Tây Berlin

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Westberlin / Berlin (Tây)
Tây Berlin
Khu vực Đồng Minh chiếm đóng tại Berlin

1949–1990
 

Cờ của Tây Berlin

Cờ

Vị trí của Tây Berlin
Bốn khu vực chiếm đóng tại Berlin. Tây Berlin màu xanh sáng, xanh tối và tím
Thời đại lịch sử Chiến tranh Lạnh
 -  Thành lập 1949
 -  Thống nhất 3 tháng 10 năm 1990
Một phần của loạt bài về
Lịch sử Berlin
Coat of arms of Berlin
Cộng hoà Weimar (1919–33)
Berlin những năm 1920
Đạo luật Đại Berlin
Phát xít Đức (1933–45)
Welthauptstadt Germania
Ném bom Berlin trong Thế chiến II
Chiến dịch Berlin (1945)
Thành phố bị phân chia (1945–89)
Đông Berlin
Tây Berlin
Bức tường Berlin
 
Phong toả Berlin (1948–49)
Khủng hoảng Berlin năm 1961
"Ich bin ein Berliner" (1963)
 
Xem thêm:
Lịch sử Đức
Lãnh địa Bá tước Brandenburg

Tây Berlin là cái tên được đặt cho phần phía tây của Berlin từ năm 1949 tới năm 1990. Nó gồm các khu vực chiếm đóng của Hoa Kỳ, Anh Quốc, và Pháp được thành lập năm 1945. Trong nhiều năm nó đã được tích hợp vào, dù về pháp lý không phải là một phần của, Tây Đức. Khu vực của Liên bang Xô viết trở thành Đông Berlin, mà Đông Đức tuyên bố là thủ đô của mình; tuy nhiên Đồng Minh phương Tây không công nhận điều đó, bởi họ viện dẫn rằng toàn bộ thành phố về pháp lý nằm dưới sự chiếm đóng của bốn cường quốc. Việc xây dựng Bức tường Berlin năm 1961 đã đóng kín biên giới với Tây Berlin, vốn từ cuối Thế chiến II đã bị bao quanh bởi Đông Berlin và nước Đông Đức cộng sản.

Với khoảng 2 triệu dân, Tây Berlin là thành phố đông dân nhất của Đức thời Chiến tranh Lạnh, dù nó không chính thức thuộc về bên nào trong số hai nước Đức.

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Tây Berlin, thời điểm năm 1978.

Thoả thuận Potsdam thành lập khung pháp lý cho việc chiếm đóng Đức sau Thế chiến II. Theo thoả thuận, Đức sẽ chính thức nằm dưới chủ quyền của bốn cường quốc Đồng Minh thời chiếnHoa Kỳ, Anh Quốc, Pháp, và Liên xô — cho tới khi một chính phủ Đức chấp nhận được với tất cả các bên được tái lập. Đức, được đưa vào các biên giới năm 1937 của nó, sẽ bị cắt giảm hầu hết của cái từng được coi là miền đông nước Đức (sau đó được gọi là các lãnh thổ phía đông cũ của Đức) và lãnh thổ còn lại sẽ được chia làm bốn phần, mỗi phần thuộc sự quản lý của một quốc gia đồng minh. Berlin, dù bị bao quanh bởi vùng chiếm đóng của Liên xô - được thành lập trong hầu hết miền trung nước Đức -, cũng sẽ được phân chia tương tự, với việc các đồng minh phương Tây chiếm vùng nằm trong lãnh thổ khác gồm các phần phía tây của thành phố. Theo thoả thuận, việc chiếm đóng Berlin chỉ có thể kết thúc như một kết quả của một thoả thuận bốn bên. (Điều khoản này không áp dụng cho Đức như một tổng thể.)[cần dẫn nguồn] Đồng minh phương Tây được đảm bảo ba hành lang đường không để tiếp cận các khu vực của họ tại Berlin, và người Liên xô cũng chính thức cho phép các đường tiếp cận đường bộ và đường sắt giữa Tây Berlin và các phần phía tây của Đức (để biết thêm chi tiết xem đoạn bên dưới về giao thông).

Ban đầu, thoả thuận này chỉ là một cách quản lý hành chính tạm thời, và toàn bộ các bên tuyên bố rằng Đức và Berlin sẽ nhanh chóng được thống nhất. Tuy nhiên, khi những quan hệ giữa các đồng minh phương Tây và Liên bang Xô viết xấu đi và cuộc Chiến tranh Lạnh bắt đầu, việc cùng quản lý Đức và Berlin đổ vỡ. Ngay lập tức vùng chiếm đóng của Liên xô tại Berlin và vùng chiếm đóng của phương Tây tại Berlin có các cơ quan quản lý hoàn toàn riêng biệt. Năm 1948, người Liên xô tìm cách dùng vũ lực và trục xuất các đồng minh phương Tây ra khỏi Berlin bằng cách áp đặt một cuộc phong toả trên bộ với các khu vực phía tây (Phong toả Berlin). Phương Tây trả đũa bằng cách sử dụng các hành lang đường không được đảm bảo của họ để cung cấp cho phần thành phố chiếm đóng của mình trong cái được gọi là Cầu hàng không Berlin. Tháng 5 năm 1949, Liên xô dỡ bỏ lệnh phong toả, và tương lai của Tây Berlin như một khu vực tài phán riêng biệt được đảm bảo. Tới cuối năm đó, hai nhà nước mới được thành lập từ nước Đức bị chiếm đóng — Cộng hoà Liên bang Đức (Tây Đức) ở phía tây và Cộng hoà Dân chủ Đức (GDR, Đông Đức) ở phía đông — với việc Tây Berlin là một vùng lãnh thổ bị bao quanh bởi, nhưng không phải là một phần của, Đông Đức.

Vị thế pháp lý[sửa | sửa mã nguồn]

Theo lý thuyết pháp lý được các Đồng Minh phương Tây tuân theo, việc chiếm đóng hầu hết nước Đức chấm dứt năm 1949 với việc tuyên bố thành lập nhà nước Cộng hoà Liên bang Đức (23 tháng 5 năm 1949) và Cộng hoà Dân chủ Đức (7 tháng 10 năm 1949). Tuy nhiên, bởi việc chiếm đóng Berlin chỉ có thể chấm dứt bằng một thoả thuận bốn bên, Berlin vẫn là một lãnh thổ chiếm đóng dưới chủ quyền chính thức của Đồng Minh. Vì thế, Grundgesetz (hiến pháp Cộng hoà Liên bang) không được áp dụng ở Tây Berlin. Tương tự luật liên bang Tây Đức cũng không được áp dụng cho Tây Berlin, nhưng Quốc hội Berlin (tiếng Đức: Abgeordnetenhaus von Berlin; cơ quan lập pháp Tây Berlin, đã thống nhất các trách nhiệm pháp lý của Berlin dưới cùng một cái tên) được dùng để bỏ phiếu trong mọi điều luật liên bang mới, họp thường kỳ để xem xét nhiều điều luật mới, mà không tranh luận để duy trì tính bình đẳng pháp luật với nước Cộng hoà Liên bang Đức trước năm 1990.

Năm 1969 các xe quân sự Mỹ gầm thét chạy qua các đường phố trong giờ cao điểm tại khu nhà ở thuộc quận Zehlendorf, một hành động nhắc nhở rằng Tây Berlin vẫn đang bị chiếm đóng chính thức bởi các Đồng Minh trong Thế chiến II.

Đồng Minh phương Tây vẫn là cơ quan chính trị tuyệt đối ở Tây Berlin. Mọi điều luật của "Abgeordnetenhaus", nhà nước nội địa và luật liên bang được thông qua, chỉ được áp dụng dưới điều khoản quy định với sự xác nhận của ba tổng tư lệnh Đồng Minh phương Tây. Nếu họ thông qua một điều luật, nó được ban hành như một phần của luật theo quy định của Tây Berlin. Nếu các tổng tư lệnh bác bỏ một điều luật, như trường hợp các điều luật của Tây Đức về nghĩa vụ quân sự, luật đó sẽ không có hiệu lực ở Tây Berlin. Tây Berlin được điều khiển bởi một Thị trưởng Quản lý được bầu và Thượng nghị viện của Berlin (chính phủ thành phố) có trụ sở tại Rathaus Schöneberg. Thị trưởng Quản lý và các Thượng nghị sĩ (bộ trưởng) được các Đồng Minh phương Tây thông qua và vì thế có quyền lực từ các lực lượng chiếm đóng, chứ không phải từ trách nhiệm uỷ quyền qua bầu cử.

Người Liên xô đơn phương tuyên bố việc chiếm đóng Đông Berlin kết thúc cùng với toàn bộ phần còn lại của Đông Đức, nhưng hành động này không được các Đồng Minh phương Tây thừa nhận, họ tiếp tục coi toàn bộ Berlin là một vùng lãnh thổ chiếm đóng tổng thể không thuộc Đông cũng như Tây Đức. Quan điểm này được ủng hộ bởi sự tiếp tục tiến hành tuần tra của binh sĩ Đồng Minh của cả bốn cường quốc ở cả bốn khu vực. Vì thế mọi người có thể thỉnh thoảng thấy các binh sĩ Đồng Minh phương Tây đang tuần tra ở Đông Berlin và binh sĩ Liên xô tuần tra ở Tây Berlin. Sau khi bức tường được xây dựng, các Đồng minh phương Tây coi ý định của Đông Đức về việc kiểm soát các cuộc tuần tra của họ, khi vào và ra khỏi Đông Berlin, là một hành động không thể chấp nhận. Vì thế sau những cuộc phản ứng với Liên xô những cuộc tuần tra tiếp tục diễn ra ở cả hai hướng mà không bị kiểm soát, với một thoả thuận ngầm rằng các Đồng minh phương Tây sẽ không sử dụng các cuộc tuần tra của mình để giúp người phương Đông chạy sang phương Tây.[1]

Tuy nhiên, theo nhiều cách, Tây Berlin hoạt động như một bang thứ 11 trên thực tế của Tây Đức, và không được thể hiện trên những bản đồ được xuất bản ở phía tây như là một phần của Tây Đức. Có quyền tự do di chuyển (tới mức độ được cho phép theo địa lý) giữa Tây Berlin và Tây Đức. Không có các quy định nhập cư riêng rẽ cho Tây Berlin: mọi quy định nhập cư cho Tây Đức đều được sử dụng ở Tây Berlin. visas vào Tây Đức được cấp cho du khách được đóng dấu có dòng chữ "có giá trị để vào Cộng hoà Liên bang Đức gồm cả (Tây)", cho phép vào Tây Berlin cũng như vào chính Tây Đức.

Tình trạng pháp lý mập mở của Tây Berlin có nghĩa rằng người dân Tây Berlin không được tham gia vào các cuộc bầu cử liên bang; thay vào đó họ hiện diện gián tiếp trong Bundestag bởi 20 đại diện không bầu cử do Quốc hội Tây Berlin lựa chọn. Tương tự, Thượng viện Tây Berlin gửi các đại biểu không bầu cử tới Bundesrat. Tuy nhiên, vì là công dân Đức, người Berlin có thể ra tranh cử; gồm cả Thủ tướng Dân chủ Xã hội Willy Brandt, người được bầu theo danh sách bầu cử của đảng mình. Tương tự, nam giới được miễn nghĩa vụ quân sự của Cộng hoà Liên bang; sự miễn trừ này khiến thành phố trở thành nơi cư trú của thanh niên Tây Đức, dẫn tới sự nảy nở một sự phản văn hoá trở thành một trong những đặc điểm định nghĩa của thành phố.

Tuy nhiên, các quốc gia cộng sản không công nhận Tây Berlin là một phần của Tây Đức và thường gọi nó - trong các bài viết và bản đồ - là khu vực tài phán "thứ ba" của Đức - được gọi là besondere politische Einheit (thực thể chính trị đặc biệt). Trên các bản đồ của Đông Berlin Tây Berlin thường không xuất hiện như một vùng đô thị liền kề mà như một vùng đất trống, thỉnh thoảng có chữ WB, có nghĩa Tây Berlin, nhưng thường bị che đi một cách khéo léo bởi những người làm bản đồ bằng ô chú thích hay các bức ảnh.

