằm khôi phục đất nước đang ốm yếu.[30]

Một sự khỏi đầu không hiệu quả đã dẫn tới kết luận rằng những thay đổi cơ cấu mạnh hơn là cần thiết và vào tháng 6 năm 1987 Gorbachev thông báo một kế hoạch cải cách kinh tế được gọi là perestroika, hay tái cơ cấu.[31] Perestroika giảm bớt hệ thống sản xuất theo hạn ngạch, cho phép sự sở hữu tư nhân với các doanh nghiệp và mở đường cho đầu tư nước ngoài. Các biện pháp đó có mục đích tái định hướng các nguồn tài nguyên quốc gia từ những cam kết quân sự đắt giá thời Chiến tranh Lạnh sang những khu vực công cộng có hiệu quả lớn hơn.[31]

Dù có thái độ hoài nghi ban đầu ở phương Tây, nhà lãnh đạo mới của Liên xô đã chứng minh sự kiên quyết đảo ngược điều kiện kinh tế đang xấu đi của Liên xô thay vì tiếp tục cuộc chạy đua vũ trang với phương Tây.[32] Một phần là một cách để chống sự đối lập bên trong với những cuộc cải cách của mình, Gorbachev đồng thời đưa ra glasnost, hay mở cửa, tăng cường tự do cho báo chí và sự minh bạch hoá các định chế nhà nước.[33] Glasnost có mục đích làm giảm tham nhũng ở trên thượng tầng Đảng Cộng sản và giảm bớt sự lạm dụng quyền lực bên trong Uỷ ban Trung ương.[34] Glasnost cũng cho phép sự tăng cường tiếp xúc giữa các công dân Liên xô và thế giới phương Tây, đặc biệt với Hoa Kỳ, góp phần vào việc đẩy nhanh sự giảm căng thẳng giữa hai nước.[35]

Sự tan băng trong mối quan hệ[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm thông tin: Hội nghị thượng đỉnh ReykjavíkHiệp ước các Lực lượng Hạt nhân Tầm trungSTART I, và HIệp ước về sự Giải quyết Cuối cùng về nước Đức

Trước những nhượng bộ về quân sự và chính trị của Kremlin, Reagan đồng ý tại lập các cuộc đàm phán về các vấn đề kinh tế và giảm mức độ chạy đua vũ trang.[36] Cuộc đàm phán đầu tiên được tổ chức vào tháng 11 năm 1985 tại Geneva, Thuỵ Sĩ.[36] Ở một cuộc gặp, hai nhà lãnh đạo, chỉ với một người phiên dịch tháp tùng, đã ồng ý về nguyên tắc giảm bớt 50% kho vũ khí hạt nhân của mỗi nước.[37]

Liên Xô rút quân khỏi Afghanistan năm 1988

Một Hội nghị thượng đỉnh Reykjavík thứ hai được tổ chức tại Iceland. Những cuộc đàm phán diễn ra tốt đẹp cho tới khi sự tập trung chuyển sang đề xuất của Reagan về Sáng kiến Phòng thủ Chiến lược, mà Gorbachev muốn bị loại bỏ: Reagan đã từ chối.[38] Những cuộc đàm phán thất bại, nhưng một cuộc họp thượng đỉnh thứ ba năm 1987 đã dẫn tới một bước đột phá với việc ký kết Hiệp ước các Lực lượng Hạt nhân Tầm trung (INF). Hiệp ước INF loại bỏ mọi loại vũ khí hạt nhân, được phóng từ tên lửa đạn đạo mặt đất và tên lửa hành trình với tầm bắn trong khoảng 500 tới 5,500 kilômét (300 tới 3,400 dặm) và cơ sở hạ tầng phục vụ nó.[39]

Căng thẳng Đông-Tây nhanh chóng giảm xuống từ giữa cho tới cuối thập niên 1980, ở mức thấp nhất tại cuộc họp thượng đỉnh cuối cùng tại Moskva năm 1989, khi Gorbachev và George H. W. Bush ký hiệp ước kiểm soát vũ khí START I.[40] Trong năm tiếp sau mọi điều trở nên rõ ràng với người Liên xô rằng các khoản trợ cấp dầu mỏ và khí đốt, cùng với chi phí cho việc duy trì một quân đội to lớn, là cái phễu khổng lồ làm thất thoát đi các nguồn tài nguyên kinh tế.[41] Ngoài ra, ưu thế an ninh của một vùng đệm đã được công nhận là không thích hợp và người Liên xô chính thức tuyên bố rằng họ không còn can thiệp vào công việc của các quốc gia đồng minh ở Đông Âu nữa.[42]

Năm 1989, các lực lượng Liên Xô rút khỏi Afghanistan[43] và tới năm 1990 Gorbachev đồng ý với việc thống nhất nước Đức,[41] khả năng thay thế duy nhất là một kịch bản kiểu vụ Thiên An Môn.[44] Khi bức tường Berlin bị phá bỏ, ý tưởng "Ngôi nhà Chung châu Âu" của Gorbachev bắt đầu thành hình.[45]

Ngày 3 tháng 12 năm 1989, Gorbachev và người kế tục Reagan, George H. W. Bush, tuyên bố cuộc Chiến tranh Lạnh đã chấm dứt tại Hội nghị thượng đỉnh Malta;[46] một năm sau, hai đối thủ cũ là các đối tác trong cuộc Chiến tranh vùng Vịnh chống lại đồng minh lâu đời của Liên xô Iraq.[47]

Sự dao động của hệ thống Xô viết[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm thông tin: Kinh tế Liên xôCác cuộc cách mạng năm 1989, và Con đường Baltic

Tới năm 1989, hệ thống liên minh của Liên xô đã trên bờ vực sụp đổ, và không có sự hỗ trợ quân sự của Liên xô, các lãnh đạo cộng sản tại các nhà nước thuộc Khối hiệp ước Warsaw dần mất quyền lực.[43] Ở chính bên trong Liên xô, glasnost đã làm yếu đi các liên kết giữ chặt Liên bang Xô viết[42] và tới tháng 2 năm 1990, với sự giải tán Liên xô đang dần hiện ra, Đảng Cộng sản buộc phải trao lại độc quyền lực kéo dài 73 năm của mình.[48]

Cùng lúc ấy, tự do báo chí và sự bất đồng được cho phép bởi glasnost và sự gia tăng "vấn đề tính chất quốc gia" dần khiến các nước cộng hoà tạo thành Liên bang Xô viết tuyên bố tự trị khỏi Moskva, với việc các quốc gia vùng Baltic rút lui hoàn toàn khỏi Liên xô.[49] Làn sóng cách mạng năm 1989 quét qua khắp Trung và Đông Âu đã lật đổ các nhà nước cộng sản kiểu Liên xô, như Ba Lan, Hungary, Tiệp Khắc và Bulgaria,[50] Romania là nước duy nhất thuộc Khối Đông Âu lật đổ chính quyền theo cách bạo lực và đã hành quyết vị lãnh đạo nhà nước.[51]

Giải tán Liên Xô[sửa | sửa mã nguồn]

Thái độ thoải mái của Gorbachev với Đông Âu ban đầu không có trên lãnh thổ Liên xô, thậm chí Bush, người cố gắng duy trì các quan hệ thân thiện, cũng lên án các vụ giết hại vào tháng 1 năm 1991 tại LatviaLithuania, cảnh báo riêng rằng các mối quan hệ kinh tế có thể bị đóng băng nếu tình trạng bạo lực tiếp diễn.[52] Liên bang Xô viết đã bị suy yếu thật sự sau một đảo chính thất bại và số lượng ngày càng tăng các nước cộng hoà Xô viết, đặc biệt là Nga, đã từng đe doạ ly khai khỏi Liên Xô, tuyên bố giải tán nó vào ngày 25 tháng 12 năm 1991.[53]

Di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Sự thành lập Cộng đồng các quốc gia độc lập, sự chính thức chấm dứt của Liên bang Xô viết

Được thành lập ngày 21 tháng 12 năm 1991, Cộng đồng các quốc gia độc lập được coi là thực thể kế tục của Liên xô nhưng theo các lãnh đạo Nga mục tiêu của nó là "cho phép một cuộc hôn nhân văn minh" giữa các nước cộng hoà xô viết và liên kết chúng vào một liên minh lỏng lẻo.[54]