Quốc tịch[sửa | sửa mã nguồn]

Trong khi Đông Đức thành lập theo hiến pháp thứ hai của họ một quốc tịch Đông Đức riêng biệt năm 1967, một quốc tịch Tây Đức riêng biệt không tồn tại. Thay vào đó Tây Đức lấy quốc tịch Đức trước Thế chiến II để tiếp tục cho mọi sắc tộc hay người nhập quốc tịch Đức ở Tây Đức, Đông Đức hay bất kỳ phần nào của Berlin. Vì thế tuy Tây Berlin không được nhất trí coi là một phần của Cộng hoà Liên bang, các công dân của nó được đối xử bình đẳng với các công dân Tây Đức bởi chính quyền Tây Đức, tuy nhiên, vẫn có những giới hạn do quy chế pháp lý của nó đặt ra.

Điều này có nghĩa người Tây Berlin có thể phá vỡ một phần trong những giới hạn dó nếu họ có một ngôi nhà thứ hai ở Tây Đức. Ví dụ, họ có thể bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử Bundestag và họ có thể đăng ký vào quân đội Đức nếu họ muốn.

Các thoả thuận gọi tên[sửa | sửa mã nguồn]

Theo thông lệ người phía tây gọi các khu vực phía tây một cách đơn giản là Berlin, hầu như luôn là như vậy nếu không cần có sự phân biệt. Theo chính thức, Tây Berlin được gọi là "Berlin (Tây)" bởi chính phủ Cộng hoà Liên bang ở Tây Đức, và, trong hầu hết giai đoạn tồn tại của nó, "Tâyberlin" bởi chính phủ Đông Đức, vốn cho rằng Tây Berlin không phải là một phần thực sự của "Berlin" như một tổng thể; Đông Đức bắt đầu sử dụng "Berlin (Tây)" hồi cuối những năm 1980. Bắt đầu từ ngày 31 tháng 5 năm 1961 Đông Berlin được chính thức gọi là Berlin, Thủ đô Cộng hoà Dân chủ Đức (tiếng Đức: Berlin, Hauptstadt der DDR, thay thế thuật ngữ được dùng trước kia Berlin Dân chủ), hay đơn giản là "Berlin," bởi Đông Đức, và "Berlin (Ost)" bởi chính phủ Liên bang Tây Đức, "Ost-Berlin", "Ostberlin" hay "Ostsektor" bởi truyền thông Tây Đức.

Những việc gọi tên như thế đã trở thành thói quen sâu tới mức mọi người có thể suy ra nghĩa chính trị từ cái tên được sử dụng cho Berlin hay các phần của nó. Đông Đức, trong thời gian tồn tại của nó, coi Đông Berlin là một phần không thể tách rời của lãnh thổ của họ, cũng như là thủ đô nhà nước. Tây Berlin, không chính thức là một phần của cả Đông và Tây Đức, về kỹ thuật vẫn là vùng chiếm đóng quân sự cho đến ngày 3 tháng 10 năm 1990, ngày thống nhất Đông Đức, Đông và Tây Berlin với Cộng hoà Liên bang Đức ở Tây Đức. Chính phủ Liên bang Tây Đức, cũng như các chính phủ của hầu hết các quốc gia phương Tây, coi Đông Berlin là một "thực thể tách biệt" khỏi Đông Đức.[2]

Sau khi Bức tường được xây dựng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 26 tháng 6 năm 1963, Tổng thống Hoa Kỳ John F. Kennedy đã tới thăm Tây Berlin và có một bài phát biểu trở nên nổi tiếng với câu "Ich bin ein Berliner."

Thoả thuận Bốn bên về Berlin (Tháng 9 năm 1971) và Thoả thuận Quá cảnh (Tháng 5 năm 1972), đã giúp làm giảm căng thẳng về Tây Berlin và ở một mức độ thực tế giúp làm người Tây Berlin dễ dàng hơn, tuy vẫn có những giới hạn, trong việc tới Đông Đức và đơn giản hoá thủ tục cho người Đức đi dọc theo những con đường quá cảnh.

Tại Cổng Brandenburg năm 1987, Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan đã đưa ra một thách thức với người đứng đầu khi ấy của Liên xô: "Tổng bí thư Gorbachev, nếu ông tìm kiếm hoà bình, nếu ông tìm kiếm thịnh vượng cho Liên xô và Đông Âu, nếu ông tìm kiếm tự do hoá: Hãy tới cổng này! Ông Gorbachev, hãy mở cổng này! Ông Gorbachev, hãy phá vỡ bức tường này."

Ngày 9 tháng 11 năm 1989 bức tường được mở, và hai thành phố một lần nữa được thống nhất về tự nhiên — dù vẫn chưa phải về pháp lý. Cái gọi là Hiệp ước Hai Cộng Bốn, được ký kết bởi hai nhà nước Đức và bốn đồng minh thời chiến, đã mở đường cho sự thống nhất nước Đức và đặt dấu chấm hết cho sự chiếm đóng Tây Berlin của phương Tây. Ngày 3 tháng 10 năm 1990 Tây Berlin và Đông Berlin được thống nhất thành thành phố Berlin, sau đó nó gia nhập vào Cộng hoà Liên bang như một bang, cùng với phần Đông Đức còn lại. Tây Berlin và Đông Berlin vì thế chính thức cùng ngừng tồn tại.

Giao thông và Viễn thông[sửa | sửa mã nguồn]

Người Tây Berlin có thể đi tới Tây Đức và mọi nước khác ở phía tây cũng như các quốc gia không liên kết vào bất kỳ thời điểm nào, ngoại trừ giai đoạn Phong toả Berlin của Liên xô (24 tháng 6 năm 1948 tới 12 tháng 5 năm 1949), vì những giới hạn khả năng chuyên chở đường không.

Tuy nhiên việc đi từ và tới Tây Berlin, ngoại trừ bằng đường không, luôn phải qua các trạm kiểm soát của Cộng hoà Dân chủ Đức, vì Tây Berlin là một vùng nằm trong lãnh thổ nước khác bị bao quanh bởi Đông Đức hay Đông Berlin. Người Tây Berlin mang hộ chiếu Tây Đức, được Cộng hoà Liên bang Đức cấp nếu có yêu cầu, thể hiện Tây Berlin là nơi ở của mình, bị từ chối cho vượt bất kỳ biên giới nào dưới quyền kiểm soát của Đông ĐỨc và bị từ chối vào bất kỳ một quốc gia nào thuộc Khối Đông Âu. Theo họ Tây Đức không có quyền cấp giấy tờ tuỳ thân cho người Tây Berlin. Tuy nhiên, người Tây Berlin đi lại với hộ chiếu Tây Đức với một địa chỉ thứ hai dù có thật hay không tại Tây Đức như nơi cư trú hiện tại của mình được đối xử như người Tây Đức bởi Đông Đức tại các trạm kiểm soát biên giới.

Bởi chính Tây Berlin không phải là một nhà nước có chủ quyền, nó không có quyền cấp hộ chiếu của mình. Vì thế một mô hình tạm thời (modus vivendi) được đặt ra, theo đó người Tây Berlin có thể đi lại, bằng chứng minh thư phụ (tiếng Đức: Behelfsmäßiger Personalausweis) của mình, do thành bang Berlin (Tây) cấp, thể hiện địa chỉ của anh ta tại Berlin, và khong thể hiện bất kỳ biểu tượng nào của liên bang Tây Đức, hay việc người mang giấy là công dân nước nào. Từ ngày 11 tháng 6 năm 1968 Đông Đức đã buộc các hành khách quá cảnh Tây Berlin và Tây Đức phải có một visa quá cảnh (tiếng Đức: Transitvisum), được cấp khi vào Đông Đức, bởi hiến pháp thứ hai của Đông Đức coi người Tây Đức và người Tây Berlin là người nước ngoài. Bởi các chứng minh thư không có chỗ để đóng dấu visa, sở cấp visa Đông Đức đóng dấu của họ lên những tờ giấy riêng sau đó gắn vào chứng minh thư, cho tới giữa những năm 1980 nó vẫn là những cuốn số nhỏ. Phí cấp visa là Deutsche Mark Tây Đức (DM) 5, do Đông Đức thu từ các hành khách quá cảnh bị phía tây coi là lệ phí không thích hợp và vì thế phải được trả lại theo yêu cầu của Chính phủ Liên bang Tây Đức.

Một khi đã qua Đông Đức, tiến tới một quốc gia không liên kết hay một quốc gia phương Tây yêu cầu một visa, như Hoa Kỳ, người Tây Berlin lại một lần nữa cần hộ chiếu của Tây Đức - được chấp nhận thể hiện bất kỳ nơi cư trú nào -, bởi một chứng minh thư đơn giản là không đủ. Tuy nhiên, với những quốc gia không yêu cầu người Tây Berlin (và người Tây Đức) phải có visa đóng dấu để nhập cảnh (như Cộng hoà Liên bang Đức, Thuỵ Sĩ, Áo, và nhiều thành viên của Cộng đồng Kinh tế châu Âu khi ấy, theo các thoả thuận sẽ dẫn tới Hiệp ước Schengen ngày nay), giấy chứng minh thư Tây Berlin cũng có giá trị để nhập cảnh. Một lần nữa Đông Đức lại cấm có chọn lọc một số du khách qua Đông Đức. Từ ngày 13 tháng 4 năm 1968 với các bộ trưởng và quan chức cao cấp của Chính phủ Liên bang Tây Đức bị từ chối quá cảnh - cho tới khi có thông báo tiếp theo. Tháng 1 năm 1970 Đông Đức ngừng giao thông quá cảnh nhiều lần, bởi các uỷ ban nghị viện của Bundestag Tây Đức tổ chức các kỳ họp ở Tây Berlin, mà - theo ý của phía đông - họ không được phép làm như vậy, bởi Tây Berlin không phải là một phần của Tây Đức.

Giao thông tới Tây Berlin bằng xe hơi qua Đông Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Khi đi lại giữa Tây Berlin và phần còn lại của thế giới qua Đông Đức các trạm kiểm soát biên giới yêu cầu mọi hành khách từ khắp thế giới phải có một hộ chiếu có giá trị, ngoại trừ người Tây Berlin, được chấp nhận với chứng minh thư thay thế. Nếu một người đi giữa Tây Berlin và Đan Mạch, Tây Đức hay Thuỵ Điển, các trạm kiểm soát biên giới Đông Đức sẽ cấp một visa quá cảnh với phí 5 Deutsche Mark Tây Đức khi vào Đông Đức và tại một trong những điểm kiểm tra biên giới bắt buộc của mỗi tuyến đường quá cảnh (tiếng Đức: Transitstrecke) được lập ra. Năm 1968 visa cũng trở nên bắt buộc với người Tây Đức và người Tây Berlin. Việc đi lại giữa Tây Berlin và Ba Lan hay Tiệp Khắc qua Đông Đức, mỗi hành khách còn phải bị yêu cầu đệ trình một visa có giá trị của nước đến, để có được visa quá cảnh của Đông Đức.

Với giao thông đường bộ có các tuyến đường quá cảnh nối Tây Berlin, thường là các autobahn và các đường cao tốc khác, được lắp các biển Quá cảnh. Hành khách quá cảnh (tiếng Đức: Transitreisende) bị cấm rời khỏi đường quá cảnh, những cuộc kiểm soát bất ngờ sẽ kiểm tra những người không tuân theo. Có bốn đường quá cảnh giữa Tây Berlin và Tây Đức. Một giữa Heerstraße của Tây Berlin với chốt gác của Đông Đức tại Staaken tới miền bắc nước Đức ban đầu qua đường cao tốc F 5 tại chốt gác phía đông ở Horst (một phần của Nostorf ngày nay) và tây Lauenburg upon Elbe, dần thay thế cho tới ngày 20 tháng 11 năm 1982 bằng một autobahn mới chạy ngang tại Zarrentin (E)/Gudow (W).[3] Ngày 1 tháng 1 năm 1988 chốt gác Stolpe mới được mở cửa trên con đường này tới Tây Berlin. Nó là một phần của Hohen Neuendorf) (E)/Berlin-Heiligensee (W) ngày nay.