Sau Chiến tranh Lạnh, Nga cắt giảm mạnh chi tiêu quân sự, nhưng sự thay đổi gây tác động mạnh, bởi lĩnh vực công nghiệp quân sự trước kia sử dụng tới một phần năm lực lượng lao động Liên xô[55] và việc giải giáp khiến hàng triệu công dân Liên xô cũ rơi vào cảnh thất nghiệp.[55] Sau khi Nga thực hiện các cuộc cải cách kinh tế kiểu tư bản trong thập niên 1990, nó đã phải hứng chịu một cuộc khủng hoảng tài chính và một thời gian giảm phát nghiêm trọng hơn Hoa Kỳ và Đức từng phải đối mặt trong cuộc Đại giảm phát.[56] Tiêu chuẩn sống tại Nga đã sút giảm đi trong những năm thời hậu Chiến tranh Lạnh, dù nền kinh tế đã bắt đầu tăng trưởng trở lại từ năm 1999.[56]

Di sản của cuộc Chiến tranh Lạnh tiếp tục ảnh hưởng tới các vấn đề thế giới.[14] Sau sự giải tán Liên xô, thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh bị đa số mọi người coi là đơn cực, với Hoa Kỳ là siêu cường duy nhất.[57][58][59] Chiến tranh Lạnh đã định nghĩa vai trò chính trị của Hoa Kỳ trên thế giới thời hậu Thế chiến II: tới năm 1989 Hoa Kỳ có các liên minh quân sự với 50 quốc gia, và có 1.5 triệu quân đồn trú ở nước ngoài tại 117 quốc gia.[60] Chiến tranh Lạnh cũng đã định chế hoá một cam kết quốc tế với một nền công nghiệp quân sựchi tiêu cho khoa học quân sự to lớn và thường xuyên.[60]

Chi phí quân sự của Hoa Kỳ trong những năm Chiến tranh Lạnh được ước tính là $8 nghìn tỷ, trong khi gần 100.000 người Mỹ thiệt mạng trong Chiến tranh Triều TiênChiến tranh Việt nam.[61] Dù sự thiệt hại nhân mạng của binh sĩ Liên xô khó được tính toán, phần trăm trong Tổng sản lượng quốc gia của Liên xô chi cho cuộc chiến lớn hơn rất nhiều so với Mỹ.[62]

Ngoài sự thiệt mạng của những binh sĩ mặc quân phục, hàng triệu người đã chết trong các cuộc chiến tranh uỷ nhiệm của các siêu cường trên khắp thế giới, đáng kể nhất là tại Đông Nam Á.[63] Đa số các cuộc chiến tranh uỷ nhiệm và các khoản viện trợ cho các cuộc xung đột địa phương đã chấm dứt cùng với Chiến tranh Lạnh, những cuộc chiến tranh giữa các quốc gia, các cuộc chiến tranh sắc tộc, các cuộc chiến tranh cách mạng, cũng như số người tị nạn và những người phải rời bỏ nhà cửa trong các cuộc khủng hoảng đã giảm mạnh ở những năm sau cuộc Chiến tranh Lạnh.[64]

Không một huy chương chiến dịch riêng biệt nào đã được tạo ra cho cuộc Chiến tranh Lạnh, tuy nhiên, vào năm 1998, Quốc hội Hoa Kỳ đã cấp Chứng nhận Ghi công thời Chiến tranh Lạnh "cho mọi thành viên các lực lượng vũ trang và những nhân viên dân sự của chính phủ liên bang đã phục vụ trung thành và xứng đáng Hợp chúng quốc Hoa Kỳ ở bất kỳ thời điểm nào trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, được định nghĩa là từ ngày 2 tháng 9 năm 1945 tới ngày 26 tháng 12 năm 1991." [65]

Tuy nhiên, di sản của cuộc Chiến tranh Lạnh không phải luôn dễ dàng bị xoá bỏ, bởi nhiều căng thẳng kinh tế và xã hội đã bị khai thác làm lý do cho cuộc cạnh tranh thời Chiến tranh Lạnh ở nhiều nơi thuộc Thế giới thứ ba vẫn còn sâu sắc.[14] Sự tan rã quyền quản lý nhà nước ở một số khu vực trước kia thuộc các chính phủ cộng sản đã tạo ra các cuộc xung đột dân sự và sắc tộc mới, đặc biệt là tại Nam Tư cũ.[14] Ở Đông Âu, sự kết thúc Chiến tranh Lạnh đã dẫn tới một thời kỳ tăng trưởng kinh tế và một sự tăng trưởng mạnh các chế độ dân chủ tự do, trong khi ở nhiều nơi khác trên thế giới, như Afghanistan, độc lập đi liền với sự phá sản nhà nước.[14]

Chép sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay khi thuật ngữ "Chiến tranh Lạnh" trở nên phổ thông trong việc đề cập tới những căng thẳng thời hậu chiến giữa Hoa Kỳ và Liên bang Xô viết, việc giải thích quá trình và các nguyên nhân cuộc xung đột là đã nguồn gốc của một cuộc tranh cãi dữ dội giữa các nhà sử học, các nhà khoa học chính trị và các nhà báo.[66] Đặc biệt, các nhà sử học có sự bất đồng mạnh với việc quy trách nhiệm cho ai về sự tan vỡ quan hệ Liên xô-Hoa Kỳ sau Thế chiến II; và liệu cuộc xung đột giữa hai siêu cường là không thể tránh khỏi, hay có thể tránh được.[67] Các nhà sử học cũng không đồng ý về việc chính xác cuộc Chiến tranh Lạnh là gì, các nguồn gốc cuộc xung đột là gì, và làm sao để gỡ rối các hình mẫu hành động và phản ứng giữa hai bên.[14]

Dù những giải thích về nguồn gốc cuộc xung đột trong các cuộc tranh luận hàn lâm là phức tạp và trái ngược, nhiều trường phái tư tưởng chính về chủ đề có thể được xác định. Các nhà sử học thường nói về ba cách tiếp cận khác nhau tới việc nghiên cứu Chiến tranh Lạnh: các tường thuật "chính thống", "xét lại", và "hậu xét lại".[60]