Tuyến đường thứ hai dẫn tới tây bắc và miền tây nước Đức - đi theo A 2 ngày nay - vượt biên giới Đức-Đức tại Marienborn (E)/Helmstedt (W), cũng được gọi là Chốt gác Alpha, tuyến thứ ba tới tây nam nước Đức sử dụng A 9A 4 ngày nay và vượt biên giới tại Warta (E)/Herleshausen (W) và tuyến thứ tư (A 9 ngày nay) tới miền nam nước Đức ban đầu cắt biên giới tại Núi Juchhöh (E)/Töpen (W) và sau này tại Hirschberg upon Saale (E)/ Rudolphstein (một phần của Berg tại Thượng Franconia) (W) ngày nay.

Ba tuyến đường sau sử dụng các autobahn được xây dựng thời Phát xít và rời Tây Berlin tại Chốt gác Dreilinden, cũng được gọi là Chốt gác Bravo (W)/Potsdam-Drewitz (E). Sau đó có các tuyến đường quá cảnh tới vùng đông bắc Ba Lan qua A 11 ngày nay tới Nadrensee-Pomellen (Đông Đức, Cộng hoà Dân chủ Đức)/Kołbaskowo (Kolbitzow) (PL), eastwards via today's A 12 to Frankfurt upon Oder (GDR)/Słubice (PL), và đông nam qua A 13A 15 ngày nay tới Forst in Lusatia/Baršć (GDR)/Zasieki (Berge) (PL). Các con đường khác dẫn tới Đan Mạch và Thuỵ Điển bằng phà qua Rostock (GDR) và Gedser (DK) và bằng phà giữa Sassnitz (GDR) và Rønne (DK) hay Trelleborg (S) và hai đường khác tới Tiệp Khắc qua Schmilka (GDR)/Hřensko (Herrnskretschen) (ČSSR) và qua Fürstenau (một phần của Geising ngày nay) (GDR)/Cínovec (Cinvald/Böhmisch Zinnwald) (ČSSR).

Các tuyến đường quá cảnh cũng được dùng làm đường giao thông nội bộ của Đông Đức. Điều này có nghĩa hành khách quá cảnh có thể gặp người Đông Đức và người Đông Berlin tại các quán ăn trên đường. Khi rời Đông Đức, biên phòng nước này sẽ tính toán thời gian vào nếu một hành khách mất quá nhiều thời gian để đi qua đất nước. Thời gian quá nhiều sẽ làm tăng nghi ngờ, rằng họ đã rời con đường và gặp gỡ với người Đông Đức. Tuy nhiên, những chiếc xe buýt đường dài từ phía tây thường chỉ được phép dừng lại tại các khu vực dịch vụ đặc biệt dành cho chúng, bởi Đông Đức sợ người dân của mình có thể dùng nó để chạy sang phía tây.

Ngày 1 tháng 9 năm 1951 Đông Đức, vốn luôn thiếu ngoại tệ, bắt đầu thu phí với những chiếc xe chạy qua các tuyến đường quá cảnh. Ban đầu mức phí lên tới Mark Đông Đức 10 mỗi xe khách và 10 tới 50 cho xe tải, theo kích cỡ của chúng. Đồng Mark Đông Đức phải được trao đổi với tỷ giá quy định 1: 1 với Deutsche Mark Tây Đức. Ngày 30 tháng 3 năm 1955 Đông Đức nâng phí với xe chở khách lên 30 Deutsche Mark, nhưng lại giảm nó về mức cũ sau những phản ứng của Tây Đức. Theo một thoả thuận mới giữa Đông và Tây Đức bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 năm 1980 Chính phủ Liên bang Tây Đức trả một khoản tiền tổng cả năm (tiếng Đức: Transitpauschale) là 50 triệu Deutsche Mark Tây Đức cho chính phủ Đông Đức, vì thế hành khách quá cảnh không còn phải lo đóng phí nữa, điều khi ấy vẫn không được biết ở cả Đông và Tây Đức.

Giao thông đường sắt tới Tây Berlin qua Đông Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Bốn tuyến đường sắt quá cảnh - trước kia được gọi là interzonal train (tiếng Đức: Interzonenzug) -, không mở cửa cho hành khách thông thường bên trong Đông Đức và vì thế chỉ dừng cho việc kiểm soát biên giới phía đông khi vào và ra khỏi Đông Đức, nối Tây Berlin với Hamburg qua Schwanheide (E)/Büchen (W) ở phía bắc với Hanover qua Marienborn (E)/Helmstedt (W) ở phía tây, với Frankfurt upon Main qua Eisenach (E)/Bebra (W) ở phía tây nam và với Nuremberg qua Probstzella (E)/Ludwigsstadt (W) ở phía nam Tây Đức. Cho tới khi Bức tường Berlin được xây dựng interzonal trains cũng sẽ dừng lại một lần trên đường bên trong Đông Đức cho khác hành khách có được visa cần thiết để vào hay rời Đông Đức. Để đi tàu tới Tiệp Khắc, Đan Mạch (bằng phà), Ba Lan, hay Thuỵ Điển (bằng phà) mọi người đầu tiên phải vào Đông Berlin hay Đông Đức với visa cần thiết và sau đó chuyển sang một đoàn tàu quốc tế ở phía đông để đến nơi cần thiết - trên chuyến hành trình bên trong Đông Đức nó cũng phục vụ giao thông nội địa. Một tuyến đường sắt nối giữa Tây Berlin và Oebisfelde (E)/Wolfsburg (W) đã được dành riêng cho các chuyến tàu hàng.

Khi nhận các khu vực chiếm đóng của mình ở Tây Berlin tháng 7 và tháng 8 năm 1945 ba Đồng minh phương Tây và Liên xô quyết định rằng các tuyến đường sắt, được điều hành cho tới thời điểm đó bởi Deutsche Reichsbahn (1920-1949) quốc gia Đức, sẽ tiếp tục điều hành (và tái thiết) bởi cùng một cơ cấu ở cả bốn khu vực. Vì thế Tây Berlin không có - ngoại trừ một số tuyến đường sắt tư nhân nhỏ - một cơ quan quản lý đường sắt riêng. Hơn nữa, hoạt động của mạng lưới vận tài đường sắt đô thị bằng điện Berlin S-Bahn của Reichsbahn, đá phát triển từ các đoàn tàu chở khách, cũng là đối tượng của thoả thuận này. Sau việc thành lập nhà nước Đông Đức ngày 7 tháng 10 năm 1949 chính phủ Đông Đức tiếp tục quản lý mọi tuyến đường sắt trong lãnh thổ của mình dưới cái tên chính thức Deutsche Reichsbahn (1949-1994), vì thế thực hiện trách nhiệm bảo dưỡng cho hầu hết vận tải đường sắt ở cả bốn khu vực của Berlin. Tính cần thiết pháp lý của việc giữ thuật ngữ 'Deutsche Reichsbahn' giải thích việc sử dụng đáng ngạc nhiên của từ 'Reich' trong cái tên của một tổ chức chính thức tại nhà nước Cộng hoà Dân chủ Đức cộng sản. Một sự không bình thường khác là việc GDR kiểm soát 'Bahnpolizei', cảnh sát đường sắt của Reichsbahn, được giao nhiệm vụ tuần tra và kiểm soát các tài sản đường sắt khác trong toàn bộ thành phố gồm cả Tây Berlin; một lực lượng cảnh sát Đông Đức hoạt động tại các ga của Tây Berlin, các kho hàng và dọc theo các tuyến đường sắt.

Sau cuộc Phong toả Berlin các đoàn tàu quá cảnh (tiếng Đức: Transitzüge) sẽ rời và vào Tây Berlin chỉ qua một đường qua ga đường sắt Berlin-Wannsee (W) và ga đường sắt Potsdam Griebnitzsee (E). Tất cả các đoàn tàu quá cảnh sẽ xuất phát hay dừng tại Đông Berlin, vì thế chỉ đi qua Tây Berlin với một lần dừng duy nhất tại ga đường sắt Berlin Zoologischer Garten phía tây, trở thành ga chính của Tây Berlin. Cho tới năm 1952 Reichsbahn cũng được phép dừng ở các ga khác trên đường chạy qua Tây Berlin. Sau khi những căng thẳng Đông-Tây lắng dịu, bắt đầu từ ngày 30 tháng 5 năm 1976 các đoàn tàu quá cảnh đi về phía tây, phía tây nam và phía nam một lần nữa dựng lại tại ga phía tây của Wannsee. Với các đoàn tàu quá cảnh đi về phía bắc một tuyến đường ngắn hơn được tái mở cửa ngày 26 tháng 9 năm 1976 với một lần dừng nữa tại khi ấy là ga đường sắt Berlin-Spandau, vào Đông Đức tại Staaken. Trong số những nhân viên của Reichsbahn làm việc ở Tây Berlin, có nhiều người Tây Berlin. Bên sử dụng họ, là một thực thể của Đông Đức, thu khoản tiền bán vé bằng Đồng Mark Tây Đức để cung cấp cho nguồn ngoại tệ luôn thiếu hụt của Đông Đức, đã tìm cách chi càng ít càng tốt các đồng Mark Tây Đức cho lương bổng và mạng lưới an sinh xã hội. Vì thế người Tây Berlin làm việc cho Reichsbahn được trả lương một phần bằng đồng tiền Đông Đức, cộng với quyền ưu tiên được tiêu số tiền đó ở phía đông và mang các đồ mua được về Tây Berlin, đây là điều ở một số mức độ là không được phép đối với người phương Tây. Về chăm sóc sức khoẻ, những người Tây Berlin, do Reichsbahn thuê mướn, không được gồm trong hệ thống bảo hiểm y tế phía tây. Reichsbahn có bệnh viện riêng của mình dành cho họ ở Tây Berlin, toà nhà hiện được sử dụng làm trụ sở của Bombardier Transportation. Với những trường hợp nặng họ sẽ được điều trị ở một bệnh viện tại Đông Berlin. Tuy nhiên, trong trường hợp cấp cứu họ sử dụng các bác sĩ và bệnh viện Tây Berlin và sẽ được Reichsbahn chi trả, nhưng trong những trường hợp khác họ phải tự chi bằng tiền mặt.

Giao thông với Tây Berlin bằng tàu thuỷ nội địa qua Đông Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Hai tuyến đường thuỷ qua các con sông Havel - giao cắt tại trạm kiểm soát biên giới Đông Đức tại Nedlitz (một phần của Potsdam-Bornstedt) - sau đó hoặc theo Elbe đi về phía tây bắc cắt biên giới một lần nữa tại Lütkenwisch (một phần của Lanz in the Prignitz ngày nay) (E)/Schnackenburg (W) hay về phía tây theo Mittellandkanal tới Wassensdorf (E)/Rühen (W) được mở cửa cho giao thông thuỷ nội địa, nhưng chỉ những con tàu chở hàng được phép hoạt động. Những tàu chở hàng của phía tây chỉ được dừng tại các khu vực dịch vụ dành riêng cho chúng, bởi Đông Đức sợ rằng công dân của họ có thể trốn trên đó. Theo những tuyến đường thuỷ này, Tây Berlin được kết nối với hệ thống giao thông thuỷ nội địa của tây Âu, nối với các cảng biển như Hamburg và Rotterdam cũng như các vùng công nghiệp như Ruhr Area, Mannheim, Basel, Bỉ và đông Pháp.