Những tường thuật "chính thống" áp đặt trách nhiệm về cuộc Chiến tranh Lạnh cho Liên xô và sự mở rộng của nó vào Đông Âu.[60] Các tác gia "xét lại" quy nhiều trách nhiệm về việc làm tan vỡ hoà bình thời hậu chiến cho Hoa Kỳ, viện dẫn một loạt nỗ lực của Hoa Kỳ nhằm cô lập và đe doạ Liên xô từ trước khi Thế chiến II chấm dứt.[60] Những người theo phái "hậu xét lại" xem xét các sự kiện của Chiến tranh Lạnh dưới nhiều góc độ hơn, và cố gắng cân bằng hơn trong việc xác định điều gì đã xảy ra trong Chiến tranh Lạnh.[60] Đa số việc chép sử về Chiến tranh Lạnh sử dụng hai hay thậm chí cả ba tiêu chí lớn đó.[cần dẫn nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ ""Cold War" – noun... (3) (initial capital letters) rivalry after World War II between the Soviet Union and its satellites and the democratic countries of the Western world, under the leadership of the United States." Dictionary, unabridged, based on the Random House Dictionary, 2009
  2. ^ Gaddis 2005, tr. 54
  3. ^ Safire, William (1 tháng 10 năm 2006). “Islamofascism Anyone?”. The New York Times (The New York Times Company). Truy cập 25 tháng 12 năm 2008. 
  4. ^ 'Bernard Baruch coins the term "Cold War"', history.com, 16 tháng 4 năm 1947. Truy cập 2 tháng 7 năm 2008.
  5. ^ Lippmann, Walter (1947). Cold War. Harper. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2008. 
  6. ^ Kort, Michael (2001). The Columbia Guide to the Cold War. Columbia University Press. tr. 3. 
  7. ^ Geiger, Till (2004). Britain and the Economic Problem of the Cold War. Ashgate Publishing. tr. 7. 
  8. ^ Orwell, George, The Observer, 10 tháng 3 năm 1946
  9. ^ a ă Gaddis 1990, tr. 57
  10. ^ Lee 1999, tr. 57
  11. ^ Tucker 1992, tr. 34
  12. ^ Tucker 1992, tr. 46
  13. ^ Tucker 1992, tr. 47-8
  14. ^ a ă â b c d Halliday 2001, tr. 2e
  15. ^ Tucker 1992, tr. 74
  16. ^ Tucker 1992, tr. 75
  17. ^ Tucker 1992, tr. 98
  18. ^ Communism: A History (Modern Library Chronicles) by Richard Pipes, pg 67
  19. ^ Christenson 1991, tr. 308
  20. ^ Lefeber, Fitzmaurice & Vierdag 1991, tr. 194–197
  21. ^ Leffler 1992, tr. 21
  22. ^ Day, Alan J.; East, Roger; Thomas, Richard. A Political and Economic Dictionary of Eastern Europe, pg. 405
  23. ^ Roberts 2006, tr. 43-82
  24. ^ Kennedy-Pipe, Caroline, Stalin's Cold War, New York: Manchester University Press, 1995, ISBN 0-7190-4201-1
  25. ^ Ericson 1999, tr. 1-210
  26. ^ Shirer 1990, tr. 598-610
  27. ^ Roberts 2006, tr. 82
  28. ^ Gaddis 1990, tr. 151
  29. ^ Gaddis 1990, tr. 151–153
  30. ^ a ă LaFeber 2002, tr. 331–333
  31. ^ a ă Gaddis 2005, tr. 231–233
  32. ^ LaFeber 2002, tr. 300–340
  33. ^ Gibbs 1999, tr. 7
  34. ^ Gibbs 1999, tr. 33
  35. ^ Gibbs 1999, tr. 61
  36. ^ a ă Gaddis 2005, tr. 229–230
  37. ^ 1985: "Superpowers aim for 'safer world'", BBC News, 21 tháng 11 năm 1985. Truy cập 4 tháng 7 năm 2008.
  38. ^ “Toward the Summit; Previous Reagan-Gorbachev Summits”. The New York Times. 29 tháng 5 năm 1988. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2008. 
  39. ^ “Intermediate-Range Nuclear Forces”. Federation of American Scientists. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2008. 
  40. ^ Gaddis 2005, tr. 255
  41. ^ a ă Shearman 1995, tr. 76
  42. ^ a ă Gaddis 2005, tr. 248
  43. ^ a ă Gaddis 2005, tr. 235–236
  44. ^ Shearman 1995, tr. 74
  45. ^ “Address given by Mikhail Gorbachev to the Council of Europe”. Centre Virtuel de la Connaissance sur l'Europe. 6 tháng 7 năm 1989. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2007. 
  46. ^ Malta summit ends Cold War, BBC News, 3 tháng 12 năm 1989. Truy cập 11 tháng 6 năm 2008.
  47. ^ Goodby, p. 26
  48. ^ Gorbachev, pp. 287, 290, 292
  49. ^ Gaddis 2005, tr. 253
  50. ^ Lefeber, Fitzmaurice & Vierdag 1991, tr. 221
  51. ^ Gaddis 2005, tr. 247
  52. ^ Goldgeier, p. 27
  53. ^ Gaddis 2005, tr. 256–257
  54. ^ Soviet Leaders Recall ‘Inevitable’ Breakup Of Soviet Union, Radio Free Europe/Radio Liberty, 8 tháng 12 năm 2006. Truy cập 20 tháng 5 năm 2008.
  55. ^ a ă Åslund, p. 49
  56. ^ a ă Nolan, pp. 17–18
  57. ^ Country profile: United States of America. BBC News. Truy cập 11 tháng 3 năm 2007
  58. ^ Nye, p. 157
  59. ^ Blum 2006, tr. 87
  60. ^ a ă â b c d Calhoun, Craig (2002). “Cold War (entire chapter)”. Dictionary of the Social Sciences. Oxford University Press. ISBN 0195123719. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2008. 
  61. ^ LaFeber 2002, tr. 1
  62. ^ Gaddis 2005, tr. 213
  63. ^ Gaddis 2005, tr. 266
  64. ^ Monty G. Marshall and Ted Gurr, Peace and Conflict 2005 (PDF), Center for Systemic Peace (2006). Truy cập 14 tháng 6 năm 2008.
  65. ^ “Cold War Certificate Program” (PDF). Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2009. 
  66. ^ Nashel, Jonathan (1999). “Cold War (1945–91): Changing Interpretations (entire chapter)”. Trong Whiteclay Chambers, John. The Oxford Companion to American Military History. Oxford University Press. ISBN 0195071980. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2008. 
  67. ^ Brinkley, pp. 798–799

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Andrew, Christopher; Mitrokhin, Vasili (2000). The Sword and the Shield: The Mitrokhin Archive and the Secret History of the KGB. Basic Books. ISBN 0585418284. 
  • Åslund, Anders (1990). “How small is the Soviet National Income?”. Trong Rowen, Henry S.; Wolf, Charles Jr. The Impoverished Superpower: Perestroika and the Soviet Military Burden. California Institute for Contemporary Studies. ISBN 1558150668. 
  • Blum, William (2006), Rogue State: A Guide to the World's Only Superpower, Zed Books, ISBN 1842778277
  • Bourantonis, Dimitris (1996), A United Nations for the Twenty-first Century: Peace, Security, and Development, Martinus Nijhoff Publishers, ISBN 9041103120
  • Breslauer, George (2002). Gorbachev and Yeltsin as Leaders. Cambridge University Press. ISBN 0521892449. 
  • Brinkley, Alan (1995). American History: A Survey. McGraw-Hill. ISBN 0079121195. 
  • Buchanan, Tom (2005). Europe's Troubled Peace, 1945-2000. Blackwell Publishing. ISBN 0631221638. 
  • Byrd, Peter (2003). “Cold War”. Trong Iain McLean & Alistair McMillan. The Concise Oxford Dictionary of Politics. Oxford University Press. ISBN 0192802763. 
  • Calhoun, Craig (2002). Dictionary of the Social Sciences. Oxford University Press. ISBN 0195123719. 
  • Carabott, Philip & Thanasis Sfikas (2004), The Greek Civil War: Essays on a Conflict of Exceptionalism and Silences, Ashgate Publishing, Ltd., ISBN 0754641317
  • Christenson, Ron (1991). Political trials in history: from antiquity to the present. Transaction Publishers. ISBN 0887384064. 
  • Cowley, Robert (1996), The Reader's Companion to Military History, Houghton Mifflin Books, ISBN 0618127429
  • Crocker, Chester; Fen Hampson & Pamela Aall (2007), Leashing the Dogs of War: Conflict Management in a Divided World, US Institute of Peace Press, ISBN 192922396X
  • Dowty, Alan (1989), Closed Borders: The Contemporary Assault on Freedom of Movement, Yale University Press, ISBN 0300044984
  • Dobrynin, Anatoly (2001), In Confidence: Moscow's Ambassador to Six Cold War Presidents, University of Washington Press, ISBN 0295980818
  • Edelheit, Hershel and Abraham (1991). A World in Turmoil: An Integrated Chronology of the Holocaust and World War II. Greenwood Publishing Group. ISBN 0313282188. 
  • Ericson, Edward E. (1999), Feeding the German Eagle: Soviet Economic Aid to Nazi Germany, 1933–1941, Greenwood Publishing Group, ISBN 0275963373
  • Feldbrugge, Joseph; van den Berg, Gerard; Simons, William (1985). Encyclopedia of Soviet Law. BRILL. ISBN 9024730759. 
  • Friedman, Norman (2007). The Fifty-Year War: Conflict and Strategy in the Cold War. Naval Institute Press. ISBN 1591142873. 
  • Gaddis, John Lewis (1990), Russia, the Soviet Union and the United States. An Interpretative History, McGraw-Hill, ISBN 0075572583
  • Gaddis, John Lewis (1997). We Now Know: Rethinking Cold War History. Oxford University Press. ISBN 0198780702. 
  • Gaddis, John Lewis (2005), The Cold War: A New History, Penguin Press, ISBN 1594200629
  • Gaidar, Yegor (2007). Collapse of an Empire: Lessons for Modern Russia (bằng tiếng Nga). Brookings Institution Press. ISBN 5824307598. 
  • Garthoff, Raymond (1994), Détente and Confrontation: American-Soviet Relations from Nixon to Reagan, Brookings Institution Press, ISBN 0815730411
  • Gibbs, Joseph (1999), Gorbachev's Glasnost, Texas University Press, ISBN 0890968926
  • Glees, Anthony (1996). Reinventing Germany: German Political Development Since 1945. Berg Publishers. ISBN 1859731856. 
  • Goldgeier, James; McFaul, Michael (2003). Power and Purpose: US Policy toward Russia after the Cold War. Brookings Institution Press. ISBN 0815731744. 
  • Goodby, James; Morel, Benoit (1993). The Limited Partnership: Building a Russian-US Security Community. Oxford University Press. ISBN 0198291612. 