Sau khi nhận các khu vực chiếm đóng của mình ở Tây Berlin tháng 7 và tháng 8 năm 1945 các Đồng Minh phương Tây và Liên xô đã quyết định rằng việc điều hành và bảo dưỡng các tuyến đường thuỷ và cửa cống, cho tới lúc đó vẫn do Sở đường thuỷ nội địa quốc gia Đức (tiếng Đức: Wasser- und Schifffahrtsamt Berlin) điều hành, vẫn sẽ do cơ quan này đảm nhiệm và cả việc tái thiết ở trong cả bốn khu vực. Vì thế Tây Berlin không có - trừ một số kênh và cửa cống được xây sau này - một cơ quan quản lý đường thuỷ nội địa riêng biệt, cơ quan quản lý tại Đông Đức điều hành và bảo dưỡng mọi tuyến đường thuỷ và cửa cống.

Lối vào Teltowkanal của phía tây, nối nhiều vùng công nghiệp với Tây Berlin cho chuyên chở hàng nặng, đã bị Đông Đức phong toả tại Potsdam-Klein Glienicke, vì thế các con tàu tới đó phải đi theo một tuyến đường vòng dài qua sông Spree xuyên qua trung tâm thành phố Đông và Tây Berlin để vào kênh từ phía đông. Mãi tới ngày 20 tháng 11 năm 1981 Đông Đức mới mở cửa trở lại lối vào cho phía tây. Vì mục đích này Đông Đức mở thêm hai điểm kiểm soát biên giới nữa - Dreilinden và Kleinmachnow - bởi theo dòng chảy con sông bốn lần cắt ngang biên giới giữa Đông Đức và Tây Berlin. Một tuyến đường thuỷ quá cảnh khác nối Tây Berlin qua điểm kiểm soát tàu của Đông Đức tại Hennigsdorf và Oder-Havel Canal với con sông OderSzczecin (Stettin) của Ba Lan.

Giao thông với Tây Berlin bằng đường không qua Đông Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Các chuyến bay là đường kết nối duy nhất giữa Tây Berlin với thế giới phương Tây không nằm dưới sự kiểm soát của Đông Đức. British European Airways khai trương dịch vụ định kỳ đầu tiên cho dân thường ngày 4 tháng 7 năm 1948 giữa Tây Berlin và Hamburg. Vé ban đầu chỉ được bán bằng đồng Pound sterling. Đặc biệt người Tây Berlin và người Tây Đức, từng bỏ chạy khỏi Đông Đức hay Đông Berlin trước kia và vì thế sợ bị bắt giam, một khi đã vào Đông Đức hay Đông Berlin, luôn phải dùng máy bay làm phương tiện đi lại ra bên ngoài.[4] Để cho phép người sợ bị bỏ tù ở phía đông bay từ và tới Tây Berlin Chính phủ Liên bang ở phía tây đã trợ cấp cho các chuyến bay.

Ba Hành lang Hàng không Tây Berlin được phép duy nhất.

Các chuyến bay giữa Tây Đức và Tây Berlin nằm dưới sự quản lý của đồng minh bởi Trung tâm An toàn Hàng không Berlin bốn bên. Theo các quy trình và thoả thuận của nó, đã được biến thành các quy định không thể sửa đổi bởi cuộc Chiến tranh Lạnh, chỉ ba hành lang hàng không tới Tây Đức được cho phép, nó chỉ dành cho các máy bay quân sự của Anh, Pháp, Hoa Kỳ hay các máy bay dân sự được đăng ký của ba quốc gia đó. Không gian hàng không thuộc kiểm soát của Trung tâm An toàn Hàng không Berlin gồm một bán kính 20 dặm (32.12 km) xung quanh địa điểm Trung tâm tại toà nhà Kammergericht ở Berlin-Schöneberg - vì thế bao phủ hầu hết Đông và Tây Berlin và ba hành lang, với cùng chiều rộng - một ở phía tây bắc Hamburg-Sân bay Fuhlsbüttel, một phía tây tới Hanover, một phía tây nam tới Frankfurt upon Main (Rhein-Main Air Base). Tương tự, không gian hàng không mở rộng với chiều rộng 20 dặm trên biên giới Đức-Đức thuộc kiểm soát của Trung tâm An toàn Hàng không Berlin. Không có thay đổi nào cho phép các hãng hàng không dân sự khác hoạt động được đưa ra. Vì thế hãng Lufthansa của Tây Đức và hầu hết cáchãng hàng không khác không thể bay tới Tây Berlin. Các chuyến bay của Lufthansa hay Interflug của Đông Đức giữa Đông và Tây Đức (như giữa Köln và Hamburg của Tây Đức và Leipzig của Đông Đức) có tồn tại từ tháng 8 năm 1989 về sau, nhưng hoặc phải qua không phận Tiệp Khắc hoặc Đan Mạch, vòng qua vùng bị cấm dọc theo biên giới Đức-Đức.

Giao thông giữa Tây Berlin và Đông Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Cho tới năm 1953 việc đi lại từ Tây Berlin vào Đông Đức, cho tới ngày 7 tháng 10 năm 1949 vẫn là Vùng chiếm đóng Liên xô tại Đức, sau đó được đổi thành Cộng hoà Dân chủ Đức (GDR), có thể diễn ra theo các quy định do các chính phủ quân sự Đồng minh ba nước (Cơ quan Hành chính Quân sự Liên xô tại Đức (SVAG), Hội đồng Kiểm soát Đức – Anh Quốc, và Văn phòng Chính phủ Quân sự/Hoa Kỳ (OMGUS)) đặt ra cho việc giao thông giữa các vùng giữa các vùng chiếm đóng của họ. Ngày 27 tháng 5 năm 1952 Đông Đức bắt đầu đóng biên giới của họ với Tây Đức và Tây Berlin. Người Tây Berlin chỉ được phép vào Đông Đức, gồm cả các vùng phụ cận bên ngoài các biên giới đô thị ở phía bắc, Tây và Nam của Tây Berlin, với giấy phép, trong hầu hết các trường hợp đều bị chính quyền Đông Đức từ chối. Các trạm kiểm soát của Đông Đức được lập ra trên các con đường ở vùng phụ cân Đông Đức của Tây Berlin. Hầu hết các con phố dần bị đóng với việc đi lại vào Đông Đức. Chốt gác cuối cùng còn mở là chốt gác tại Glienicker Brücke về hướng Potsdam, trước khi Đông Đức đóng cửa nó ngày 3 tháng 7 năm 1953. Tương tự chốt gác tại Staaken's Heerstraße sau đó cũng bị đóng với giao thông vào Đông Đức, nhưng vẫn mở cho việc đi lại quá cảnh tới Tây Đức.

Điều này đặc biệt khó khăn với người Tây Berlin, những người có bạn bè và gia đình tại Đông Đức. Tuy nhiên, ở thời điểm này người Đông Đức vẫn được phép vào Tây Berlin. Việc khó khăn hơn là một số nghĩa trang của Berlin nằm ở Đông Đức. Vì quá trình đô thị hoá nhanh của Berlin cho tới thập niên 1940 nhiều giáo đoàn Tin lành và Cơ đốc chỉ có thể có đất làm nghĩa trang ở bên ngoài thành phố, và khi ấy những giáo đoàn đó ở Tây Berlin trong khi các nghĩa trang lại ở Đông Đức. Các giáo đoàn Cơ đốc tại Berlin-Charlottenburg có nghĩa trang riêng của mình gọi là Friedhof vor Charlottenburg (trong tiếng Anh: Nghĩa trang phía trước/bên ngoài Charlottenburg), nằm ở phía tây vùng phụ cận Đông Đức của Tây Berlin của Dallgow. Một số giáo đoàn Phúc âm tại các quận phía tây nam Berlin đã điều hành giáo phái lớn Nghĩa địa Tây Nam (tiếng Đức: Südwestkirchhof Stahnsdorf) và ngay bên cạnh Thị xã Wilmersdorf của nó, khi ấy đã là một phần của Tây Berlin, điều hành hai nghĩa trang trong rừng phi giáo phái (tiếng Đức: Wilmersdorfer Waldfriedhof StahnsdorfWilmersdorfer Waldfriedhof Güterfelde), từ tháng 6 năm 1913 được nối với Berlin bởi một đường sắt - sau là S-Bahn được điện khí hoá - dừng tại ga StahnsdorfStahnsdorf hiện đã thuộc Đông Đức, phía nam Tây Berlin. Một số phái đoàn Phúc âm nghèo hơn tại các thị xã trung tâm Berlin của KreuzbergWedding, hiện ở Tây Berlin, có các nghĩa trang tại Nghĩa trang phía đông (tiếng Đức: Ostkirchhof Ahrensfelde) ở vùng ngoại ô phía đông Đông Berlin tại Ahrensfelde. Khi ấy, người Tây Berlin, muốn tới thăm mộ người thân hay bạn bè ở một trong các nghĩa trang đó đều bị cấm - điều này đặc biệt ảnh hưởng tới những tín đồ Cơ đốc giáo trong ngày Lễ các Thánh - cũng như các goá phụ và người goá vợ, những người muốn được chôn cất bên cạnh bạn đời của mình. Mãi tới năm 1961 Đông Đức mới dần cho phép người Tây Berlin tới thăm các nghĩa trang vào các ngày lễ Cơ đocó giáo như Lễ các Thánh ngày 1 tháng 11 và Ngày Ăn năn và Sám hối của Tin lành.[5]

Từ năm 1948 tới năm 1952 Reichsbahn bắt đầu quá trình kết nối các vùng phụ cận của nó về những giới hạn phía tây của Tây Berlin với mạng lưới Berlin S-Bahn của nó. Các đoàn tàu địa phương từ các vùng này trước kia chạy vào và qua Tây Berlin có dừng tại các trạm ở một số nơi trong thành phố, từng tuyến một dần không còn dừng tại các ga ở phía tây hay dừng toàn bộ dịch vụ ở Tây Berlin. Trong trường hợp sau này các đoàn tàu sẽ dừng ở các ga chuyển đổi của S-Bahn. Các tuyến đường sắt tư nhân Tây Berlin như Neukölln-Mittenwalder Eisenbahn (NME), nối Mittenwalde của Đông ĐỨc với Tây Berlin-NeuköllnBötzowbahn giữa Tây Berlin-SpandauHennigsdorf Đông Berlin, bị dừng lại ngày 26 tháng 10 năm 1948 và tháng 8 năm 1950, ở biên giới giữa Tây Berlin và Đông Đức. Các đường tàu điện và xe buýt, được điều hành bởi công ty vận tải công cộng Tây Berlin Berliner Verkehrsbetriebe Gesellschaft (BVG-West) và nối Tây Berlin với các vùng phụ cận thuộc Đông Đức của nó phải dừng lại ngày 14 tháng 10 năm 1950, sau khi các lái xe điện và xe buýt Tây Berlin bị cảnh sát Đông Đức bắt nhiều lần.[6]

Đông Reichsbahn đóng cửa mọi ga đầu cuối Tây Berlin và chuyển hướng những chuyến tàu thường tới đó tới các ga ở Đông Berlin, bắt đầu với Berlin Görlitzer Bahnhof - đóng cửa ngày 29 tháng 4 năm 1951 -, trước khi phục vụ giao thông đường sắt với Görlitz và phía đông nam của Đông Đức, ngày 28 tháng 8 năm 1951 Berlin Lehrter Bahnhof tiếp theo, với các chuyến tàu từ các phần tây và tây bắc của Đông Đức được chuyển hướng tới các ga ở Đông Berlin và các chuyến tàu từ Tây Đức được chuyển hướng tới Tây Berlin Zoologischer Garten. Cuối cùng Reichsbahn đóng cửa cả Berlin Anhalter BahnhofBerlin Nordbahnhof, ngày 18 tháng 5 năm 1952. Anhalter Bahnhof cho tới khi ấy vẫn là ga đầu cuối cho các chuyến tàu từ Anhalt và các phần phía tây nam khác của Đông Đức (gọi là Trung Đức) cũng như từ Tây Đức Miền nam nước Đức. Các chuyến tàu từ phía tây một lần nữa được chuyển hướng tới ga Zoo, các chuyến tàu từ Đông Đức có điểm đến ở Đông Berlin. Nordbahnhof, cho tới ngày 1 tháng 12 năm 1950 được gọi là Berlin Stettiner Bahnhof, thường phục vụ giao thông đường sắt từ và tới Stettin và sau Thế chiến II với Hither Pomerania ở đông bắc Đông Đức. Nordbahnhof thực tế nằm ở Đông Berlin, tuy nhiên, hững đường nối của nó với Đông Đức có một đoạn thẳng ngắn qua Tây Berlin Borough of Wedding.