  • Gorbechev, Mikhail (1996). Memoirs. Doubleday. ISBN 0385480199. 
  • Hahn, Walter (1993), Paying the Premium: A Military Insurance Policy for Peace and Freedom, Greenwood Publishing Group, ISBN 0313288496
  • Halliday, Fred (2001), Krieger, Joel & Crahan, Margaret E., ed., Cold War, Oxford University Press, ISBN 0195117395
  • Hanhimaki, Jussi; Westad, Odd Arne (2003). The Cold War: A History in Documents and Eyewitness Accounts. Oxford University Press. ISBN 0199272808. 
  • Harrison, Hope Millard (2003), Driving the Soviets Up the Wall: Soviet-East German Relations, 1953-1961, Princeton University Press, ISBN 0691096783
  • Hardt, John Pearce & Richard F. Kaufman (1995), East-Central European Economies in Transition, M.E. Sharpe, ISBN 1563246120
  • Higgs, Robert (2006), Depression, War, and Cold War: Studies in Political Economy, Oxford University Press US, ISBN 0195182928
  • Hobsbawn, Eric (1996). The Age of Extremes: A History of the World, 1914-1991. Vintage Books. ISBN 0679730052. 
  • Isby, David C. & Charles Jr Kamps (1985), Armies of NATO's Central Front, Jane's Publishing Company Ltd, ISBN 071060341X
  • Jacobs, Dale (2002). World Book: Focus on Terrorism. World Book. ISBN 071661295X. 
  • Joshel, Sandra (2005). Imperial Projections: Ancient Rome in Modern Popular Culture. JHU Press. ISBN 0801882680. 
  • Karabell, Zachary (1999), Chambers, John Whiteclas, ed., Cold War (1945–91): External Course, Oxford University Press, ISBN 0195071980
  • Karaagac, John (2000). Between Promise and Policy: Ronald Reagan and Conservative Reformism. Lexington Books. ISBN 0739102966. 
  • Kennan, George F. (1968), Memoirs, 1925-1950, Hutchinson, ISBN 009085800X
  • Kolb, Richard K. (2004). Cold War Clashes: Confronting Communism, 1945-1991. Veterans of Foreign Wars of the United States. ISBN 0974364312. 
  • Kumaraswamy, P. R.; Karsh, Efraim (2000). Revisiting the Yom Kippur War. Routledge. ISBN 0714650072. 
  • Kydd, Andrew (2005), Trust and Mistrust in International Relations, Princeton University Press, ISBN 0691121702
  • Lackey, Douglas P. (1984). Moral principles and nuclear weapons. Totowa, N.J: Rowman & Allanheld. ISBN 084767116x Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). 
  • LaFeber, Walter (2002), Foner, Eric & John Arthur Garraty, eds., The Reader's companion to American history, Houghton Mifflin Books, ISBN 0395513723
  • Lakoff, Sanford (1989). A Shield in Space?. University of California Press. ISBN 0585043795. 
  • Lee, Stephen J. (1999). Stalin and the Soviet Union. Routledge. ISBN 0415185734. 
  • Lefeber, R; M. Fitzmaurice & E. W. Vierdag (1991), The Changing Political Structure of Europe, Martinus Nijhoff Publishers, ISBN 0792313798
  • Leffler, Melvyn (1992), A Preponderance of Power: National Security, the Truman Administration, and the Cold War, Stanford University Press, ISBN 0804722188
  • Link, William A. (1993). American Epoch: A History of the United States. McGraw-Hill. ISBN 0070379513. 
  • Lundestad, Geir (2005). East, West, North, South: Major Developments in International Politics since 1945. Oxford University Press. ISBN 1412907489. 
  • The Cold War: A Very Short Introduction. Oxford University Press. ISBN 0192801783.  Đã bỏ qua tham số không rõ |lyear= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |ast= (trợ giúp)
  • Malkasian, Carter (2001), The Korean War: Essential Histories, Osprey Publishing, ISBN 1841762822
  • Maynes, Williams C. (1980), The world in 1980, Dept. of State
  • McSherry, Patrice (2005). Predatory States: Operation Condor and Covert War in Latin America. Rowman & Littlefield. ISBN 0742536874. 
  • Miller, Roger Gene (2000), To Save a City: The Berlin Airlift, 1948-1949, Texas A&M University Press, ISBN 0890969671
  • Moschonas, Gerassimos & Gregory Elliott (2002), In the Name of Social Democracy: The Great Transformation, 1945 to the Present, Verso, ISBN 1859843468
  • Muravchik, Joshua (1996). The Imperative of American Leadership: A Challenge to Neo-Isolationism. American Enterprise Institute. ISBN 0844739588. 
  • Nashel, Jonathan (1999). “Cold War (1945–91): Changing Interpretations”. Trong John Whiteclay Chambers. The Oxford Companion to American Military History. Oxford University Press. ISBN 0195071980. 
  • National Research Council Committee on Antarctic Policy and Science (1993). Science and Stewardship in the Antarctic. National Academies Press. ISBN 0309049474. 
  • Njolstad, Olav (2004), The Last Decade of the Cold War, Routledge, ISBN 071468371X
  • Nolan, Peter (1995). China's Rise, Russia's Fall. St. Martin's Press. ISBN 0312127146. 
  • Nye, Joseph S. (2003). The Paradox of American Power: Why the World's Only Superpower Can't Go It Alone. Oxford University Press. ISBN 0195161106. 
  • Odom, William E. (2000), The Collapse of the Soviet Military, Yale University Press, ISBN 0300082711
  • Palmowski, Jan (2004), A Dictionary of Contemporary World History, Oxford University Press, ISBN 0198608756
  • Patterson, James (1997), Grand Expectations: The United States, 1945-1974, Oxford University Press US, ISBN 0585362505
  • Pearson, Raymond (1998), The Rise and Fall of the Soviet Empire, Macmillan, ISBN 0312174071
  • Perlmutter, Amos (1997), Making the World Safe for Democracy, University of North Carolina Press, ISBN 0807823651
  • Porter, Bruce; Karsh, Efraim (1984). The USSR in Third World Conflicts: Soviet Arms and Diplomacy in Local Wars. Cambridge University Press. ISBN 0521310644. 
  • Puddington, Arch (2003), Broadcasting Freedom: The Cold War Triumph of Radio Free Europe and Radio Liberty, University Press of Kentucky, ISBN 0813190452
  • Reagan, Ronald. “Cold War”. Trong Foner, Eric & Garraty, John Arthur. The Reader's companion to American history. Houghton Mifflin Books. ISBN 0395513723. 
  • Roberts, Geoffrey (2006), Stalin's Wars: From World War to Cold War, 1939–1953, Yale University Press, ISBN 0300112041
  • Roht-Arriaza, Naomi (1995), Impunity and human rights in international law and practice, Oxford University Press, ISBN 0195081366
  • Rycroft, Michael (2002). Beyond the International Space Station: The Future of Human Spaceflight. Johns Hopkins University Press. ISBN 1402009623. 
  • Schmitz, David F. (1999). “Cold War (1945–91): Causes”. Trong John Whiteclay Chambers. The Oxford Companion to American Military History. Oxford University Press. ISBN 0195071980. 
  • Shearman, Peter (1995), Russian Foreign Policy Since 1990, Westview Pess, ISBN 0813326338
  • Shirer, William L. (1990), The Rise and Fall of the Third Reich: A History of Nazi Germany, Simon and Schuster, ISBN 0671728687
  • Smith, Joseph; Davis, Simon (2005). The A to Z of the Cold War. Scarecrow Press. ISBN 0810853841. 
  • Stone, David (2006). A Military History of Russia: From Ivan the Terrible to the War in Chechnya. Greenwood Publishing Group. ISBN 0275985024. 
  • Taubman, William (2004), Khrushchev: The Man and His Era, W. W. Norton & Company, ISBN 0393324842
  • Tucker, Robert C. (1992), Stalin in Power: The Revolution from Above, 1928-1941, W. W. Norton & Company, ISBN 0393308693
  • Walker, Martin (1995). The Cold War: A History. H. Holt. ISBN 0805031901. 
  • Williams, Andrew (2004). D-Day to Berlin. Hodder & Stoughton. ISBN 0340833971. 
  • Wettig, Gerhard (2008), Stalin and the Cold War in Europe, Rowman & Littlefield, ISBN 0742555429
  • Wood, Alan (2005). Stalin and Stalinism. Routledge. ISBN 0415307325. 
  • Wood, James (1999). History of International Broadcasting. Institution of Electrical Engineers. ISBN 0852969201. 
  • Zubok, Vladislav (1996), Inside the Kremlin's Cold War: From Stalin to Khrushchev, Harvard University Press, ISBN 0674455312

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Thư khố
Thư mục
Tin tức
Các nguồn giáo dục