Ngày 28 tháng 8 năm 1951 Reichsbahn mở một đường nối mới - từ Spandau quaa ga Berlin Jungfernheide - cho các đường S-Bahn nối các vùng ngoại ô Đông Đức với Tây Berlin (được gọi là Falkensee, Staaken) với Đông Berlin, phá hỏng trung tâm Tây Berlin. Giai đoạn tiếp theo trong quá trình cắt Tây Berlin khỏi các vùng ngoại ô Đông Đức của Reichbahn là việc đưa ra tàu quá cảnh S-Bahn (tiếng Đức: Durchläufer), bắt đầu tháng 6 năm 1953. Những dịch vụ này khởi động ở các vùng ngoại ô Đông Đức liền kề với Tây Berlin (như Falkensee, Potsdam, Oranienburg, Staaken, và Velten), chạy không dừng qua Tây Berlin để ngừng tại các ga ở Đông Berlin. Từ ngày 17 tháng 6 tới mùng 9 tháng 7 năm 1953 Đông Đức cắt bất kỳ đường giao thông nào giữa Đông và Tây vì cuộc Nổi dậy Đông Đức năm 1953.

Từ ngày 4 tháng 10 năm ấy, tất cả các đoàn tàu S-Bahn vượt biên giới giữa Đông Đức và Đông hay Tây Berlin phải dừng ở phía đông Đức để kiểm soát biên giới. Tương tự các đoàn tuần tra và kiểm soát được tăng cường ở các đường phố Đông Đức dẫn tới Đông hay Tây Berlin Berlin, những người khách từ Đông Đức được kiểm tra trước khi vào bất kỳ phần nào của Berlin, để kiểm tra những người bị nghi ngờ muốn bỏ trốn sang phía tây hay buôn lậu các loại hàng hiếm vào Tây Berlin.[7] Một trong các mục đích khác của những cuộc tuần tra này là để đề phòng người Tây Berlin, những người vẫn được phép tự do vào Đông Berlin, nhưng không vượt qua các biên giới đô thị của nó vào lãnh thổ Đông Đức mà không có một giấy phép đặc biệt.

Bắt đầu từ năm 1951 Reichsbahn xây dựng đường sắt vành đai Berlin (tiếng Đức: Berliner Außenring (BAR)), nối mọi tuyến đường sắt dẫn tới Tây Berlin và tập trung giao thông bên trong Cộng hoà Dân chủ Đức từ đó, đưa thẳng họ tới Đông Berlin, nhưng bằng cách đi qua Tây Berlin. Với sự cạnh tranh dần gia tăng của đường vành đai, các chuyến tàu tốc hành Sputnik tập trung những người dân thành thị ở các vùng ngoại ô Đông Đức quanh tới Berlin để đưa họ vào Đông Berlin và quay trở lại mà không phải vượt qua các vùng phía tây. MỘt khi đã hoàn thành Außenring nhu cầu về các đoàn tàu quá cảnh S-Bahn sẽ không còn nữa và chúng ngừng hoạt động ngày 4 tháng 5 năm 1958. Với việc xây dựng Bức tường Berlin ngày 13 tháng 8 năm 1961 bất kỳ tuyến giao thông đường sắt còn lại nào giữa Tây Berlin và các vùng ngoại ô Đông Đức đều chấm dứt. Giao thông giữa Đông và Tây Berlin bị giảm mạnh và bị giới hạn xuống còn vài chốt gác hoàn toàn dưới sự kiểm tra của Cộng hoà Dân chủ Đức. Người Đông Berlin và người Đông Đức vì thế bị cấm tự do đi vào Tây Berlin. Tuy nhiên, người từ khắp thế giới, ngoại trừ người Tây Berlin, những người đã bị cấm hoàn toàn cho tới năm 1963, vẫn được cấp visa chỉ cho Đông Berlin - không bao gồm lãnh thổ Đông Đức - khi đi qua một trong những chốt gác của Bức tường. Để kiểm soát những du khách vượt biên giới thành thị Đông Berlin vào Đông Đức những đội tuần tra và kiểm soát trên những con phố và những tuyến đường sắt nối Đông Berlin và Đông Đức vẫn được tiếp tục, dù ít thường xuyên hơn, cho tới tận năm 1977.

Sau chính sách giảm căng thẳng của Chính phủ Liên bang dưới thời Thủ tướng Willy Brandt, trước kia gọi là Thị trưởng của Tây Berlin, người Tây Berlin một lần nữa được cho phép xin visa vào thăm Đông Đức, nó được cấp ít hạn chế hơn trong giai đoạn sau đó cho tới tận năm 1961. Vì thế từ ngày 4 tháng 6 năm 1972 công ty điều hành vận tải công cộng Tây Berlin BVG được phép mở tuyến xe bus đầu tiên của họ vào vùng ngoại ô Đông Đức từ năm 1950 (tuyến E tới Potsdam qua Chốt gác Bravo như nó được quân đội Hoa Kỳ gọi). Tất nhiên con đường này chỉ được mở cho những người có đủ mọi giấy phép và visa cần thiết của Đông Đức. Cho những chuyến thăm tới Đông Đức, xin cấp visa, người Tây Berlin có thể sử dụng một trong bốn chốt gác dọc theo biên giới Đông Đức quanh Tây Berlin: Hai chốt gác quá cảnh Dreilinden (W)/Drewitz (E) và Berlin-Heiligensee (W)/Stolpe (E) cũng như chốt gác quá cảnh cũ tại Heerstraße (W)/Staaken (E) và chốt gác tại Waltersdorfer Chaussee (W)/Schönefeld (E), cũng được mở cho các du khách quá cảnh, những người bắt các chuyến bay quốc tế từ Sân bay Schönefeld khi ấy thuộc Đông Đức. Một tuyến xe bus Đông Đức - không mở cho người phía đông - nối sân bay, qua chốt gác Waltersdorfer Chaussee tới ga Zoo của Đông Đức, cũng dừng tại các điểm giao thông khác bên trong Tây Berlin.

Tuy người Đông Đức luôn có thể tự do vào Tây Berlin, nếu Đông Đức cho phép họ đi, đó là trường hợp từ ngày 9 tháng 11 năm 1989 trở về sau, người Tây Berlin và người Tây Đức chỉ được cho phép tự do đi vào Đông Đức từ ngày 22 tháng 12 năm 1989, khi Đông Đức ngừng yêu cầu visa và khoản phí bắt buộc 25 mark Tây Đức mỗi ngày. Ngày 30 tháng 6 năm 1990 mọi hoạt động kiểm tra hộ chiếu ngừng lại.

Giao thông giữa Đông và Tây Berlin[sửa | sửa mã nguồn]

Tuy Đông và Tây Berlin đã chính thức trở thành những khu vực pháp lý riêng biệt từ tháng 9 năm 1948, và tuy có những hạn chế đi lại ở mọi hướng khác, trong hơn một thập kỷ, quyền tự do đi lại vẫn tồn tại ở những khu vực phía tây và phía đông của thành phố. Tuy nhiên, thỉnh thoảng người Liên xô và sau này là chính quyền Đông Đức lại áp đặt các hạn chế tạm thời với một số người, một số con đường, và một số phương tiện vận tải. Dần dần chính quyền phía đông cắt đứt và chia tách hai phần của thành phố.

Khi người Liên xô phong toả mọi tuyến đường vận chuyển tới Tây Berlin (Phong toả Berlin từ 24 tháng 6 năm 1948 tới 12 tháng 5 năm 1949) họ đã gia tăng các nguồn cung thực phẩm cho Đông Berlin, để giành thiện cảm của người Tây Đức, những người ở thời điểm ấy vẫn có quyền tự do vào Đông Berlin. Những người Tây Berlin, mua thực phẩm từ Đông Berlin, bị coi là ủng hộ nỗ lực của Liên xô nhằm đẩy lui các Đồng minh phương Tây khỏi Tây Berlin, được hầu hết những người cộng sản coi là người ủng hộ họ và hầu hết những người phía tây coi là những kẻ phản bội. Cho tới thời điểm ấy toàn bộ nguồn cung thực phẩm và các đồ nhu yếu khác trên toàn nước Đức chỉ được bán theo tem phiếu do một chính quyền thành phố cung cấp, tới cuộc nổi dậy Cộng sản trong chính quyền thành phố Berlin tháng 9 năm 1948 - Hội đồng Thành phố đơn nhất của Đại Berlin (tiếng Đức: Magistrat von Groß Berlin) cho Đông và Tây.

Tới tháng 7 năm 1948 chỉ có 19,000 người Tây Berliner trong tổng số gần 2 triệu người kiếm thực phẩm từ Đông Berlin. Vì thế 99% người Tây Berlin muốn sống với các nguồn cung cấp hạn chế hơn trước cuộc Phong toả và ủng hộ lập trường của Đồng minh phương Tây. Tại Tây Đức việc phân phối hầu hết các nhu yếu phẩm đã chấm dứt với việc đưa vào sử dụng đồng Deutsche Mark Tây Đức ngày 21 tháng 6 năm 1948. Đồng tiền mới cũng được đưa vào sử dụng ở Tây Berlin ngày 24 tháng 6 và điều này, ít nhất trên thực tế được lấy làm nguyên nhân cho vụ Phong toả của Liên xô, và vì thế việc cung cấp thực phẩm ở Tây Berlin phải tiếp tục. Tuy nhiên trong quá trình cuộc Không vận Berlin một số đồ nhu yếu phẩm đã tăng cao hơn mức trước cuộc Phong toả và vì thế một số hạn mức cung cấp ở Tây Berlin đã được tăng lên.

Tuy người Tây Berlin được chính thức chào đón sang mua thực phẩm ở Đông Berlin, người Liên xô đã tìm cách ngăn họ mua các mặt hàng thiết yếu ở đó, đặc biệt là than và nhiên liệu. Vì lý do này, ngày 9 tháng 11 năm 1948, họ đã mở các chốt gác trên 70 phố vào Tây Berlin và đóng các chốt khác với các xe ngựa, xe tải và xe hơi, sau này (ngày 16 tháng 3 năm 1949) người Liên xô đã dựng lên các chốt phong toả đường bộ trên những phố đã bị đóng. Từ ngày 15 tháng 11 năm 1948 các tem phiếu của Tây Berlin không còn được chấp nhận ở Đông Berlin nữa. Tương tự, người Liên xô đã khởi động một chiến dịch với khẩu hiệu Người Tây Berlin thông minh mua hàng tại HO (tiếng Đức: Der kluge West-Berliner kauft in der HO, HO là vùng có dãy cửa hàng của Liên xô. Họ cũng mở cửa cái gọi là "Các Cửa hàng Tự do" ở khu phía đông, cung cấp các đồ nhu yếu phẩm mà không cần tem phiếu, nhưng với giá rất cao bằng đồng Deutsche Mark của Đông Đức. Người dân thường Đông và Tây Berlin chỉ có thể mua hàng tại đó nếu họ có các khoản thu nhập bằng đồng Deutsche Mark Tây Đức và đổi được sang đồng Deutsche Mark Đông Đức trên thị trường tiền tệ, được phát triển ở khu vực của Anh tại ga Zoo. Nhu cầu và nguồn cung quyết định tỷ giá trao đổi với ưu thế dành cho đồng Deutsche Mark Tây Đức với hơn 2 Deutsche Marks Đông Đức đổi một Deutsche Mark Tây Đức. Sau cuộc Phong toả - khi những người có Deutsche Marks Tây Đức có thể mua bao nhiêu tuỳ thích nếu có tiền, tỷ lệ lên tới năm hay sáu mark Đông Đức đổi một mark Tây Đức. Tuy nhiên, ở phía đông, người Liên xô quy định tỷ giá 1:1 khi trao đổi và mọi tỷ giá khác đều là phạm pháp.

Ngày 12 tháng 5 năm 1949 cuộc phong toả chấm dứt và mọi điểm phong toả đường bộ và các chốt gác giữa Đông và Tây Berlin bị xoá bỏ. Tuy nhiên, cuộc Không vận Berlin kéo dài tới tận 30 tháng 9 năm 1949 để tích luỹ đủ đồ nhu yếu phẩm ở Tây Berlin sẵn sàng cho khả năng một vụ phong toả khác, đảm bảo rằng một cuộc không vận sau đó có thể được tái lập dễ dàng. Ngày 2 tháng 5 năm 1949 các trạm điện ở Đông Berlin một lần nữa bắt đầu cung cấp đủ điện cho Tây Berlin, vốn đã bị hạn chế ở mức vài giờ mỗi ngay sau khi việc cung cấp bình thường đã bị ngắt khi cuộc phong toả bắt đầu. Tuy nhiên, các Đồng minh phương Tây và Hội đồng thành phố Tây Berlin quyết định tự cấp về khả năng sản xuất điện, để được độc lập khỏi các nguồn cung cấp từ phía đông và không bị chính quyền phía đông gây áp lực. Ngày 1 tháng 12 năm 1949 powerhouse West (tiếng Đức: Kraftwerk West mới, năm 1953 được đổi theo tên cựu Thị trưởng Tây Berlin thành Kraftwerk Reuter West) đi vào hoạt động và ban quản lý điện Tây Berlin tuyên bố độc lập khỏi các nguồn cung từ Đông Berlin. Tuy nhiên, trong một thời gian nguồn điện từ phía đông vẫn tiếp tục được cung cấp dù không liên tục. Việc cung cấp bị ngắt từ ngày 1 tháng 7 cho tới cuối năm 1950 và sau đó khởi động lại cho tới ngày 4 tháng 3 năm 1952, khi phía đông cuối cùng ngắt hoàn toàn. Từ đó về sau Tây Berlin trở thành một hòn 'đảo điện' bên trong mạng lưới điện xuyên châu Âu đã được phát triển từ thập niên 1920, bởi việc chuyển tải điện giữa Đông và Tây Đức không bao giờ ngừng lại hoàn toàn. Tình thế 'đảo điện' được nhắc tới nhiều nhất trong những tình huống nhu cầu tăng đặc biệt cao; tại các khu vực khác của châu Âu nhu cầu tăng cao có thể được đáp ứng bằng cách lấy từ nguồn cung của các nước láng giềng, nhưng ở Tây Berlin cách này không thể thực hiện và với một số người dùng nguồn điện sẽ bị cắt.

Năm 1952 người Tây Berlin bị giới hạn đi vào lãnh thổng Đông Đức bằng cách gây khó khăn cho việc cấp giấy phép đi lại. Việc đi lại tự do vào Đông Berlin vẫn có thể cho tới năm 1961 và việc xây dựng bức tường. Tàu điện ngầm Berlin (Untergrundbahn, U-Bahn) và hệ thống S-Bahn của Berlin (một mạng lưới vận tải công cộng thành thị), được xây dựng lại sau chiến tranh, tiếp tục mở rộng ra mọi khu vực chiếm đóng. Nhiều người sống ở một phần của thành phố và có gia đình, bạn bè, và công việc ở nửa phần bên kia. Tuy nhiên, phía đông tiếp tục giảm các phương tiện vận chuyển giữa Đông và Tây, với việc xe hơi còn là một ưu tiên rất hiếm ở phía đông và vẫn là một mặt hàng xa xỉ ở phía tây.

Bắt đầu từ ngày 15 tháng 1 năm 1953 mạng lưới tàu điện bị ngắt. Công ty điều hành vận tải công cộng Đông Berlin Berliner Verkehrsbetriebe (BVG-East, BVB ở thời điểm mùng 1 tháng 1 năm 1969) điều hành mọi chuyến tàu điện, với các tuyến xuyên các biên giới khu vực, với các nữ lái tàu, không được BVG (Tây), công ty điều hành vận tải công cộng Tây Berlin cho phép lái tàu. Thay vì thay đổi các quy định của phía tây, nhờ thế việc dự định ngắt quãng việc vận chuyển xuyên biên giới của phía đông sẽ không xảy ra, BVG (West) vẫn khăng khăng việc các lái tàu là nam giới. Vì thế việc vận chuyển tàu điện xuyên biên giới chấm dứt ngày 16 tháng 1.[8] Tại Đông Đức việc tuyên truyền nói rằng đây là một điểm cho phía đông, với lý lẽ phía tây không cho phép các tài xế đi cùng tàu của mình từ phía đông vào tuyến đường của họ ở phía tây, nhưng vẫn giữ im lặng về thực tế rằng việc chấm dứt vận tải bằng tàu điện được phía đông ưa thích hơn. Các mạng lưới tàu điện ngầm và S-Bahn, ngoại trừ các chuyến tàu quá cảnh S-Bahn đã đề cập ở trên, tiếp tục cung cấp dịch vụ giữa Đông và Tây Berlin. Tuy nhiên, thỉnh thoảng cảnh sát Đông Berlin - trên các đường phố và trên các chuyến tàu xuyên biên giới ở Đông Berlin - xét giấy những người có những hành động khả nghi (như mang theo những đồ nặng sang phía tây) và canh gác những người phía tây không được chào đón.

Trong một thời gian người Tây Đức đã bị cấm đi vào Đông Berlin. Một trường hợp như vậy đã xảy ra từ ngày 29 tháng 8 tới 1 tháng 9 năm 1960, khi cái gọi là những người trở về nhà (tiếng Đức: Heimkehrer) từ khắp Tây Đức và Tây Berlin gặp gỡ trong một cuộc hội họp ở thành phố này. Những người trở về nhà sau một thời gian dài bị giam giữ cưỡng bách ở Liên xô - với những kinh nghiệm đặc biệt của họ ở đó - rất không được đón chào ở Đông Berlin.[9] Bởi họ không thể được phát hiện theo các giấy tờ mọi người Tây Đức đều bị cấm vào Đông Berlin trong những ngày đó. Những người Tây Berlin lại được phép, bởi quy định trước đó của Đồng Minh bốn bên viết rằng họ được tự do di chuyển tại bốn khu vực. Từ ngày 8 tháng 9 năm 1960 trở về sau, phía đông buộc mọi ngưoiừ Tây Đức phải xin giấy phép trước khi vào Đông Berlin.

Khi chế độ chuyên chính vô sản phát triển ở phía đông, nhưng sự phục hồi kinh tế ở phía tây lại vượt xa hơn sự phát triển ở phía đông, hơn một trăm nghìn người Đông Đức và Đông Berlin đã rời bỏ Đông Đức và Đông Berlin để sang phía tây mỗi năm. Đông Đức đã đóng các biên giới giữa Đông và Tây Đức và đóng chặt biên giới với Đông Berlin từ năm 1952; nhưng bởi vị thế bốn Đồng minh chiếm đóng của thành phố, biên gới giữa Đông và Tây Berlin vẫn được mở cửa. Bởi có sự tự do di chuyển giữa Tây Berlin và Tây Đức, những người phía đông có thể sử dụng thành phố này như một điểm chuyển tiếp tới Tây Đức - và thường tới đó bằng máy bay.

Để ngăn dòng người đào tẩu, chính phủ Đông Đức đã xây dựng Bức tường Berlin, nhờ thế đóng hoàn toàn Tây Berlin với Đông Berlin và Đông Đức, ngày 13 tháng 8 năm 1961. Tất cả các con phố, cây cầu, đường, cửa sổ, cửa đi, cổng hay đường ống nước mở sang Tây Berlin đều bị xây tường, đổ bê tông, hàn chắn hay dây thép gai bịt lại. Bức tường có mục đích cản trở những người phía đông, những người từ khi nó được xây dựng đã không được phép rời phía đông nữa, ngoại trừ khi có giấy phép của phía đông, và thường giấy phép không bao giờ được cấp.

Những người phía tây vẫn được trao visa để vào Đông Berlin. Ban đầu tám chốt gác trên đường phố được mở, và một chốt gác tại ga đường sắt Berlin Friedrichstraße, có thể tới được bằng một đường xe điện ngầm phía tây (U 6 ngày nay), hai đường S-Bahn phía tây, một dưới và một trên mặt đất (xấp xỉ S 2S 3 ngày nay, tuy nhiên các tuyến đường đã thay đổi nhiều từ năm 1990), và các chuyến tàu quá cảnh giữa Tây ĐỨc và Tây Berlin khởi đầu và chấm dứt tại đó.

Bản đồ thể hiện vị trí bức tường Berlin và các điểm quá cảnh

Tám chốt gác trên đường phố - từ Bắc xuống Nam dọc theo Bức tường - tại Bornholmer Straße, Chausseestraße, Invalidenstraße, Cổng Brandenburg, Friedrichstraße (Chốt gác Charlie theo cách gọi của Mỹ, bởi đây là điểm đi vào khu vực của họ), Heinrich-Heine-Straße (cũng được gọi là Chốt gác Delta), và Sonnenallee. Khi việc xây dựng Bức tường bắt đầu vào nửa đêm ngày 13 tháng 8, Thị trường Tây Berlin Willy Brandt đang ở trong một tour chiến dịch tranh cử ở Tây Đức. Đi tàu hoả tới Hanover lúc 4 giờ sáng ông được thông báo về Bức tường và đã bay về Sân bay Trung tâm Tempelhof. Trong ngày hôm đó ông đã biểu tình - cùng với nhiều người Tây Berlin khác - tại Potsdamer Platz và tại Cổng Brandenburg phản đối Bức tường. Ngày 14 tháng 8 phía đông đóng cửa chốt gác tại Cổng Brandenburg, trước sự đòi hỏi của những người biểu tình phía tây, cho tới khi có thông báo tiếp sau, kéo dài tới tận ngày 22 tháng 8 năm 1989, khi cuối cùng nó được mở cửa trở lại.

Ngày 26 tháng 8 năm 1961 Đông Đức nói chung cấm người Tây Berlin đi vào khu vực phía đông. Tuy nhiên, người Tây Đức và những người quốc tịch khác vẫn có thể được cấp visa vào Đông Berlin. Bởi những đường điện thoại liên thành phố đã bị phía đông cắt đi vào tháng 5 năm 1952 (xem bên dưới) cách liên lạc duy nhất với gia đình hay bạn bè ở phía bên kia là bằng thư hay gặp gỡ tại các nhà hàng dọc xa lộ trên một tuyến đường quá cảnh, bởi giao thông quá cảnh không bao giờ bị động tới.

Ngày 18 tháng 5 năm 1962 Đông Đức mở cửa - tại ga Berlin Friedrichstraße - cái thường được gọi là sảnh kiểm tra Tränenpalast (Cung điện nước mắt), nơi những người phía đông phải nói một lời chia tay đầy nước mắt với những người phía tây hay người phía đông đang quay trở về, những người đã tìm cách kiếm được giấy phép vào phía tây. Cho tới tháng 6 năm 1963 phía đông đã đào sâu hơn vùng biên giới quanh Tây Berlin tại Đông Đức và Đông Berlin bằng cách phát quang những toà nhà và cây cối để có một khu vực trống, bị hàn kín bởi Bức tường Berlin về phía tây và một bức tường hay hàng rào thứ hai tương tự về phía đông, bị quan sát bởi những tháp canh và nhân viên vũ trang, đã được lệnh bắn những người tìm cách tị nạn.

Finally in 1963 West Berliners were for the first time allowed to visit East Berlin again. On this occasion a further checkpoint for pedestrians only was opened on Oberbaumbrücke. West Berliners were granted visas for a one-day-visit between 17 December 1963 and 5 January the following year. 1.2 million West Berliners - out of a total 1.9 million - visited East Berlin during this time. In 1964, 1965 and 1966 East Germany opened again to West Berliners, each time only for a limited period.

East Germany had its special joy in playing with the different legal statuses it assigned to East Germans - including East Berliners and West Germans as distinguished from West Berliners, as well as citizens from all other countries in the world. So East Germany decreed every Border crossings in East Berlin to be open for another combination of persons, with only one street checkpoint open simultaneously for West Berliners and West Germans (Bornholmer Straße) and Berlin Friedrichstraße railway station being open for all travellers.

On 9 September 1964 the East German Council of Ministers (government) decided to allow Eastern pensioners to visit family in West Germany or West Berlin. According to the specified regulations valid from 2 November on Eastern pensioners could apply - and were usually allowed - to travel once a year for maximally four weeks into the West to visit relatives. If pensioners decided not to return, the government did not miss them as workforce, in difference to younger Easterners, who were subject to a system of labour and employment, which demanded almost everybody to work in the Eastern command production system.

On 2 December 1964 East Germany - meanwhile ever the more short in foreign exchange - decreed that every Western visitor had to buy a minimum of 5 Eastern Mark der Deutschen Notenbank (MDN,[10] 1964-1968 the official name of the East German mark, to distinguish it from the West Deutsche Mark) per day at the still held arbitrary compulsory rate of 1: 1. The five marks were to be spent, exporting Eastern currency was illegal, which is why importing it - after having bargained it at the currency market at Zoo station - was also illegal. Western pensioners and children were spared from the compulsory exchange (officially in tiếng Đức: Mindestumtausch, i.e. minimum exchange). Soon later East Germany could hold the first harvest of the new compulsory exchanges by allowing West Berliners again to visit East Berlin for a day in the Christmas season. The following year East Germany opened the travelling season for West Berliners on 18 December 1965. In 1966 it opened a second harvesting, that is travelling season for West Berliners around the Easter (April 10) and Pentecost (May 29) holidays and later again in the Christmas season.

The situation only changed fundamentally after 11 December 1971 when the Western Egon Bahr and the Eastern Michael Kohl signed for the two German states the Transit Agreement, followed by a comparable agreement for West Berliners, allowing them again regular visits in East Germany and East Berlin.

After ratification of the Agreement and specifying the pertaining regulations West Berliners could apply for the first time again for visas for any chosen date to East Berlin or East Germany from 3 October 1972 on. If granted, a one-day-visa entitled them to leave the East until 2a.m. the following day. West Berliners were now spared the visa fee of 5 Western Deutsche Mark, not to be confused with the compulsory exchange amounting to the same sum, but yielding in return 5 Eastern marks. This financial relief did not last long, because on 15 November 1973 East Germany doubled the compulsory exchange to 10 Eastern marks, payable in West German Deutsche Marks at par.

One-day-visas for East Berlin were now issued in a fast procedure on entering East Berlin; visas for longer stays and visas for East Germany proper needed a prior application, which could be a lengthy procedure. To ease the application of West Berliners for such Eastern visas, the Foreign Ministry of East Germany was later allowed to open Offices for the Affairs of Visits and Travelling (tiếng Đức: Büros für Besuchs- und Reiseangelegenheiten) in West Berlin, which were not allowed to show any official symbols of East Germany. The Eastern officials officiating there travelled every morning and evening from and to East Berlin, their uniforms showed no official symbols except the name Büro für Besuchs- und Reiseangelegenheiten. They accepted visa applications and handed out confirmed visas - issued in the East - to the West Berlin applicants. A barack formerly housing one such Büro für Besuchs- und Reiseangelegenheiten can be found on Waterlooufer # 5-7 in Berlin-Kreuzberg, close to Hallesches Tor underground station.[11] The disagreement about Berlin's status was one of the most important debates of the Cold War.

Another form of traffic between East and West Berlin was the transfer of West Berlin's sewage into East Berlin and East Germany through the sewer pipes built in the late 19th and early 20th century. The sewage flowed into the East because most of the pre-war premises for sewage treatment, mostly sewage farms, happened to be in the East after the division of the city. Sewer pipes, however, once discovered as a way to flee the East, were blocked by bars. West Berlin paid for the treatment of its sewage in Western Deutsche Marks, desperately needed by the Eastern government. Since the technique used in the East did not meet the Western standards, West Berlin increased the capacity of modern sewage treatment within its territory, so that the amount of its sewage treated in the East, could be considerably reduced until the Wall came down.

Similar was the situation with garbage. The removal, burning or disposal of the ever-growing amount of West Berlin's garbage became a costly problem. Also here an agreement was found, since West Berlin would pay for it in Western Deutsche Marks. On 11 December 1974 East Germany and West Berlin's garbage utility company BSR signed a contract to dispose of garbage on a dump right beyond the Wall in East German Groß-Ziethen (now a component of today's Schönefeld). An extra checkpoint, only open for Western bin lorries was opened there. Later a second dump, further away, was opened in Vorketzin, a component of Ketzin.

As to the S-Bahn, operated in all of Berlin by the East German Reichsbahn, the construction of the Wall meant a deep cut into its integrated net of lines, especially for Berlin's circular S-Bahn line around all of the Western and Eastern inner city. The lines were separated and those mostly located in West Berlin were continued, but only accessible from West Berlin with all entrances towards East Berlin closed. However, already before the Wall had been built, West Berliners refrained more and more from using the S-Bahn, since boycotts against it were issued, arguing that every ticket bought with the S-Bahn provides the East German government with valuable Western Deutsche Marks. So the usage dropped, while the Western public transport operator BVG (West) offered increasingly parallel bus lines and expanded its net of underground lines. After the construction of the Wall the boycott severed sharply, so that the use dropped so far that running the S-Bahn lines in West Berlin turned into a loss-making exercise: wages and maintenance costs - however bad it was carried out - outdid the proceeds from ticket sales. So the Reichsbahn finally agreed to give up the operation of the S-Bahn in West Berlin, as had been determined by all Allies in 1945, and on 29 December 1983 the Allies, the Senate of Berlin (West; i.e. the city state government) and the Reichsbahn signed an agreement to change the operator from Reichsbahn to BVG (West) with effect of 9 January 1984.

On November 9, 1989 East Germany opened the borders for East Germans and East Berliners, who could then enter freely to West Berlin, because it never restricted their entry. For West Berliners and West Germans the opening of the border for free entry lasted longer. The regulation of getting one-day-visas at entering the East and paying the compulsory exchange, amounting to 25 Western Deutsche Marks by 1989, continued. However, more than the prior few checkpoints were now opened. Finally on December 22, 1989 East Germany granted West Berliners and West Germans free entry without any charges at the existing checkpoints, demanding valid papers. Eastern controls were slowly altered into spot checks and finally abolished on June 30, 1990, the day East and West introduced the a union concerning currency, economy and social safety (tiếng Đức: Währungs-, Wirtschafts- und Sozialunion).

Giao thông giữa các phần khác nhau của Tây Berlin qua phía đông[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ Berlin bị phân chia, được thể hiện bởi đường đứt gãy tại biên giới phía tây của Berlin lãnh thổ tái bố trí do Đồng minh quyết định. Năm khu lớn trong số mười hai khu chia tách của Berlin cũng được thể hiện.

Các biên giới Đông và Tây Berlin có đường đi rắc rối, gồm nhiều phần chia tách và gộp trong, bởi các biên giới đi theo các biên giới thành thị của các thành phần của nó, vốn đã phát triển từ thế kỷ 12 với một số lần tạm thời thay đổi năm 1920 - theo Luật Đại Berlin, năm 1938 - bởi một sự đơn giản hoá một số biên giới thị xã bên trong Đại Berlin và bởi Đồng minh vào tháng 8 năm 1945, ví dụ việc vẽ ra khu vực Berlin theo cách này, nó có thể gồm toàn bộ Sân bay của Wehrmacht tại Berlin-Gatow ở góc tây nam của khu vực này. Đổi lại khu địa lý phía tây của quận Tây Berlin Staaken - ở cực tây của Khu Anh, được trao cho người Liên xô. Điều này gây ra một thực tế rắc rối, bởi ở thời điểm năm 1951 vùng địa lý phía tây Staaken là một khu vực chia tách của Đông Đông Berlin về chính trị ở vùng ngoại ô phía tây về địa lý của Tây Berlin, trong khi vùng địa lý phía đông Staaken về chính trị vẫn thuộc trong khu vực phía tây của Anh, vì thế là Berlin.[12]

Theo Thoả thuận bốn cường quốc về Berlin (1971) Đồng minh cho phép Tây Berlin đàm phán việc tái bố trí lãnh thổ với Đông Đức. Ngày 20 tháng 12 năm 1971 lần tái bố trí lãnh thổ đầu tiên diễn ra, liên quan tới các khu vực chia tách số 1–3, 6, 8, 10 và 11 được đề cập dưới đây, gộp các phần sau với Tây Berlin và nhượng sáu phần trước cho Đông Đức cũng như kèm theo một khoản chi trả bốn triệu Mark Tây Đức cho phía đông. Những vùng chia tách còn lại hoặc bị nhượng (số 5, 7 và 12) cho Đông Đức hay các lãnh thổ có liên kết với Tây Berlin (số 4 và 6) trong đợt tái bố trí lần hai năm 1988.

Mười hai phần tách ngoài của Tây Berlin như sau:

  • 1–3 Böttcherberg Bản mẫu:De-icon (0.30 ha/0.74 acre): ba mảnh đất không kết nối, không có người ở và không sử dụng, thuộc Borough of Zehlendorf của Tây Berlin, được nhượng cho Đông Đức năm 1971, từ đó là một phần của Potsdam.
  • 4 Erlengrund Bản mẫu:De-icon (0.51 ha/1.26 acre): Allotment club, thỉnh thoảng có người ở, thuộc Borough of Spandau, kết nối về lãnh thổ với Tây Berlin, khi Đông Đức nhượng dải đất xen giữa năm 1988. Cho tới năm 1988 những người ở đó phải đi lại dưới sự giám sát của Đông Đức trên quãng đường ngắn của họ giữa Erlengrund và phần còn lại của Tây Berlin. Những người khác, như bạn bè và người thân, không nói tới những người lạ, không được phép qua, ngoại trừ những người cứu hộ khẩn cấp. Con đường nối Erlengrund được rào cả hai phía để không cho người phía đông đi vào.
  • 5 Falkenhagener Wiese (45.44 ha/112.28 acre): đồng cỏ không sử dụng, thuộc Borough of Spandau, được nhượng cho Đông Đức năm 1988, từ đó là một phần của Falkensee.
  • 6 Fichtewiese Bản mẫu:De-icon (3.51 ha/8.67 acre): Allotment club, thỉnh thoảng có người ở, thuộc Borough of Spandau, có kết nối về lãnh thổ với Tây Berlin, khi Đông Đức nhượng dài đất xen giữa năm 1988. Cho tới năm 1988 những người ở đó phải đi lại dưới sự giám sát của Đông Đức trên quãng đường ngắn của họ giữa Fichtewiese và phần còn lại của Tây Berlin. Những người khác, như bạn bè và người thân, không nói tới người lạ, không được phép qua, trừ những người cứu hộ khẩn cấp. Con đường nối Fichtewiese được rào cả hai phía để không cho người phía đông đi vào.
  • 7 Finkenkrug, (3.45 ha/8.53 acre): do người Đông Đức ở, 5 km từ biên giới Tây Berlin, thuộc Borough of Spandau, được nhượng cho Đông Đức năm 1971, từ đó là một phần của Falkensee.
  • 8 Große Kuhlake (8.03 ha/19.84 acre): đồng cỏ không sử dụng, thuộc Borough of Spandau, được nhượng cho Đông Đức năm 1971.
  • 9 Laßzins-Wiesen (13.49 ha/33.33 acre): đồng cỏ không sử dụng, thuộc Borough of Spandau, được nhượng cho Đông Đức năm 1988, từ đó là một phần của Schönwalde.
  • 10 Nuthewiesen Bản mẫu:De-icon (3.64 ha/8.99 acre): đồng cỏ ướt không có người ở, thuộc Borough of Zehlendorf, được nhượng cho Đông Đức năm 1971, từ đó là một phần của Potsdam.
  • 11 Steinstücken (12.67 ha/31.31 acre): không có người Tây Berlin sinh sống, thuộc Zehlendorf, có kết nối về lãnh thổ với Tây Berlin, khi Đông Đức nhượng lại dài đất xen giữa năm 1971. Cho tới năm 1971 những người ở đó phải đi lại dưới sự giám sát của Đông Đức trên quãng đường ngắn của họ giữa Steinstücken và phần còn lại của Tây Berlin. Những người khác, như bạn bè và người thân, không nói tới người lạ, không được phép qua, trừ những người cứu hộ khẩn cấp. Con đường nối Fichtewiese được rào cả hai phía để không cho người phía đông đi vào.
  • 12 Wüste Mark Bản mẫu:De-icon (21.83 ha/53.94 acre): dù cái tên như vaayj, nó không phải là vùng đất bỏ đi mà tỉnh thoảng được trồng cấy, thuộc Borough of Zehlendorf, được nhượng cho Đông Đức năm 1988, từ đó là một phần của Stahnsdorf. Wüste Mark là một dải đất nằm xen giữa cánh rừng nghĩa địa của Wilmersdorf tại Güterfelde. Cho tới năm 1988 những nông dân Tây Berlin trồng cấy ở đây vẫn được cho phép điều khiển máy cày qua Đông Đức sau khi thông báo theo một quy định từ trước.

Khi bức tường được xây dựng năm 1961 ba đường metro chạy từ các phần phía bắc của Tây Berlin, qua các đường hầm dưới trung tâm thành phố phía đông và chấm dứt ở các vùng phía nam của Tây Berlin. Những đường có liên quan ngày nay là các đường xe điện ngầm U 6U 8 và đường S-Bahn S 2 (ngày nay được sử dụng một phần bởi các tuyến khác). Khi Tây Berlin bị chia tách hoàn toàn với Đông Berlin bởi Bức tường Berlin những lối vào các gia trên các tuyến đường đó ở Đông Berlin bị đóng cửa, tuy nhiên các chuyến tàu từ phía tây được phép tiếp tục đi qua mà không phải dừng lại. Các hành khách trong các đoàn tàu đó cảm giác được sự trống trơn và nghèo nàn như đang ở trong 'ga tàu ma' khi thời gian đã dừng lại kể từ ngày 13 tháng 8 năm 1961. Công ty điều hành vận tải công cộng Tây Berlin BVG (West) trả cho phía đông một khoản phí bằng đồng Mark Tây Đức hàng năm cho việc sử dụng những đường hầm dưới Đông Berlin. U 6S 2 cũng có một điểm dừng ngầm tại ga đường sắt Berlin Friedrichstraße ở phía đông, ga duy nhất bên dưới Đông Berlin nơi các chuyến tàu từ phía tây vẫn được phép dừng. Hành khách có thể đổi tàu tại đó giữa tuyến U 6 và S 2 hay để bắt các đoàn tàu quá cảnh tới Tây Đức, mua thuốc lá và rượu bằng đồng mark tây đức tại các kiosk của Đông Đức, hay vào Berlin qua một chốt gác vốn có.

Bưu điện và viễn thông[sửa | sửa mã nguồn]

Tây Berlin có cơ quan bưu chính của riêng mình ban đầu được gọi là Deutsche Post Berlin (1947-1955) và sau đó là Deutsche Bundespost Berlin, tách biệt với Deutsche Bundespost của Tây Đức, và phát hành tem bưu chính của riêng mình cho tới năm 1990. Tuy nhiên, việc chia tách chỉ mang tính biểu tượng, trên thực tế dịch vụ bưu chính của Tây Berlin hoàn toàn tích hợp với dịch vụ của Tây Đức, cùng sử dụng hệ thống mã bưu chính. Đông và Tây đều đã khởi sự các cuộc chiến bưu chính năm 1948/1949 (trong cuộc Phong toả) và năm 1959/1960 (Năm Người tị nạn Thế giới) từ chối chuyển các bức thư có dán tem thể hiện các giá trị trên đồng tiền tệ mới của Đông và Tây Đức hay dán những con tem đặc biẹt thể hiện các chủ đề liên quan tới cuộc Phong toả hay số phận của những người tị nạn của Thế chiến II.

Bưu điện cũng điều hành mạng lưới điện thoại ở Berlin. Nó ở tình trạng tồi tệ ở cả bốn khu vực, bởi trước tháng 7 năm 1945, trước khi các Đồng minh phương Tây kiểm soát các khu vực khác, người Liên xô đã tháo và chuyển hầu như mọi tổng đài điện thoại tự động, cho phép thực hiện quay số trực tiếp chứ không phải qua tổng đài thao tác bằng tay. Vì thế mạng lưới điện thoại của Berlin đã giảm từ hàng trăm nghìn số xuống chỉ còn 750 vào cuối năm 1945, tất cả chúng đều thuộc nhân viên Đồng minh hay các dịch vụ hữu ích. Việc xây dựng lại hệ thống trở thành một công việc kéo dài bởi cuộc khủng hoảng kinh tế thời hậu chiến và cuộc Phong toả Berlin sau đó. Ngày 25 tháng 2 năm 1946 những cuộc gọi giữa Berlin và bất kỳ khu vực nào trong bốn khu vực chiếm đóng của Đồng Minh một lần nữa lại có thể diễn ra. Tháng 4 năm 1949 nhánh phía đông của Deutsche Post ngắt toàn bộ 89 đường điện thoại sẵn có giữa Tây Berlin và vùng chiếm đóng của Liên xô tại Đức.

Trong lúc ấy Tây Berlin được tích hợp vào trong mạng điện thoại Tây Đức, sử dụng cùng mã quay số quốc tế như Tây Đức, +49, với mã vùng 030. Ngày 27 tháng 5 năm 1952 Deutsche Post phía đông cắt toàn bộ 4,000 nối Đông và Tây Berlin. Để giảm việc phía đông mắc rẽ vào đường viễn thông giữa Tây Berlin và Tây Đức các kết nối radio vi sóng chuyển tiếp được xây dựng, với các cuộc gọi đường truyền phát không dây giữa các trạm ăng ten ở Tây Đức và Tây Berlin, nơi hai ăng ten được xây dựng, một ăng ten tại Berlin-Wannsee và sau này một cái thứ hai tại Berlin-Frohnau, hoàn thành ngày 16 tháng 5 năm 1980 với chiều cao 358m (tháp này bị phá bỏ ngày 8 tháng 2 năm 2009).

Sau thời kỳ giảm căng thẳng, ngày 31 tháng 1 năm 1971 Đông Đức cho phép mở 10 đường điện thoại giữa Đông và Tây Berlin. Mã vùng phía tây cho Đông Berlin khi đó là 00372. Những cuộc gọi từ Đông Berlin chỉ có thể được thực hiện qua tổng đài. Ngày 24 tháng 6 năm 1972 Đông Berlin mở 32 tổng đài chuyển mạch (exchange) địa phương (gồm cả Potsdam) ở vùng phụ cận Đông Đức của Tây Berlin cho những cuộc gọi từ Tây Berlin. Từ ngày 14 tháng 4 năm 1975 người Đông Berlin một lần nữa có thể gọi điện trực tiếp tới Tây Berlin, mà không phải qua tổng đài. Đông Đức đã chấm nhận gia tăng số đường điện thoại giữa Đông và Tây Berlin lên 120 đường ngày 15 tháng 12 năm 1981. Tuy nhiên, các cuộc gọi cá nhân rất hiếm ở phía đông. Năm 1989, 17 triệu người Đông Đưc (gồm cả người Đông Berlin) chỉ có 4 triệu điện thoại, chỉ một nửa số này được lắp đặt tại các hộ gia đình, số còn lại thuộc các văn phòng, công ty, kiosk điện thoại công cộng và tương tự.

Các khu của Tây Berlin[sửa | sửa mã nguồn]

Vào Đông Berlin từ Tây Berlin

Tây Berlin gồm các khu sau:

Trong vùng chiếm đóng của Mỹ:

Trong vùng chiếm đóng của Anh:

Trong vùng chiếm đóng của Pháp:

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tương tự các đại sứ quán của Đồng Minh, sau này được mở ở Đông Berlin, trên chính thức không được gọi là - ví dụ - Đại sứ quán Cộng hoà Pháp tại Cộng hoà Dân chủ Đức, mà lãnh thổ Đông Berlin không thuộc về họ theo quan điểm phương Tây, mà là Đại sứ quán Cộng hoà Pháp tại Berlin.
  2. ^ "Germany, East." Funk & Wagnalls New Encyclopedia, 11. Funk & Wagnalls, Inc., 1990. ISBN 0-8343-0091-5
  3. ^ Theo Thoả thuận Quá cảnh Đức-Đức ngày 29 tháng 11 năm 1978 việc quá cảnh qua đường cao tốc F 5 bị thay thế bởi một autobahn mới nối Hamburg với Wittstock (A 24 ngày nay), từ đó sử dụng autobahn có sẵn giữa Berlin và Rostock (A 19 ngày nay). Chính phủ Liên bang Tây Đức đã trả DM 1.2 tỷ để cùng xây dựng những con đường đó. Đông Đức, vốn luôn thiếu ngoại tệ, đã thể hiện một số ý muốn hợp tác bất cứ khi nào phía tây có tham gia chi trả.
  4. ^ Đông Đức yêu cầu người Đông Đức và người Đông Berlin đầu tiên phải có một giấy phép của Đông Đức, trước khi ra khỏi biên giới. Tuy nhiên, các giấy phép thường bị từ chối, vì thế hầu hết mọi người phải tìm kiếm tự do bằng cách bỏ trốn - nếu họ dám đương đầu với nguy cơ bị bắn hay bị bắt bởi lính biên phòng Đông Đức và sau đó bị bỏ tù. Tội bỏ trốn đã bị quy định thành tội hình sự ở Đông như là Republikflucht.
  5. ^ Buß- und Bettag được tín đồ Tin lành thuộc các cơ cấu nhà thờ tại Đức thực hiện vào tháng 11 của thứ 4 cuối cùng trước Năm nghi thức Tin Lành (Thứ 6 đầu tiên của sự Giáng sinh).
  6. ^ The BVG (West) gave up those sections of its lines extending into East German territory, like the southern end of tram line 47 to Schönefeld, the southwestern end of tram line 96 to Kleinmachnow as well as two bus lines to Glienicke at the Nordbahn, north, and to Falkensee, northwest of West Berlin.
  7. ^ S-Bahns were checked at Hoppegarten, Mahlow and Zepernick on East German territory adjacent to East Berlin and in Hohen Neuendorf, Potsdam-Griebnitzsee and Staaken-Albrechtshof on East German territory adjacent to West Berlin. On June 4, 1954 the Bahnhof Hennigsdorf Süd was opened adjacent to West Berlin, an extra new station set aside solely for controls.
  8. ^ It took the BVG (West) until 1 November 1973 to employ the first female bus driver, by which time all tram lines had been closed down in West Berlin.
  9. ^ Homecomers were either German civilians, who had been deported into the Soviet Union from those territories it conquered, or former Wehrmacht soldiers and SS fighters, whom the Soviet Union caught as prisoners-of-war, and all of them from both groups had worked for many years as forced labourers in the Soviet Union, before they were finally allowed to leave.
  10. ^ Literally in tiếng Anh: Mark of the German Bank of Issue, which was then the name of the East German state bank.
  11. ^ Wissenswertes über Berlin: Nachschlagewerk für zuziehende Arbeitnehmer von A-Z (11968), Senator für Wirtschaft und Arbeit (ed.), Berlin (West): Senator für Wirtschaft und Arbeit, 121986, p. 117. No ISBN.
  12. ^ Từ năm 1951 tới năm 1961 tây Staaken là một khu vực chia tách của của Borough of Mitte khi ấy của Đông Berlin (nhỏ hơn Mitte borough mới được vẽ ra năm 2001). Sau đó tây Staaken trở thành một phần của Governorate of Potsdam của Đông Đức. Ngày 3 tháng 10 năm 1990, ngày Đức thống nhất tây Staaken được gộp vào trong Berlin thống nhất.